Thứ năm 23/04/2026 10:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Một số kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 được ban hành nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm triển khai thi hành, Luật đã đạt được nhiều kết quả tích cực, thể hiện ở việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, mở rộng phạm vi và phương thức tiếp cận thông tin, cũng như nâng cao hiệu quả công khai và cung cấp thông tin trên thực tiễn. Tuy nhiên, trước bối cảnh phát triển mới với yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, việc thực thi Luật bộc lộ một số hạn chế, bất cập cả về quy định pháp luật và tổ chức thực hiện. Trên cơ sở phân tích các kết quả đạt được, bối cảnh và những vấn đề đặt ra, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tiếp cận thông tin, qua đó bảo đảm thực hiện thực chất, hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới.

Từ khóa: Luật Tiếp cận thông tin; quyền tiếp cận thông tin; cung cấp thông tin; chuyển đổi số; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; hoàn thiện pháp luật.

Đặt vấn đề

Luật Tiếp cận thông tin là một trong những đạo luật được liệt kê tại danh mục kèm theo Nghị quyết số 718/NQ-UBTVQH13 ngày 02/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Kế hoạch tổ chức triển khai thi hành Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Việc ban hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 nhằm cụ thể hóa Điều 25 Hiến pháp năm 2013 về quyền tiếp cận thông tin của công dân. Sau gần tám năm triển khai thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước và bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân. Nghiên cứu phân tích, đánh giá những kết quả đạt được trong quá trình triển khai thi hành Luật; nhận diện bối cảnh, yêu cầu và những vấn đề đặt ra trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tiếp cận thông tin trong giai đoạn mới.

1. Những kết quả đạt được của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016

Sau 08 năm triển khai thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo những chuyển biến tích cực trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân ở Việt Nam. Các kết quả đạt được có thể được nhìn nhận trên hai phương diện cơ bản: (i) hoàn thiện khuôn khổ pháp lý bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân; (ii) kết quả thực hiện công khai thông tin, cung cấp thông tin theo yêu cầu và triển khai các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin trong thực tiễn. Cụ thể:

1.1. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý bảo đảm quyền tiếp cận thông tin

- Việc ban hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật đã hoàn thiện khuôn khổ pháp lý chung cho bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân tại Việt Nam. Nếu Điều 69 Hiến pháp năm 1992 quy định công dân có “quyền được thông tin” thì Điều 25 Hiến pháp năm 2013 quy định công dân có “quyền tiếp cận thông tin”, thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ về cách tiếp cận đối với quyền này: đây là quyền hiến định của công dân mà Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ, bảo đảm, không phải quyền được Nhà nước trao hoặc quyết định[1]. Theo đó, công dân chủ động tiếp cận thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra; Nhà nước có trách nhiệm xây dựng đầy đủ hành lang pháp lý để công dân thực hiện quyền. Trên cơ sở quy định và tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 được ban hành đã thể hiện những tư duy tiến bộ trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân. Theo đó, công dân tiếp cận thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra thông qua hai phương thức: (i) tự do tiếp cận thông tin được cơ quan nhà nước công khai; (ii) yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin.

Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định năm nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, gồm: (i) mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; (ii) thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ; việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; (iii) việc hạn chế quyền tiếp cận thông tin phải do luật định trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; (iv) việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức hoặc của người khác; (v) Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Những nguyên tắc này được thể hiện xuyên suốt trong các quy định của Luật và Nghị định số 13/2018/NĐ-CP ngày 23/01/2018 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin (Nghị định số 13/2018/NĐ-CP).

Luật cũng quy định rõ phạm vi thông tin công dân được tiếp cận, thông tin công dân không được tiếp cận, thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện (Điều 5, Điều 6 và Điều 7). Đồng thời, Luật quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân (Điều 9, Điều 33 và Điều 34)[2]. Đây là một trong ít luật quy định cụ thể về các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền. Ví dụ, các cơ quan có trách nhiệm bố trí cán bộ đầu mối cung cấp thông tin; bồi dưỡng nâng cao năng lực, chuyên môn, nghiệp vụ cho người được giao nhiệm vụ cung cấp thông tin; ban hành quy chế nội bộ về cung cấp thông tin; tổ chức vận hành cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử; xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu thông tin mà cơ quan có trách nhiệm cung cấp; tăng cường cung cấp thông tin thông qua hoạt động của người phát ngôn của cơ quan nhà nước và phương tiện thông tin đại chúng; củng cố, kiện toàn công tác văn thư, lưu trữ, thống kê; trang bị phương tiện kỹ thuật, công nghệ thông tin và điều kiện cần thiết khác để người yêu cầu có thể trực tiếp đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp tài liệu tại trụ sở cơ quan nhà nước và qua mạng điện tử… Những quy định này ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan trong thực hiện đồng bộ, toàn diện các biện pháp, giải pháp để bảo đảm thực hiện tốt quyền tiếp cận thông tin của công dân trên thực tế.

- Với vị trí, vai trò là đạo luật áp dụng chung việc tiếp cận thông tin của công dân (Điều 16), Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 góp phần thúc đẩy việc hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong các lĩnh vực chuyên ngành. Trên thực tế, nhiều đạo luật ban hành sau Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã hoàn thiện, bổ sung hoặc quy định cụ thể hơn việc công khai thông tin, cung cấp thông tin cho công dân trong từng lĩnh vực. Ví dụ, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 quy định trừ các thông tin thuộc bí mật nhà nước hoặc thông tin chưa được công khai theo quy định của pháp luật, chính quyền địa phương cấp xã phải công khai các nội dung tại Điều 11 của Luật này; Luật Lưu trữ năm 2024 quy định về tiếp cận thông tin trong tài liệu lưu trữ; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tiếp cận và sử dụng thông tin trong tài liệu lưu trữ (Điều 25, Điều 26); Luật Đất đai năm 2024 quy định quyền tiếp cận thông tin đất đai, việc tiếp cận thông tin đất đai thực hiện theo quy định của Luật này, pháp luật về tiếp cận thông tin và quy định khác của pháp luật có liên quan (Điều 24)…; Luật Dữ liệu năm 2024 quy định dữ liệu được công khai, công khai có điều kiện, không được công khai phải căn cứ vào thông tin được dữ liệu phản ánh theo quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin (khoản 2 Điều 21).

Bên cạnh đó, tiêu chí về tiếp cận thông tin là một trong những tiêu chí đánh giá, công nhận xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo quy định của Quyết định số 25/2021/QĐ-TTg ngày 22/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (thay thế bởi Quyết định số 27/2025/QĐ-TTg ngày 04/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định về xã, phường, đặc khu đạt chuẩn tiếp cận pháp luật), góp phần tăng cường việc tiếp cận pháp luật và bảo đảm dân chủ ở cơ sở.

1.2. Kết quả thực thi quyền tiếp cận thông tin trên thực tiễn

Thứ nhất, về chủ thể thực hiện quyền tiếp cận thông tin.

Điều 4 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định công dân thực hiện quyền tiếp cận thông tin theo quy định của Luật này; người mất năng lực hành vi dân sự thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin thông qua người đại diện theo pháp luật; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin thông qua người giám hộ; người dưới 18 tuổi yêu cầu cung cấp thông tin thông qua người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp luật về trẻ em và luật khác có quy định khác. Trên thực tế, các cơ quan đã giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin của công dân theo quy định, bảo đảm nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin.

Bên cạnh đó, căn cứ Điều 36 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Nghị định số 13/2018/NĐ-CP, một số cơ quan, địa phương đã cung cấp thông tin theo yêu cầu thông qua tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp và cung cấp thông tin cho người nước ngoài cư trú tại Việt Nam. Ví dụ, thành phố Cần Thơ đã cung cấp thông tin theo yêu cầu cho công dân thông qua tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp đối với 540 trường hợp[3]; tỉnh Đắk Lắk có 13 trường hợp người nước ngoài cư trú ở Việt Nam yêu cầu cung cấp thông tin[4].

Thứ hai, về phạm vi và trách nhiệm cung cấp thông tin.

Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định các cơ quan nhà nước thực hiện cung cấp thông tin do mình tạo ra, trừ trường hợp thông tin công dân không được tiếp cận; đối với trường hợp thông tin được tiếp cận có điều kiện thì các cơ quan nhà nước cung cấp thông tin khi có đủ điều kiện theo quy định. Riêng đối với Ủy ban nhân dân cấp xã, phạm vi thông tin cung cấp gồm thông tin do mình tạo ra và thông tin do mình nhận được để trực tiếp thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Việc xác định cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin được thực hiện theo khoản 2 Điều 9 của Luật. Theo đó, về nguyên tắc, các cơ quan nhà nước trực tiếp tổ chức thực hiện việc cung cấp thông tin, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật thì các cơ quan này có đơn vị hoặc tổ chức giúp thực hiện việc cung cấp thông tin. Ví dụ, Văn phòng Quốc hội có trách nhiệm cung cấp thông tin do Quốc hội, cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử quốc gia tạo ra và thông tin do mình tạo ra; Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm cung cấp thông tin do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tạo ra và thông tin do mình tạo ra…

Thứ ba, về công khai thông tin.

Các cơ quan nhà nước đã tăng cường công khai thông tin theo quy định tại Điều 17 của Luật với nội dung, hình thức ngày càng đa dạng, lượng thông tin được công khai ngày càng tăng và rộng khắp. Các loại thông tin thường xuyên được công khai gồm: văn bản quy phạm pháp luật; văn bản hành chính có giá trị áp dụng chung; thông tin phổ biến, hướng dẫn thực hiện pháp luật; thông tin về chế độ, chính sách; chiến lược, chương trình, dự án, đề án, kế hoạch, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; thông tin về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có tác động đến sức khỏe, môi trường…

Tùy vào tình hình thực tiễn, các cơ quan cũng chủ động công khai các thông tin cần thiết và liên quan mật thiết đến đời sống, sản xuất, kinh doanh của tổ chức, cá nhân, nhất là trong những tình huống cấp bách. Ví dụ, trong giai đoạn cả nước bùng phát đại dịch COVID-19, các thông tin về tình hình dịch bệnh và các biện pháp phòng, chống dịch đã được các cơ quan từ trung ương đến địa phương cập nhật thường xuyên, giúp người dân thuận tiện theo dõi và kịp thời thực hiện các biện pháp ứng phó. Bên cạnh những thông tin bắt buộc phải công khai, nhiều cơ quan cũng chủ động công khai một số thông tin liên quan đến phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, nhất là thông tin chính thống liên quan đến các vụ việc được dư luận xã hội quan tâm hoặc các vấn đề có đối tượng chịu tác động lớn (thông tin về quy hoạch, giải phóng mặt bằng; vệ sinh, an toàn thực phẩm; các vụ án tham nhũng, tiêu cực…).

Việc công khai thông tin được thực hiện thông qua nhiều hình thức, như đăng tải trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử và trên các phương tiện thông tin đại chúng; niêm yết tại trụ sở cơ quan; đăng Công báo; thông qua tiếp công dân, họp báo, thông cáo báo chí, hoạt động của người phát ngôn… Với việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhiều cơ quan thực hiện công khai thông tin trên các mạng xã hội hoặc các ứng dụng chính thức, tạo thuận lợi để người dân tiếp cận thông tin nhanh chóng, kịp thời. Ví dụ, trang Thông tin Chính phủ trên ứng dụng Facebook, app iHanoi của thành phố Hà Nội… Trên thực tế, các cơ quan chủ động đẩy mạnh công khai thông tin đã góp phần đáp ứng cơ bản nhu cầu thông tin của công dân, từ đó, giảm các trường hợp công dân cần thực hiện thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí.

Thứ tư, về cung cấp thông tin theo yêu cầu.

Căn cứ các quy định về hình thức, trình tự, thủ tục cung cấp thông tin theo yêu cầu (tại Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Nghị định số 13/2018/NĐ-CP), các cơ quan nhà nước đã tiếp nhận và giải quyết số lượng lớn yêu cầu cung cấp thông tin của công dân. Ví dụ, tại tỉnh Lạng Sơn, trong thời gian từ 01/7/2018 đến ngày 30/6/2025, số lượt yêu cầu cung cấp thông tin nhận được là 752.336 lượt; số lượng yêu cầu cung cấp thông tin được giải quyết theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là 698.142 yêu cầu; số lượng yêu cầu cung cấp thông tin được giải quyết theo pháp luật chuyên ngành là 53.723 yêu cầu; số lượng yêu cầu bị từ chối cung cấp thông tin là 471 yêu cầu[5]. Các lĩnh vực nhận được nhiều yêu cầu cung cấp thông tin của công dân là đất đai, giáo dục, y tế, xây dựng, tài nguyên, môi trường, chế độ chính sách, tư pháp - hộ tịch, đầu tư, kinh doanh… Bên cạnh việc giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, các cơ quan cũng thực hiện việc cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật chuyên ngành (như pháp luật về giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, báo chí, tiếp công dân, tiếp xúc và trả lời kiến nghị cử tri…).

Việc kiểm tra và bảo đảm tính bí mật của thông tin trước khi cung cấp là một bước quan trọng, giúp bảo đảm không cung cấp các thông tin thuộc trường hợp công dân không được tiếp cận (nhất là các thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác). Trường hợp từ chối yêu cầu cung cấp thông tin thì các cơ quan nêu rõ lý do (tại văn bản từ chối yêu cầu cung cấp thông tin). Trên thực tế, một số lý do chủ yếu của việc từ chối cung cấp thông tin là thông tin được yêu cầu cung cấp không thuộc trách nhiệm cung cấp; thông tin được yêu cầu cung cấp thuộc trường hợp thông tin không được tiếp cận; thông tin được yêu cầu cung cấp không được cá nhân đồng ý đối với thông tin được tiếp cận có điều kiện.

Thứ năm, về các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin.

Phần lớn các cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin đã ban hành quy chế nội bộ về tổ chức cung cấp thông tin; bố trí người làm đầu mối cung cấp thông tin theo quy định. Tuy nhiên, cán bộ đầu mối chủ yếu hoạt động kiêm nhiệm. Để nâng cao chất lượng hoạt động cung cấp thông tin, có cơ quan xác định rõ yêu cầu chuyên môn đối với cán bộ đầu mối. Ví dụ, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội yêu cầu các cơ quan, đơn vị thực hiện bố trí cán bộ đầu mối chuyên trách, có năng lực, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin tốt để thực hiện công tác cung cấp thông tin[6].

Các cơ quan cũng tăng cường cung cấp thông tin thông qua hoạt động của người phát ngôn của cơ quan nhà nước và phương tiện thông tin đại chúng. Thông tin được cập nhật thường xuyên, nội dung thông tin bám sát định hướng tuyên truyền của Đảng và Nhà nước, phản ánh kịp thời tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao; các văn bản chỉ đạo điều hành của trung ương và địa phương; các sự kiện, hoạt động nổi bật của cơ quan, đơn vị, địa phương… Nhiều cơ quan đã tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, phát huy vai trò của cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử và mạng xã hội để tăng cường công khai thông tin kịp thời. Công tác số hóa các văn bản, hồ sơ, tài liệu và kết nối với cơ sở dữ liệu đang được các cơ quan đẩy mạnh thực hiện, giúp người dân truy cập, tiếp cận thông tin dễ dàng, nhanh chóng.

Các cơ quan từng bước thực hiện các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin, phù hợp với khả năng tiếp cận của họ. Ví dụ, thiết lập chuyên mục hỗ trợ người khuyết tật trên cổng/trang thông tin điện tử, trong đó, cài đặt phần mềm đọc các tin, bài, các chính sách pháp luật về người khuyết tật, giúp đỡ người khiếm thị có cơ hội tiếp cận thông tin; bố trí các thiết bị nghe - nhìn, thiết bị phụ trợ khác phù hợp với điều kiện của từng cơ quan, đơn vị… Tại khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, các địa phương thực hiện cung cấp thông tin cho người dân bằng nhiều hình thức phù hợp với điều kiện thực tế. Ví dụ, thông qua hệ thống phát thanh, truyền hình và các hệ thống truyền phát tin khác; các chương trình phát thanh, truyền hình tiếng dân tộc; xây dựng tài liệu, chuyên đề, tờ rơi, tờ gấp, ấn phẩm bằng tiếng dân tộc; tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, sinh hoạt cộng đồng để chia sẻ thông tin cho người dân…

Nhìn chung, việc tổ chức triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin thời gian qua đã tạo những chuyển biến tích cực về nhận thức của các cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin và người dân trong việc bảo vệ, bảo đảm và thực thi quyền tiếp cận thông tin ở nước ta. Việc công khai thông tin được thực hiện thường xuyên và kịp thời, đáp ứng cơ bản nhu cầu thông tin của người dân, tổ chức, doanh nghiệp. Công tác cung cấp thông tin theo yêu cầu của công dân từng bước đi vào nền nếp. Việc bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện cung cấp thông tin cho người dân cũng được các cơ quan ngày càng quan tâm, đặc biệt gắn với quá trình ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Những kết quả này góp phần quan trọng vào tăng cường tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước, phát huy dân chủ, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, tạo điều kiện để người dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội.

1.3. Nguyên nhân tác động đến kết quả thi hành

Để đạt được những kết quả tích cực nêu trên, một số nguyên nhân chính là:

Thứ nhất, nhận thức của người dân về quyền tiếp cận thông tin và nhận thức của các cơ quan về trách nhiệm cung cấp thông tin được nâng cao. Công dân ngày càng chủ động trong việc tiếp cận thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra, các cơ quan cũng chủ động công khai thông tin, kịp thời giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin của công dân theo quy định khi được yêu cầu.

Thứ hai, công tác tổ chức triển khai thi hành Luật được thực hiện bài bản, thường xuyên. Các cơ quan tập trung tuyên truyền, phổ biến, quán triệt việc triển khai thi hành Luật. Hằng năm, Bộ Tư pháp tổ chức tập huấn kỹ năng cần thiết cho các đơn vị, cán bộ đầu mối cung cấp thông tin về quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. Việc thực hiện các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước liên quan đến mở rộng quyền làm chủ của Nhân dân, tăng cường trách nhiệm giải trình, phòng chống tham nhũng, tiêu cực cũng góp phần thúc đẩy các cơ quan tăng cường quán triệt, chỉ đạo thực hiện các biện pháp, giải pháp bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân.

Thứ ba, việc triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 diễn ra đồng thời với quá trình cải cách hành chính, cải cách tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số. Các kết quả đạt được trong việc số hóa tài liệu, xây dựng các cơ sở dữ liệu, vận hành các cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử… đã góp phần đa dạng hóa các hình thức công khai và cung cấp thông tin cho công dân.

2. Bối cảnh, yêu cầu và những vấn đề đặt ra trong việc hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin

Bối cảnh chính trị, pháp lý và thực tiễn hiện nay đặt ra những yêu cầu hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin và tăng cường các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân. Cụ thể:

Thứ nhất, về chính trị, Đảng và Nhà nước ban hành các chủ trương, đường lối mới liên quan đến bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân.

Thời gian qua, Đảng có nhiều chủ trương, đường lối liên quan đến việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, nâng cao tính công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động cung cấp thông tin. Ví dụ, Nghị quyết số 27-TW/NQ ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới xác định nhiệm vụ: “Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa kịp thời, đầy đủ quan điểm, chủ trương của Đảng và quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; nội luật hóa các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia; xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Thực hiện tốt nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm; quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân, việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia yêu cầu: “Hoàn thành xây dựng, kết nối, chia sẻ đồng bộ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu các ngành; khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên số, dữ liệu số… Phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số, công nghiệp văn hoá số đạt mức cao của thế giới”. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân yêu cầu: “công khai, minh bạch và chủ động cung cấp thông tin tới doanh nghiệp”, “hoàn thiện hệ thống pháp luật, xoá bỏ các rào cản tiếp cận thị trường đảm bảo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, rõ ràng, nhất quán, ổn định lâu dài, dễ tuân thủ, chi phí thấp”.

Ngày 26/10/2025, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 53-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động công vụ, trong đó yêu cầu: “Hoàn thiện pháp luật về tư pháp, khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân, đất đai, quy hoạch, môi trường, đầu tư, xây dựng, quản lý, sử dụng tài sản công, tài chính công, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin…; trách nhiệm giải trình của các cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quan trong hoạt động công vụ”. Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng yêu cầu xây dựng cơ chế, chính sách để thực hiện hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”[7]. Việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin là một trong những cơ chế quan trọng để thực hiện phương châm “dân biết”.

Những chủ trương, đường lối này đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thi hành các quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 để thể chế hóa đầy đủ, bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân trên thực tế.

Thứ hai, về pháp lý, những thay đổi của hệ thống pháp luật và yêu cầu bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của pháp luật về tiếp cận thông tin.

Ngày 16/6/2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 203/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tạo cơ sở pháp lý để tổ chức chính quyền địa phương hai cấp. Theo đó, các quy định về trách nhiệm của các cơ quan cung cấp thông tin trong Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cần sửa đổi, bổ sung để phù hợp với mô hình tổ chức sau sắp xếp và đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền.

Bên cạnh đó, thời gian qua, Quốc hội đã ban hành, sửa đổi, bổ sung nhiều luật theo hướng mở rộng dân chủ, tăng cường công khai, minh bạch thông tin, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tiếp cận thông tin trong các lĩnh vực, đồng thời, một số luật cũng chú trọng bảo vệ bí mật nhà nước, an ninh mạng, dữ liệu cá nhân[8]. Do đó, các quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cần được rà soát, đánh giá tính thống nhất, đồng bộ với quy định của các luật có liên quan.

Ngoài ra, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu về đổi mới tư duy lập pháp: “bên cạnh một số bộ luật, luật quy định về quyền con người, quyền công dân, tố tụng tư pháp cần cụ thể, về cơ bản các luật khác, nhất là luật điều chỉnh các nội dung về kiến tạo phát triển chỉ quy định những vấn đề khung, những vấn đề có tính nguyên tắc thuộc thẩm quyền của Quốc hội, những vấn đề thực tiễn thường xuyên biến động giao Chính phủ, Bộ, ngành, địa phương quy định để bảo đảm linh hoạt, phù hợp với thực tiễn”. Thực tiễn hiện nay, một số quy định của Luật khá chi tiết, ví dụ: các quy định về trình tự, thủ tục cung cấp thông tin theo yêu cầu; các quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin… Do đó, quá trình nghiên cứu, hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cần bám sát yêu cầu đổi mới tư duy lập pháp nêu trên.

Thứ ba, về thực tiễn, quá trình triển khai thi hành Luật cho thấy một số hạn chế, bất cập trong quy định của Luật và trong tổ chức thi hành. Cụ thể:

- Về quy định của Luật, một số quy định còn mang tính khái quát, chưa rõ ràng, gây khó khăn trong quá trình áp dụng. Ví dụ: quy định tại khoản 2 Điều 6 của Luật về “thông tin mà nếu để tiếp cận sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh quốc gia, quan hệ quốc tế, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; gây nguy hại đến tính mạng, cuộc sống hoặc tài sản của người khác”, trong quá trình triển khai, các cơ quan còn lúng túng trong việc xác định tính “gây nguy hại”, “ảnh hưởng xấu” đến các lợi ích (lợi ích của Nhà nước) hoặc yếu tố (quốc phòng, an ninh quốc gia, quan hệ quốc tế…).

Bên cạnh đó, việc xác định phạm vi thông tin công dân được tiếp cận, thông tin công dân không được tiếp cận và thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện còn khó khăn có cách hiểu và vận dụng chưa thống nhất. Trình tự, thủ tục cung cấp thông tin theo yêu cầu của công dân còn phức tạp, chưa đáp ứng yêu cầu đơn giản hóa thủ tục hành chính, nhất là trong điều kiện ứng dụng khoa học công nghệ và yêu cầu xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số hiện nay.

- Về công tác tổ chức thi hành Luật, thực tiễn cho thấy, một số cơ quan, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức đến việc triển khai và bảo đảm các điều kiện thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân. Nguồn lực dành cho công tác tiếp cận thông tin còn hạn chế, nhất là ở vùng kinh tế - xã hội khó khăn. Cán bộ được giao làm đầu mối cung cấp thông tin chưa được tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu về hoạt động cung cấp thông tin. Việc phân loại, lưu trữ và cập nhật thông tin chưa thực sự khoa học, dẫn đến việc tra cứu, cung cấp thông tin đôi khi còn chậm. Một số người dân chưa nhận thức đầy đủ về quyền tiếp cận thông tin. Bên cạnh đó, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin của một bộ phận người dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Trước bối cảnh, yêu cầu nêu trên và để bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân được hiệu quả, thực chất, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là cần thiết, đồng thời, cần có các giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức thi hành pháp luật về tiếp cận thông tin. Cụ thể:

3.1. Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin

Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung toàn diện nhằm: (i) tiếp tục thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng về phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân dân, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân; tăng cường trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan, đơn vị, góp phần phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; (ii) giải quyết các hạn chế, khó khăn, vướng mắc có nguyên nhân từ quy định của Luật; (iii) sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân, có các chính sách, biện pháp bảo đảm thực hiện quyền khả thi và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam; (iv) bảo đảm tính tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên; tính thống nhất, đồng bộ với các luật, nghị quyết có liên quan, nhất là các luật, nghị quyết mới được Quốc hội ban hành trong thời gian qua; (v) đổi mới tư duy lập pháp và bảo đảm tính khả thi trong các quy định của Luật. Một số vấn đề chính cần rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung. Cụ thể:

- Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến các cơ quan nhà nước phù hợp với mô hình tổ chức sau sắp xếp; điều chỉnh phạm vi thông tin mà Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm cung cấp theo hướng Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ có trách nhiệm cung cấp thông tin do mình tạo ra (tương tự như các cơ quan khác) để nhất quán với nguyên tắc cơ quan tạo ra thông tin là cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin.

- Xác định rõ phạm vi thông tin công dân được tiếp cận, thông tin công dân không được tiếp cận và thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện; trong đó, cần rà soát để bảo đảm thống nhất, đồng bộ với các luật có liên quan (pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, dữ liệu cá nhân…), bảo đảm hài hòa lợi ích của nhà nước, lợi ích cộng đồng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân với quyền tiếp cận thông tin của công dân.

- Tiếp tục mở rộng thông tin công dân được tiếp cận, nhất là những thông tin bắt buộc phải công khai trong các lĩnh vực (như y tế, giáo dục, văn hóa, an toàn thực phẩm, môi trường…), tăng cường trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc chủ động công khai thông tin dưới nhiều hình thức, tạo thuận lợi cho người dân tiếp cận thông tin chính thức của các cơ quan nhà nước nhanh chóng, thuận lợi, tiết kiệm chi phí, thời gian.

- Nghiên cứu bổ sung quy định mang tính nguyên tắc về việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, tăng cường cung cấp thông tin trên môi trường số. Đồng thời, nghiên cứu rút ngắn thời gian, đơn giản hóa thủ tục và biểu mẫu cung cấp thông tin; bổ sung các hình thức cung cấp thông tin mới (qua cổng dữ liệu, Cổng dịch vụ công quốc gia, ứng dụng di động hoặc các nền tảng số khác do cơ quan có thẩm quyền công bố).

- Về kỹ thuật lập pháp, cần quy định khái quát trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân; không quy định cụ thể trình tự, thủ tục cung cấp thông tin, giao Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục và các mẫu phiếu áp dụng trong cung cấp thông tin.

3.2. Nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tiếp cận thông tin

Thứ nhất, đối với Bộ Tư pháp. Cần chủ trì xây dựng, tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành Luật Tiếp cận thông tin sửa đổi. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền về Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành; tăng cường tổ chức tập huấn tới các đơn vị, cán bộ đầu mối cung cấp thông tin của các cơ quan, đơn vị, địa phương; kịp thời hướng dẫn theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành Luật.

Thứ hai, đối với các cơ quan, bộ, ngành, địa phương. Cần tiếp tục quán triệt sâu sắc tầm quan trọng của quyền tiếp cận thông tin của công dân và quan tâm đầu tư nguồn lực và các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân; bố trí và nâng cao trình độ của cán bộ đầu mối cung cấp thông tin đủ năng lực, trình độ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đặc biệt, các địa phương cần có các biện pháp hỗ trợ tạo điều kiện để đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa các hình thức cung cấp thông tin; đẩy mạnh công tác số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, kết nối liên thông với các hệ thống thông tin để việc tra cứu, cung cấp thông tin được nhanh chóng, chính xác, giảm thời gian, chi phí cho người dân. Các cơ quan có thẩm quyền cần tăng cường giám sát, kiểm tra việc thực hiện Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước theo quy định.

Kết luận

Việc thực hiện Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 thời gian qua đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân và thực hiện các cam kết quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên. Những kết quả đạt được trong công tác công khai thông tin và cung cấp thông tin theo yêu cầu đã đáp ứng cơ bản nhu cầu thông tin của công dân. Tuy nhiên, Trước bối cảnh và yêu cầu mới, việc hoàn thiện pháp luật và tăng cường bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin là rất cần thiết, gắn chặt với quá trình bảo đảm quyền con người, quyền công dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới./.

ThS. Đỗ Thị Huệ

Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp

[*] Sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025

[1]. PGS. TS. Hoàng Thế Liên (chủ biên) (2015), Hiến pháp năm 2013 - Những điểm mới mang tính đột phá, Nxb. Tư pháp; TS. Nguyễn Thị Kim Thoa, Những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 liên quan đến vấn đề quyền công dân, quyền con người và kế hoạch triển khai thi hành Hiến pháp, https://hoptacquocte.moj.gov.vn/qt/tintuc/Lists/NghienCuuTraoDoi/Attachments/43/Nhung%20diem%20moi%20cua%20Hien%20phap%202013%20lien%20quan%20den%20quyen%20cong%20dan.pdf, truy cập ngày 02/4/2026.

[2]. Bộ Tư pháp (2017), Tài liệu tập huấn chuyên sâu về nội dung của Luật Tiếp cận thông tin, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

[3]. Báo cáo số 57/BC-UBND ngày 28/8/2025 của Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ về tổng kết việc thi hành Luật Tiếp cận thông tin (từ ngày 01/7/2018 đến ngày 30/6/2025).

[4]. Báo cáo số 77/BC-UBND ngày 03/9/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk về tổng kết việc thi hành Luật Tiếp cận thông tin (từ ngày 01/7/2018 đến ngày 30/6/2025).

[5]. Báo cáo số 543/BC-UBND ngày 03/9/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn về tổng kết việc thi hành Luật Tiếp cận thông tin (từ ngày 01/7/2018 đến ngày 30/6/2025).

[6]. Văn bản số 214/UBND-NC ngày 20/01/2025 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin.

[7]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2026.

[8]. Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Luật Lưu trữ năm 2024, Luật Dữ liệu năm 2024, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, Luật Đất đai năm 2024, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018…

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2026.

2. Bộ Tư pháp (2017), Tài liệu tập huấn chuyên sâu về nội dung của Luật Tiếp cận thông tin, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

3. PGS. TS. Hoàng Thế Liên (chủ biên) (2015), Hiến pháp năm 2013 - Những điểm mới mang tính đột phá, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

4. TS. Nguyễn Thị Kim Thoa, Những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 liên quan đến vấn đề quyền công dân, quyền con người và kế hoạch triển khai thi hành Hiến pháp, https://hoptacquocte.moj.gov.vn/qt/tintuc/Lists/NghienCuuTraoDoi/Attachments/43/Nhung%20diem%20moi%20cua%20Hien%20phap%202013%20lien%20quan%20den%20quyen%20cong%20dan.pdf, truy cập ngày 02/4/2026.

(Nguồn: Ấn phẩm 200 trang “Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới” xuất bản năm 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.
Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Chế định cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp là cơ chế pháp lý quan trọng để bảo đảm thực thi quyền tiếp cận thông tin. Nghiên cứu phân tích nội dung chế định này theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, chỉ ra một số hạn chế trong quá trình triển khai thi hành, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Thụy Điển và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định trong dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) ở Việt Nam.
Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin, đặc biệt là thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ trở thành chuẩn mực quan trọng của quản trị dân chủ và Nhà nước pháp quyền trên thế giới. Nội dung và cũng là yêu cầu cốt lõi trong bảo đảm quyền này là cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, bên cạnh nghĩa vụ chủ động công bố thông tin của các cơ quan công quyền. Nghiên cứu phân tích quy định về cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới và theo Luật mẫu của ARTICLE 19, làm rõ những ưu điểm về bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cơ chế cung cấp thông tin hiệu quả theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp không chỉ gồm quy định về chủ thể có quyền và trách nhiệm, mà còn gắn với các yếu tố như cơ chế giám sát độc lập, chuẩn hóa quy trình xử lý yêu cầu và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, cung cấp thông tin. Trên cơ sở đó, nghiên cứu, đề xuất Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc một số kinh nghiệm có giá trị trong việc hoàn thiện khung pháp luật về cung cấp thông tin theo yêu cầu, đặc biệt, trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, thúc đẩy quản trị minh bạch và phát triển Chính phủ số.
Đại biểu Quốc hội: Tăng lương ở mức nào vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách?

Đại biểu Quốc hội: Tăng lương ở mức nào vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách?

Tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 21/4, Quốc hội thảo luận tại hội trường, về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2025; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2026. Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành Phiên họp.
Đề xuất thực hiện thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ và 10 địa phương

Đề xuất thực hiện thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ và 10 địa phương

Việc thực hiện thí điểm tại 8 bộ và 10 địa phương. Thời gian thí điểm là từ ngày 01/10/2026 đến hết ngày 30/9/2028, có cơ chế xử lý chuyển tiếp đối với các vụ, việc đang thực hiện.
Quốc hội tiếp tục xem xét Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam

Quốc hội tiếp tục xem xét Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam

Tiếp tục Chương trình làm việc tại Phiên họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng ngày 20/4, Quốc hội đã nghe Tờ trình và Báo cáo Thẩm tra dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, nhằm thể chế hóa những định hướng của Đảng trong Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa của đất nước. Phiên họp diễn ra dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Đánh giá, xếp loại chất lượng đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức gắn với chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch công tác và kết quả thực hiện

Đánh giá, xếp loại chất lượng đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức gắn với chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch công tác và kết quả thực hiện

Chiều ngày 20/4/2026, đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định hồ sơ dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định khung tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng đối với đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức (dự thảo Nghị định). Tham dự cuộc họp có sự tham gia của đại diện Bộ Nội vụ; Bộ Công an; Bộ Quốc phòng; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Tài chính; Bộ Ngoại giao; Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nôi;… và đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Thực hiện Quyết định số 304/QĐ-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Viên chức, Bộ Nội vụ đang chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng dự thảo Nghị định quy định về xử lý kỷ luật viên chức (dự thảo Nghị định) theo trình tự, thủ tục rút gọn quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 để thay thế các quy định về xử lý kỷ luật viên chức tại Nghị định số 112/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 71/2023/NĐ-CP.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Tín ngưỡng và tôn giáo là yếu tố cấu thành cơ bản trong đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi cá nhân, gồm các lễ nghi truyền thống và tập tục. Từ góc độ pháp lý, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận là quyền cơ bản của con người được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của các quốc gia. Bài viết nghiên cứu, phân tích, so sánh khung pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một số quốc gia trong hệ thống dân luật và cách thức quản trị sự đa dạng tôn giáo của các quốc gia này. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và quản lý hoạt động của các tôn giáo tại Việt Nam nhằm hài hòa và thúc đẩy công bằng xã hội.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.

Theo dõi chúng tôi trên: