Thứ hai 20/04/2026 10:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Thực hiện Quyết định số 304/QĐ-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Viên chức, Bộ Nội vụ đang chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng dự thảo Nghị định quy định về xử lý kỷ luật viên chức (dự thảo Nghị định) theo trình tự, thủ tục rút gọn quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 để thay thế các quy định về xử lý kỷ luật viên chức tại Nghị định số 112/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 71/2023/NĐ-CP.

Dự thảo Nghị định (ngày 14/4/2026)[1] gồm 05 chương và 27 điều với nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm thể chế hóa đầy đủ các quan điểm, chủ trương của Đảng, quy định của Luật Viên chức năm 2025; bảo đảm thống nhất thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh, cấp xã) theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025; kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong sử dụng và quản lý viên chức.

Không tách riêng từng hành vi vi phạm để thi hành các hình thức kỷ luật khác nhau, kỷ luật nhiều lần

Tại khoản 2 Điều 2 dự thảo Nghị định quy định: “Mỗi hành vi vi phạm chỉ bị xử lý một lần bằng một hình thức kỷ luật. Khi cùng một thời điểm xem xét kỷ luật nếu viên chức có từ hai hành vi vi phạm trở lên thì xem xét, kết luận từng hành vi vi phạm và quyết định chung bằng một hình thức kỷ luật cao nhất; không tách riêng từng hành vi vi phạm để thi hành các hình thức kỷ luật khác nhau và kỷ luật nhiều lần”. Quy định này nhằm bảo đảm phù hợp với Quy định số 69-QĐ/TW ngày 06/7/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm (Quy định số 69-QĐ/TW). Bên cạnh đó, góp phần bảo đảm nguyên tắc xử lý kỷ luật khách quan, toàn diện và nhất quán, tránh tình trạng áp dụng nhiều hình thức kỷ luật cho cùng một hành vi hoặc tách nhỏ vi phạm để xử lý nhiều lần, gây bất lợi đối với viên chức. Việc xem xét tổng thể các hành vi vi phạm và áp dụng một hình thức kỷ luật cao nhất không chỉ bảo đảm tính nghiêm minh mà còn phù hợp với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi vi phạm.

Gắn chặt giữa kỷ luật đảng với kỷ luật hành chính

Dự thảo Nghị định quy định rõ, viên chức bị xử lý kỷ luật về đảng thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày công bố quyết định kỷ luật về đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị phải kỷ luật hành chính trừ trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật quy định tại Điều 3 Nghị định này hoặc hết thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật hành chính. Hình thức kỷ luật hành chính phải bảo đảm tương xứng với kỷ luật về đảng.

Trường hợp bị xử lý về đảng bằng hình thức cao nhất liên quan đến hoạt động nghề nghiệp thì cơ quan tham mưu về tổ chức cán bộ báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật xem xét, quyết định xử lý kỷ luật hành chính bằng hình thức cao nhất nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 11 Nghị định này; nếu không thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định xử lý kỷ luật bằng hình thức cách chức đối với viên chức quản lý hoặc cảnh cáo đối với viên chức không giữ chức vụ quản lý.

Trường hợp còn có ý kiến khác nhau về việc xác định hình thức kỷ luật hành chính tương xứng với hình thức xử lý kỷ luật đảng thì cấp có thẩm quyền quyết định việc thành lập Hội đồng kỷ luật để tham mưu; tham khảo ý kiến bằng văn bản của tổ chức Đảng ra quyết định xử lý kỷ luật đảng viên trước khi quyết định.

Trường hợp có thay đổi về hình thức xử lý kỷ luật đảng thì phải thay đổi hình thức xử lý kỷ luật hành chính tương xứng. Thời gian đã thi hành quyết định xử lý kỷ luật cũ được trừ vào thời gian thi hành quyết định xử lý kỷ luật mới (nếu còn). Trường hợp cấp có thẩm quyền của Đảng quyết định xóa bỏ quyết định xử lý kỷ luật đảng thì cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật hành chính phải ban hành quyết định hủy bỏ quyết định xử lý kỷ luật hành chính.

Bỏ quy định chưa xem xét kỷ luật đối với viên chức đang nghỉ hàng năm, nghỉ theo chế độ, nghỉ việc riêng

Tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức (Nghị định số 112/2020/NĐ-CP) quy định: “cán bộ, công chức, viên chức đang trong thời gian nghỉ hàng năm, nghỉ theo chế độ, nghỉ việc riêng được cấp có thẩm quyền cho phép” - là một trong các trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật. Tuy nhiên, để thống nhất với quy định về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức[2], đồng thời tránh tình trạng viên chức lợi dụng các chế độ nghỉ hàng năm, nghỉ theo chế độ, nghỉ việc riêng nhằm kéo dài thời gian xử lý kỷ luật, Bộ Nội vụ đề xuất bãi bỏ quy định này.

Bên cạnh đó, bổ sung trường hợp chưa xem xét xử lý luật: khi viên chức là nam giới (trong trường hợp vợ chết hoặc vợ không thể nuôi con vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật về tình trạng khẩn cấp) đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người có hành vi vi phạm có văn bản để nghị xem xét xử lý kỷ luật. Quy định này thể hiện chính sách nhân văn, linh hoạt, phù hợp với thực tiễn và bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của viên chức.

Đình chỉ, tạm hoãn thi hành quyết định xử lý kỷ luật; hủy bỏ quyết định xử lý kỷ luật đối với các trường hợp đã có quyết định xử lý kỷ luật

Nhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Bộ Chính trị tại Kết luận số 182-KL/TW ngày 29/7/2025 và Kết luận số 218-KL/TW ngày 24/11/2025 của Bộ Chính trị, dự thảo Nghị định bổ sung khoản 5 Điều 4 về “đình chỉ, tạm hoãn thi hành quyết định xử lý kỷ luật; hủy bỏ quyết định xử lý kỷ luật đối với các trường hợp đã có quyết định xử lý kỷ luật” trong 02 trường hợp sau:

(i) Trường hợp đang thực hiện quy trình xử lý kỷ luật hoặc đang thi hành quyết định kỷ luật mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền về tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án, tạm hoãn phiên tòa hoặc hoãn chấp hành hình phạt tù thì cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật hành chính ban hành quyết định tạm hoãn thực hiện quy trình xử lý kỷ luật hoặc tạm hoãn thi hành quyết định xử lý kỷ luật theo quy định.

(ii) Trường hợp đã thi hành xong quyết định kỷ luật mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền về miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn kỷ luật thì cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật hành chính ban hành quyết định hủy bỏ quyết định xử lý kỷ luật hành chính đã thi hành và xóa hình thức kỷ luật ghi vào lý lịch của viên chức, trừ trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự nhưng cấp có thẩm quyền vẫn quyết định kỷ luật.

Bổ sung các hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật

Dự thảo Nghị định đã điều chỉnh theo hướng làm rõ và bao quát hơn các hành vi bị xử lý kỷ luật. Theo đó, viên chức sẽ bị xem xét kỷ luật nếu có hành vi vi phạm quy định của Đảng và pháp luật liên quan đến hoạt động nghề nghiệp; các quy định về nghĩa vụ của viên chức; những việc viên chức không được làm; vi phạm đạo đức nghề nghiệp, văn hóa giao tiếp ở công sở, giao tiếp với Nhân dân; vi phạm nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Việc bổ sung và cụ thể hóa các hành vi vi phạm góp phần định hướng rõ ràng hơn về chuẩn mực hành vi, đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp của viên chức trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Qua đó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý, giám sát và xử lý kỷ luật, góp phần xây dựng đội ngũ viên chức có kỷ luật, kỷ cương, chuyên nghiệp và đáp ứng yêu cầu phục vụ Nhân dân trong tình hình mới.

Áp dụng hình thức buộc thôi việc đối với viên chức tự ý bỏ việc không có lý do chính đáng

Điều 7 dự thảo Nghị định quy định 04 hình thức kỷ luật đối với viên chức, bao gồm: khiển trách; cảnh cáo; cách chức, áp dụng đối với viên chức quản lý và buộc thôi việc. Đối với hình thức buộc thôi việc, dự thảo Nghị định có nhiều quy định mới, cụ thể:

(i) Bổ sung khoản 3 Điều 7 về đương nhiên bị buộc thôi việc, theo đó, “viên chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị kết án về tội phạm tham nhũng thì đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật”.

(ii) Bổ sung khoản 2 Điều 11 trường hợp viên chức “có hành vi vi phạm lần đầu, gây hậu quả rất nghiêm trọng thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 8 hoặc khoản 3 Điều 9 Nghị định này nhưng người vi phạm không có thái độ tiếp thu, sửa chữa, chủ động khắc phục hậu quả và thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định này” sẽ bị áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc.

(iii) Để nâng cao tính kỷ luật, kỷ cương, ý thức, trách nhiệm của viên chức đối với công việc, đồng thời cụ thể hóa quy định của Bộ luật Lao động năm 2019, dự thảo Nghị định bổ sung khoản 4 Điều 11, theo đó viên chức “tự ý bỏ việc 05 ngày làm việc trở lên cộng dồn trong 30 ngày hoặc 20 ngày làm việc trở lên cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật có liên quan” sẽ bị áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc.

Những quy định nêu trên cho thấy, dự thảo Nghị định đã cụ thể hóa rõ hơn các trường hợp áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc, qua đó tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ, minh bạch trong quá trình xem xét, xử lý vi phạm của viên chức. Việc bổ sung các trường hợp đương nhiên bị buộc thôi việc, cũng như làm rõ tiêu chí về mức độ vi phạm và thái độ khắc phục hậu quả, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời hạn chế sự tùy nghi trong áp dụng kỷ luật.

Bên cạnh đó, các quy định mới cũng nhấn mạnh yêu cầu nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính của viên chức, đặc biệt trong việc tuân thủ thời gian làm việc và trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao. Qua đó, không chỉ tăng cường hiệu quả quản lý mà còn góp phần xây dựng đội ngũ viên chức có tinh thần trách nhiệm, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu của việc phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn mới.

Thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với viên chức

Dự thảo Nghị định quy định rõ về thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với viên chức tại Điều 12, cụ thể:

(i) Đối với viên chức quản lý, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền bổ nhiệm tiến hành xử lý kỷ luật và quyết định hình thức kỷ luật hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý đơn vị sự nghiệp công lập nếu được phân cấp.

(ii) Đối với viên chức không giữ chức vụ quản lý, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quản lý viên chức hoặc người đứng đầu đơn vị được phân cấp quản lý viên chức tiến hành xử lý kỷ luật và quyết định hình thức kỷ luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 16 Nghị định này. Trường hợp xử lý bằng hình thức buộc thôi việc thì người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập báo cáo cấp có thẩm quyền tuyển dụng trước khi ra quyết định, trừ trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền tuyển dụng hoặc được phân cấp thẩm quyền tuyển dụng.

Như vậy, thẩm quyền quyền xử lý kỷ luật đối với viên chức gắn liền với thẩm quyền quản lý, bổ nhiệm và phân cấp quản lý viên chức trong từng cơ quan, đơn vị. Điều này góp phần nâng cao trách nhiệm của các chủ thể trong công tác quản lý viên chức, bảo đảm việc xem xét, xử lý kỷ luật viên chức được thực hiện khách quan, minh bạch, đúng thẩm quyền và quy định pháp luật.

Bổ sung một số quy định liên quan đến việc tổ chức họp kiểm điểm viên chức

Dự thảo Nghị định bổ sung quy định những người “trong cùng vụ việc bị xem xét kỷ luật” không được chủ trì họp kiểm điểm; trường hợp này thì lãnh đạo cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng viên chức tổ chức họp kiểm điểm, quyết định thành phần dự họp và chủ trì cuộc họp (điểm b khoản 1 Điều 14). Việc bổ sung quy định này để tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện, bảo đảm khách quan, phù hợp với thực tiễn.

Bên cạnh đó, dự thảo Nghị định bổ sung trường hợp vẫn tiến hành họp kiểm điểm khi người có hành vi vi phạm “vắng mặt nhưng có văn bản đề nghị tổ chức cuộc họp thì cuộc họp kiểm điểm vẫn được tiến hành” bảo đảm tính chủ động, kịp thời, phù hợp với mong muốn của người có hành vi vi phạm.

Xin lỗi và phục hồi quyền lợi cho viên chức trong trường hợp viên chức bị kỷ luật oan

Đây là một trong những quy định mới được bổ sung tại Điều 22 của dự thảo Nghị định (khoản 5) bảo đảm thống nhất với Quy định số 69-QĐ/TW và Quy định số 117-QĐ/TW ngày 18/8/2023 của Bộ Chính trị về xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan, theo đó “trong thời hạn 90 ngày, tính từ ngày cấp có thẩm quyền có văn bản xác định viên chức bị kỷ luật oan thì người có thẩm quyền xử lý kỷ luật oan thực hiện xin lỗi và phục hồi quyền lợi”. Với quy định này trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền trong việc xử lý kỷ luật được đặt ra một cách rõ ràng và có thời hạn, qua đó góp phần bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong công tác quản lý viên chức. Đồng thời, việc ấn định thời hạn 90 ngày không chỉ nhằm khắc phục kịp thời những sai sót trong quá trình xử lý kỷ luật mà còn hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực đến danh dự, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp của viên chức bị kỷ luật oan.

Như vậy, có thể thấy, dự thảo Nghị định có nhiều điểm mới quan trọng theo hướng hoàn thiện khung pháp lý về xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm đồng bộ với các quy định của Đảng và pháp luật có liên quan, đồng thời khắc phục những bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành. Các quy định được sửa đổi, bổ sung không chỉ tăng cường tính chặt chẽ, khách quan, công bằng, nghiêm minh trong quá trình xem xét, xử lý kỷ luật viên chức mà còn đề cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Qua đó, góp phần xây dựng đội ngũ viên chức có phẩm chất, năng lực, ý thức kỷ luật, trách nhiệm cao trong công việc, đáp ứng yêu cầu phát triển nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, phục vụ Nhân dân./.

Ảnh minh họa (nguồn internet)


  1. Hồ sơ thẩm định dự thảo Nghị định về xử lý kỷ luật viên chức, https://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/chi-dao-dieu-hanh.aspx?ItemID=6121.

  2. Điều 3 Nghị định số 172/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức.

Quỳnh Vũ

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo vệ quyền của người dân trong thương mại hóa di sản văn hóa tại thành phố Huế - tiếp cận từ du lịch cộng đồng

Bảo vệ quyền của người dân trong thương mại hóa di sản văn hóa tại thành phố Huế - tiếp cận từ du lịch cộng đồng

Tóm tắt: Thành phố Huế được định hướng trở thành đô thị di sản; xu hướng thương mại hóa di sản văn hóa gắn với du lịch cộng đồng đặt ra yêu cầu cấp thiết bảo vệ quyền và lợi ích cư dân địa phương. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn bảo vệ quyền của cư dân trong hoạt động thương mại hóa di sản tại các mô hình du lịch cộng đồng ở thành phố Huế giai đoạn 2010 - 2025. Trên cơ sở tiếp cận quyền con người, nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh pháp luật và khai thác số liệu thứ cấp, chỉ ra nguy cơ biến dạng giá trị văn hóa, bất bình đẳng trong chia sẻ lợi ích, tác động đến không gian sống và sinh kế truyền thống, trong khi cơ chế tham gia, giám sát của cộng đồng còn hạn chế. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện chính sách và cơ chế bảo vệ quyền cư dân trong phát triển du lịch cộng đồng tại thành phố Huế.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền cơ bản được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Trong bối cảnh Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đang được sửa đổi, việc đánh giá hiệu quả bảo đảm quyền trở nên cần thiết. Bài viết tiếp cận theo hướng dựa trên quyền con người, phân tích nội dung quyền theo Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và pháp luật hiện hành, đồng thời, đánh giá thực tiễn thi hành giai đoạn 2018 - 2025. Nghiên cứu cho thấy, bên cạnh những tiến bộ, thành công, kết quả đạt được, còn tồn tại khoảng cách giữa ghi nhận và thụ hưởng quyền, thể hiện qua thủ tục hành chính, sự không đồng đều trong thực thi và khoảng trống pháp lý trong bối cảnh mới. Trên cơ sở đó, bài viết đánh giá dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và đề xuất hoàn thiện theo hướng tăng cường tính minh bạch, giảm điều kiện hóa quyền và nâng cao cơ chế bảo vệ quyền.
Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào DTTS, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách toàn diện, trong đó có trợ giúp pháp lý, thể hiện tính nhân văn và định hướng xã hội chủ nghĩa của hệ thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt, trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Từ khi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 được ban hành và có hiệu lực, đồng bào DTTS tại tỉnh Lạng Sơn có điều kiện tiếp cận và thụ hưởng ngày càng hiệu quả hơn dịch vụ pháp lý quan trọng này.
Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo tạo thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân

Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo tạo thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân

Trong bối cảnh mới, việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm bớt số lượng giấy tờ, rút ngắn thời gian xử lý và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết. Theo đó, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đã hoàn thiện một số quy định về thủ tục hành chính, tạo thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân khi thực hiện thủ tục hành chính về tín ngưỡng, tôn giáo.
Một số bất cập của pháp luật về trợ giúp pháp lý và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của pháp luật về trợ giúp pháp lý và kiến nghị hoàn thiện

Việc nghiên cứu, định hướng sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, trong đó có vấn đề chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý, lĩnh vực thực hiện trợ giúp pháp lý và người được trợ giúp pháp lý được xây dựng trên nền tảng pháp lý vững chắc, đồng thời, chịu sự tác động mạnh mẽ từ yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng của Việt Nam.
Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình

Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình

Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình, góp phần bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân.

Theo dõi chúng tôi trên: