1. Những kết quả công tác nổi bật của Bộ, Ngành Tư pháp trong 06 tháng đầu năm 2021
1.1. Công tác xây dựng pháp luật
Công tác xây dựng pháp luật tiếp tục được toàn Ngành coi là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Các bộ, ngành, địa phương đã kịp thời triển khai thực hiện các yêu cầu, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đối với công tác rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật. Bộ Tư pháp đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành trong việc lập đề nghị, trình Chính phủ thông qua để trình Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022, điều chỉnh chương trình năm 2021, trong đó, hồ sơ các đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được các bộ, ngành chuẩn bị đầy đủ, chất lượng hơn. Bộ Công an đã tích cực hoàn thiện, trình Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 11 đối với Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi). Sáu tháng đầu năm, các bộ, ngành đã xây dựng, trình ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền 357 văn bản quy phạm pháp luật (giảm 55 văn bản so với cùng kỳ 2020); các địa phương ban hành 1.300 văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh (tương đương cùng kỳ năm 2020), 545 văn bản quy phạm pháp luật cấp huyện (tăng 55% so với cùng kỳ năm 2020) và 870 văn bản quy phạm pháp luật cấp xã (giảm 27% so với cùng kỳ năm 2020).
Công tác thẩm định đề nghị xây dựng dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật tiếp tục được chú trọng, nâng cao về chất lượng và bảo đảm thời hạn theo quy định. Các báo cáo thẩm định của Bộ, Ngành Tư pháp được các cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật coi là kênh ý kiến quan trọng để quyết định ban hành văn bản. Sáu tháng đầu năm, Bộ Tư pháp đã tổ chức thẩm định 08 đề nghị xây dựng văn bản và 60 dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; Tổ chức Pháp chế các Bộ, cơ quan ngang Bộ thẩm định 320 dự thảo; các Sở Tư pháp thẩm định 108 đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân và 1.735 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; các Phòng Tư pháp thẩm định 593 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.
Đối với công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, các bộ, ngành, địa phương đã kiểm tra theo thẩm quyền 4.561 văn bản quy phạm pháp luật; qua kiểm tra, bước đầu phát hiện một số văn bản trái nội dung, thẩm quyền và bước đầu đã được xử lý. Trong đó, riêng tại Bộ Tư pháp đã kiểm tra theo thẩm quyền 1.126 văn bản; tương đương với 06 tháng đầu năm 2020 (gồm 91 văn bản của các bộ, cơ quan ngang bộ; 1.035 văn bản của địa phương).
Trong công tác rà soát văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp và các bộ, ngành đã tập trung nguồn lực tiếp tục thực hiện rà soát văn bản thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của các bộ, cơ quan ngang bộ theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành trong năm 2020 và Nghị quyết của Chính phủ, Công văn chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ ban hành trong năm 2021, chỉ đạo của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản quy phạm pháp luật. Trong sáu tháng đầu năm, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 889/QĐ-TTg ngày 07/6/2021 ban hành Danh mục văn bản quy phạm pháp luật cần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới, bao gồm: 16 luật, 12 nghị định, 04 văn bản do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành; hướng dẫn, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục triển khai thực hiện các nhiệm vụ rà soát hệ thống pháp luật, đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật gây khó khăn vướng mắc, ách tắc, cản trở hoạt động đầu tư, kinh doanh và đời sống xã hội; tổng hợp, phân loại các phản ánh, kiến nghị theo lĩnh vực quản lý nhà nước của các bộ, cơ quan ngang bộ về các quy định gây mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ, không còn phù hợp với thực tiễn trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và đề xuất, kiến nghị phương án xử lý, đồng thời, có văn bản chuyển các phản ánh, kiến nghị đó đến các bộ, cơ quan ngang bộ để nghiên cứu, báo cáo đúng thời hạn theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Bình Minh[1].
1.2. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật
- Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật: Bộ Tư pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2021/QĐ-TTg ngày 21/6/2021 quy định về thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật với nhiều nội dung mới quan trọng, tạo cơ sở đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của thiết chế này trong thời gian tới. Toàn Ngành tiếp tục đẩy mạnh việc tổ chức thực hiện Quyết định số 1521/QĐ-TTg ngày 06/10/2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Ban Bí thư về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân; thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật; Chương trình Phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2017 - 2021 và các kế hoạch, đề án phổ biến, giáo dục pháp luật khác[2]. Các mô hình mới, hiệu quả về phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác này tiếp tục được chú trọng, phát huy được hiệu quả trong bối cảnh cả nước đang thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, như: Tổ chức Cuộc thi trực tuyến tìm hiểu pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân[3]; tổ chức triển khai, phổ biến các văn bản pháp luật mới theo hình thức trực tuyến (Bộ Tư pháp, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bộ Quốc phòng, Bộ Xây dựng, TP. Hồ Chí Minh, Bến Tre, Đồng Nai, Kiên Giang, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh); tiếp tục thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật qua facebook, trang fanpage, youtube, zalo (Bộ Tư pháp, Bắc Giang…); mở/duy trì chuyên mục pháp luật trên Báo điện tử (Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tài chính); tiếp tục xây dựng, duy trì Cổng/Trang thông tin điện tử phổ biến, giáo dục pháp luật (hiện có 07 bộ, ngành[4] và 37 địa phương[5] đã và đang vận hành). Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã được các bộ, ngành, địa phương triển khai dưới nhiều hoạt động phong phú.
Sáu tháng đầu năm, các Bộ, ngành, địa phương đã tổ chức 465.655 cuộc tuyên truyền pháp luật (tăng 29% so với cùng kỳ năm 2020) cho gần 30,8 triệu lượt người; phát miễn phí gần 38 triệu tài liệu tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật (tăng hơn 9,2%)[6]. Bên cạnh đó, thực hiện nhiệm vụ xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, Sở Tư pháp các địa phương đã chủ động tham mưu đưa nội dung, nhiệm vụ xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trong các văn bản, kế hoạch công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2021. Qua báo cáo của địa phương về công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật năm 2020, đến nay có 88,18% đơn vị cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; một số địa phương có 100% đơn vị cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (Bà Rịa - Vũng Tàu, Đà Nẵng, Hà Nam).
- Công tác tổ chức thi hành pháp luật: Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký ban hành Thông tư số 04/2021/TT-BTP ngày 21/6/2021 hướng dẫn thi hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi thi hành pháp luật và Nghị định số 32/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2012/NĐ-CP. Các bộ, ngành, địa phương tiếp tục chủ động, bài bản hơn trong việc tổ chức triển khai thi hành các luật, nghị quyết do Quốc hội mới ban hành, trong đó tập trung vào việc ban hành/tham mưu ban hành và thực hiện kế hoạch triển khai; tổ chức phổ biến, quán triệt, tập huấn những nội dung cơ bản của luật; tập trung xây dựng các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Sáu tháng đầu năm, các bộ, cơ quan ngang bộ đã ban hành/trình ban hành được 43 văn bản (29 nghị định, 04 quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 10 thông tư) quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các luật, pháp lệnh.
Tiếp tục thực hiện hiệu quả “Đề án đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật” giai đoạn năm 2018 - 2022; các nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao tại Chỉ thị số 43/CT-TTg ngày 11/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật. Các bộ, ngành, địa phương đã tập trung vào việc tổ chức theo dõi thi hành pháp luật trong các lĩnh vực trọng tâm, liên ngành năm 2021 về quản lý, sử dụng đất đai, rừng; về bảo vệ môi trường; về phòng cháy và chữa cháy và nhiều chuyên đề khác[7] gắn với lĩnh vực quản lý của từng Bộ, ngành. Qua đó, kịp thời “phản ứng chính sách” đối với những vấn đề phát sinh trong thực tiễn, nhất là với những vấn đề liên quan trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp và phù hợp với bối cảnh phòng chống dịch bệnh.
Đối với việc thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao tại Nghị quyết số 02/NQ-CP liên quan đến cắt giảm chi phí tuân thủ pháp luật (Chỉ số B1), Bộ Tư pháp đã có văn bản hướng dẫn triển khai; tổ chức Tọa đàm trực tuyến về các giải pháp cắt giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho 25 Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam; phối hợp với dự án UNDP tổ chức Hội thảo “Các giải pháp cắt giảm chi phí tuân thủ pháp luật nhằm góp phần cải thiện năng lực cạnh tranh của Việt Nam” nhằm trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, khó khăn, vướng mắc và đề xuất các khuyến nghị khả thi từ các lĩnh vực khác nhau nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho doanh nghiệp, góp phần cải thiện điểm số, nâng cao thứ hạng Chỉ số B1 của Việt Nam. Các Bộ, ngành, địa phương cũng đã quan tâm chỉ đạo và triển khai các hoạt động nhằm cải thiện điểm số, tiếp tục nâng xếp hạng Chỉ số B1 năm 2021[8].
1.3. Công tác thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính
Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với Ban Nội chính Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng và các Bộ, ngành có liên quan trình Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 04-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế.
Sáu tháng đầu năm, công tác thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính, nhất là trong việc xử lý các vụ việc phức tạp, kéo dài, xử lý thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế và án tín dụng, ngân hàng tiếp tục được Lãnh đạo các cấp, các ngành liên quan quan tâm và tập trung chỉ đạo quyết liệt. Việc phối hợp với các ngành Nội chính, Tòa án, Kiểm sát, Công an, Ngân hàng, Bảo hiểm xã hội trong hoạt động thi hành án dân sự tiếp tục được thực hiện khá thuận lợi, góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thi hành án. Ban chỉ đạo thi hành án dân sự các cấp tiếp tục được rà soát, kiện toàn, góp phần giải quyết nhiều vụ việc phức tạp.
- Kết quả thi hành án dân sự 9 tháng đầu năm 2021 (từ ngày 01/10/2020 đến hết tháng 6/2021):
Về việc: Tổng số phải thi hành 760.078 việc, trong đó số có điều kiện thi hành là 587.089 việc. Đã thi hành xong là 375.338 việc, tăng 424 việc so với cùng kỳ năm 2020; đạt tỉ lệ 63,93% (tăng 1,16% so với cùng kỳ năm 2020). Một số địa phương đạt kết quả cao về việc (như: Quảng Ninh, Khánh Hòa, An Giang, Đồng Tháp).
Về tiền: Tổng số phải thi hành là hơn 280.774 tỷ đồng, trong đó, số có điều kiện thi hành là hơn 151.143 tỷ. Đã thi hành xong trên 35.235 tỷ đồng, giảm hơn 4.074 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2020; đạt tỉ lệ 23,31% (giảm 0,83% so với cùng kỳ năm 2020). Một số địa phương đạt kết quả cao về tiền (như: Bình Dương, Quảng Nam, An Giang).
Riêng về thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế: Tổng số phải thi hành 3.933 việc, với số tiền trên 70.011 tỷ đồng. Số có điều kiện là 2.963 việc, với số tiền trên 34.678 tỷ đồng. Đã thi hành xong 1.598 việc, với số tiền là trên 1.995 tỷ đồng.
- Kết quả theo dõi thi hành án hành chính: Sáu tháng đầu năm, Tòa án nhân dân các cấp đã chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự 1.419 bản án, quyết định về vụ án hành chính (tăng 51 bản án so với cùng kỳ năm 2020). Các cơ quan thi hành án đã thực hiện theo dõi 738 vụ việc, trong đó có 467 việc kỳ trước chuyển sang; 271 việc phát sinh trong kỳ báo cáo (tăng 159 việc so với cùng kỳ năm 2020). Các cơ quan thi hành án dân sự đã ra 238 văn bản thông báo tự nguyện thi hành án; đăng tải công khai 111 Quyết định buộc thi hành án; tổ chức làm việc với người phải thi hành án 92 vụ việc; có 35 văn bản kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với vụ việc do vi phạm nghĩa vụ thi hành án. Kết quả: Đã thi hành xong 203 việc (tăng 65 việc so với cùng kỳ năm 2020) và đang tiếp tục thi hành 535 việc.
1.4. Quản lý nhà nước trong các lĩnh vực tư pháp
- Công tác hộ tịch, quốc tịch, chứng thực tiếp tục được thực hiện nề nếp. Việc thực hiện Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký, thống kê hộ tịch giai đoạn 2017 - 2024, gắn với thực hiện Luật Hộ tịch tiếp tục đạt được nhiều kết quả quan trọng. Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử được toàn Ngành đẩy mạnh xây dựng. Phần mềm đăng ký và quản lý hộ tịch dùng chung ghi nhận có gần 18.400 công chức làm công tác hộ tịch tại hơn 10.603 Ủy ban nhân dân cấp xã, gần 705 Phòng Tư pháp cấp huyện và 62 Sở Tư pháp cấp tỉnh tham gia tác nghiệp hàng ngày; đã có hơn 17,5 triệu hồ sơ đăng ký khai sinh (trong đó có hơn 5,7 triệu trẻ em được đăng ký khai sinh và cấp Số định danh cá nhân); gần 3,5 triệu hồ sơ đăng ký kết hôn; hơn 2,42 triệu hồ sơ đăng ký khai tử; hơn 5 triệu hồ sơ đăng ký các sự kiện hộ tịch khác; tổng số thông tin công dân đã cung cấp cho Cở sở dữ liệu quốc gia về dân cư là hơn 17 triệu thông tin qua kết nối trực tuyến, góp phần đảm bảo tính đầy đủ, cập nhật của thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Bộ Tư pháp đã thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ để trình Chủ tịch nước ký quyết định cho phép 79 trường hợp được nhập quốc tịch Việt Nam, 2.787 trường hợp được thôi quốc tịch Việt Nam và 03 trường hợp được trở lại quốc tịch Việt Nam; đã trả lời kết quả tra cứu quốc tịch Việt Nam đối với 1.520 trường hợp. Thực hiện Tiểu đề án 2 “Giải quyết các vấn đề quốc tịch, hộ tịch, hộ khẩu và các giấy tờ tùy thân khác cho người di cư tự do từ Campuchia về nước”: Bộ Tư pháp đã có Báo cáo trình Thủ tướng Chỉnh phủ về việc tổng kết triển khai thực hiện Tiểu đề án.
Sáu tháng đầu năm, trên toàn quốc đã chứng thực 46.738.769 bản sao (tăng hơn 8,6%); thực hiện được 3.247.946 việc chứng thực chữ ký (tăng hơn 18% so với cùng kỳ năm 2020) và 839.434 việc chứng thực hợp đồng, giao dịch.
- Về công tác bổ trợ tư pháp: Quản lý nhà nước trong các hoạt động luật sư, công chứng, giám định tư pháp, bán đấu giá tài sản, trọng tài thương mại, thừa phát lại, quản lý thanh lý tài sản… được chú trọng thực hiện. Một số lĩnh vực đạt kết quả như:
Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 01/2021/TT-BTP ngày 03/02/2021 thay thế Thông tư số 06/2015/TT-BTP ngày 15/6/2015 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Công chứng; Thông tư số 05/2021/TT-BTP ngày 24/6/2021 thay thế Thông tư số 17/2011/TT-BTP và Thông tư số 02/2015/TT-BTP hướng dẫn một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư, Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư.
Để tiếp tục triển khai Luật sửa đổi một số điều của Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật; Kết luận số 69-KL/TW ngày 24/02/2020 của Ban Bí thư về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 30/3/2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của luật sư, Bộ Tư pháp đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề luật sư, xác minh hồ sơ đề nghị cấp Chứng nhận hành nghề luật sư và xác minh giải quyết một số hồ sơ phức tạp, đơn thư khiếu nại liên quan đến hoạt động hành nghề luật sư, tập sự hành nghề luật sư. Bộ Tư pháp đã phối hợp chặt chẽ với Liên đoàn luật sư Việt Nam, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội hướng dẫn, chỉ đạo tổ chức thành công Đại hội Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; tiếp tục chuẩn bị điều kiện cần thiết để tổ chức Đại hội luật sư toàn quốc lần thứ 3. Theo thống kê tại các địa phương, 06 tháng đầu năm các luật sư đã tham gia 40.994 việc, đạt doanh thu hơn 1.410 tỷ đồng.
Trong công tác công chứng, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 172/NQ-CP ngày 19/11/2020 của Chính phủ về chính sách phát triển nghề công chứng [9]; tổng kết 05 năm thi hành Luật Công chứng năm 2014 nhằm đánh giá kết quả đã đạt được, nhận diện những vướng mắc, hạn chế, bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành Luật; ban hành Kế hoạch[10] và tổ chức kỳ thi kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng lần thứ tư. Sáu tháng đầu năm 2021, các tổ chức hành nghề công chứng trên cả nước đã công chứng được 4.210.547 hợp đồng, giao dịch, đóng góp cho Ngân sách nhà nước hoặc nộp thuế gần 176 tỷ đồng.
Trong công tác đấu giá tài sản, Bộ đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 40/CT-TTg ngày 02/11/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác quản lý nhà nước trong hoạt động đấu giá tài sản[11]; chỉ đạo, kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của địa phương trong quá trình triển khai thi hành Luật Đấu giá tài sản, cũng như hướng dẫn nghiệp vụ đấu giá tài sản cho các tổ chức, cá nhân theo đúng quy định của Luật. Từng bước vận hành hiệu quả trang thông tin đấu giá tài sản theo quy định của Luật, góp phần đảm bảo tính công khai minh bạch, khách quan trong hoạt động đấu giá tài sản.
Quy trình, thủ tục hành chính, nhất là các thủ tục cấp phép trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp tiếp tục được tập trung rà soát, chuẩn hoá, đơn giản hóa thủ tục và loại bỏ những thủ tục không còn đáp ứng các yếu tố cấu thành thủ tục hành chính. Trong 06 tháng đầu năm, Bộ Tư pháp đã cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư đối với 368 trường hợp; cấp, gia hạn giấy phép hành nghề tại Việt Nam cho 11 luật sư nước ngoài; cấp giấy phép thành lập cho 02 chi nhánh, Công ty luật nước ngoài tại Việt Nam; thay đổi nội dung Giấy phép thành lập cho 11 chi nhánh, công ty; công nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư ở nước ngoài cho 01 trường hợp; bổ nhiệm công chứng viên đối với 42 trường hợp; cấp Chứng chỉ hành nghề quản tài viên đối với 61 trường hợp; cấp Giấy phép thành lập cho 02 Trung tâm trọng tài thương mại; bổ nhiệm thừa phát lại cho 44 trường hợp. Tất cả các quyết định cấp phép đều được đăng tải công khai trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp để cá nhân, cơ quan, tổ chức đều có thể tiếp cận.
- Về quản lý xử lý vi phạm hành chính: Bộ Tư pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính[12] và cùng với các bộ, cơ quan ngang bộ tập trung rà soát, sửa đổi nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Luật[13]. Đồng thời, toàn Ngành đã chú trọng tổ chức (chủ yếu theo hình thức trực tuyến) các hội nghị, hội thảo, tọa đàm, tập huấn pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, qua đó kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các bộ, địa phương. Nhiều bộ, cơ quan ngang bộ (Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an...) tích cực rà soát, trình Chính phủ sửa đổi các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực cụ thể, bảo đảm phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật liên quan và tình hình thực tế về kinh tế - xã hội của đất nước.
- Về công tác hòa giải ở cơ sở: Bộ Tư pháp và các địa phương tiếp tục quan tâm thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở và các văn bản hướng dẫn thi hành; Quyết định số 428/QĐ-TTg ngày 18/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Đề án "Nâng cao năng lực đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở giai đoạn 2019 - 2022”, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án "Nâng cao năng lực đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở giai đoạn 2019 - 2022” năm 2021[14]; ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại Quyết định số 428/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn địa phương thực hiện tốt công tác củng cố, kiện toàn mạng lưới tổ hòa giải ở cơ sở và đội ngũ hòa giải viên. Trong 06 tháng đầu năm, cả nước tiếp nhận 58.400 vụ việc hòa giải (giảm 4,32% so với cùng kỳ năm 2020), trung bình tỷ lệ hòa giải thành đạt 78,6%, góp phần quan trọng trong ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Một số địa phương có tỷ lệ hoà giải thành rất cao (như: Long An - 92,7%; An Giang - 91%; Hậu Giang - 86,9%; Sơn La - 86%; Thanh Hóa - 85%; Tiền Giang - 84,89%; Khánh Hòa - 83,89%; Hưng Yên - 83%, TP. Hồ Chí Minh - 81,84%) và nhiều địa phương có cách làm hay, sáng tạo, phù hợp với tình hình, điều kiện thực tế tại địa bàn cơ sở[15].
- Về công tác trợ giúp pháp lý: Tiếp tục triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 - 2025. Sáu tháng đầu năm, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 02/2021/TT-BTP ngày 25/5/2021 hướng dẫn cách tính thời gian theo buổi làm việc thực tế và khoán vụ việc trợ giúp pháp lý; Thông tư số 03/2021/TT-BTP ngày 25/5/2021 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 25/11/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, hướng dẫn tờ khai trong hoạt động trợ giúp pháp lý và Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28/8/2018 hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý. Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp tiếp tục theo dõi, đôn đốc, giám sát chất lượng, số vụ việc trợ giúp pháp lý của các Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước trong toàn quốc thông qua những vụ việc địa phương cập nhật lên Hệ thống quản lý tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý; chú trọng công tác tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ cho đội ngũ thực hiện công tác trợ giúp pháp lý; hoàn thành kỳ thi kiểm tra kết quả tập sự trợ giúp viên pháp lý năm 2020; tăng cường truyền thông trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý. Hiện nay, đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý trong cả nước là 1.217 công chức, viên chức, người lao động, trong đó có 660 trợ giúp viên pháp lý; có 40 tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý [16]; 193 tổ chức đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý [17]; 663 luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý. Sáu tháng đầu năm, cả nước đã tiếp nhận, thực hiện 25.714 vụ việc trợ giúp pháp lý, trong đó số vụ việc tham gia tố tụng là 22.837 vụ việc (chiếm gần 88,81% tổng số vụ việc, tăng hơn 30,2% so với cùng kỳ năm 2020). Nhiều địa phương có số vụ việc tham gia tố tụng tăng mạnh so với cùng kỳ 2020 như: Thanh Hóa (tăng 220%), Cao Bằng (tăng 81,82%), Đồng Tháp (tăng 68,55%), Lào Cai (tăng 58,78%), Gia Lai (tăng 48,71%).
- Công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được các Bộ, ngành, địa phương quan tâm triển khai, nhất là đối với doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp ở các địa bàn khó khăn. Trên cơ sở Quyết định số 81/QĐ-TTg ngày 19/01/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý chuyên ngành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ giai đoạn 2021 - 2025 (Chương trình 81), Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai các hoạt động năm 2021[18], trên cơ sở đó, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ bổ sung dự toán kinh phí thực hiện Chương trình Hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2021 và tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý, thực hiện Chương trình số 81 để sớm tổ chức triển khai thực hiện khi được cấp bổ sung kinh phí bổ sung năm 2021; tiếp tục triển khai Đề án hoàn thiện pháp luật về hợp đồng và giải quyết tranh chấp hợp đồng bằng phương thức hòa giải thương mại, trọng tài thương mại; thực hiện duy trì mạng lưới tư vấn pháp luật cho người dân, doanh nghiệp thông qua các diễn đàn đối thoại để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho người dân và doanh nghiệp...
- Về công tác nuôi con nuôi: Việc theo dõi, quản lý nhà nước trong lĩnh vực nuôi con nuôi được Bộ, Ngành Tư pháp chú trọng; tiếp tục thực hiện tốt Luật Nuôi con nuôi và các văn bản hướng dẫn thi hành; Chỉ thị số 03/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Quy chế số 721/QC-BTP-BLĐTBXH ngày 14/3/2016 giữa Bộ Tư pháp và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Thực hiện Kế hoạch tổng kết thi hành Luật Nuôi con nuôi[19] và Công ước La Hay số 33 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế, Bộ đang hoàn thiện Báo cáo đánh giá toàn quốc về thực hiện Luật Nuôi con nuôi và Công ước La Hay. Các địa phương đã giải quyết 1.104 trường hợp nuôi con nuôi trong nước (tăng 13,35% so với cùng kỳ năm 2020); các cơ quan có thẩm quyền giải quyết 80 trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài (giảm 47 trường hợp so với cùng kỳ năm 2020).
- Về công tác lý lịch tư pháp: Việc xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, ứng dụng công nghệ thông tin trong cấp phiếu lý lịch tư pháp được Bộ và các địa phương quan tâm thực hiện, đảm bảo thông tin được cung cấp và tiếp nhận đầy đủ, chính xác, kịp thời. Bộ Tư pháp đã kịp thời công bố các thủ tục hành chính trong lĩnh vực lý lịch tư pháp phù hợp với quy định mới của Luật Cư trú có hiệu lực từ ngày 01/7/2021; tập trung tiếp nhận vào Cơ sở dữ liệu 181.100 thông tin lý lịch tư pháp, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu 178.801 thông tin. Bộ đã thực hiện cấp 25.420 phiếu lý lịch tư pháp (tăng 131,5% so với cùng kỳ năm 2020); các Sở Tư pháp đã cấp được 343.838 phiếu lý lịch tư pháp, tăng 3,57% so với cùng kỳ 2020.
- Về công tác đăng ký giao dịch bảo đảm: Bộ Tư pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 trong lĩnh vực đăng ký giao dịch bảo đảm tiếp tục đạt nhiều kết quả tốt, tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp; Bộ tiếp tục chỉ đạo thực hiện nghiêm túc việc giảm 20% phí cho cá nhân, tổ chức khi yêu cầu đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng động sản, tàu biển (trừ tàu máy bay), trong 6 tháng đầu năm, ước tính đã cắt giảm 5.229.857.360 đồng cho tổ chức, cá nhân (có khoảng 18.160 cá nhân, tổ chức được hỗ trợ giảm phí). Trong 6 tháng đầu năm, các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản đã giải quyết 529.652 phiếu yêu cầu đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm và văn bản yêu cầu thông báo về việc thế chấp phương tiện giao thông (tăng 20,6% so với cùng kỳ năm 2020), trong đó, tỷ lệ đăng ký trực tuyến đạt mức cao với 77% (tăng 05% so với cùng kỳ năm 2020).
- Về công tác bồi thường nhà nước: Bộ, Ngành Tư pháp đã chú trọng thực hiện phổ biến, quán triệt và hướng dẫn thực hiện pháp luật về bồi thường nhà nước; chú trọng bồi dưỡng, tập huấn chuyên sâu về nghiệp vụ cho cán bộ thực hiện công tác bồi thường nhà nước của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, thi hành án dân sự và một số sở, ngành liên quan của 05 tỉnh, thành phố[20]; kịp thời có văn bản hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết bồi thường đối với 26 trường hợp do các cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu (tăng 06 trường hợp so với cùng kỳ năm 2020), giải đáp thắc mắc về thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với 05 trường hợp; thực hiện hỗ trợ thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường đối với 16 trường hợp. Đặc biệt, công tác phối hợp với các bộ, ngành (Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính) đạt nhiều kết quả tích cực, nhất là trong công tác rà soát, lập danh sách các vụ việc giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án trên cơ sở các nguồn thông tin.
- Công tác hợp tác quốc tế về pháp luật: Bộ Tư pháp đã thực hiện tốt vai trò quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế về pháp luật và nhiệm vụ triển khai thực hiện Kết luận số 73-KL/TW ngày 20/5/2020 của Ban Bí thư về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 39-CT/TW về hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực pháp luật, cải cách hành chính và cải cách tư pháp và Quyết định số 84/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Kết luận 73-KL/TW[21]; quán triệt, hướng dẫn, triển khai các nguyên tắc, yêu cầu hợp tác quốc tế trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp của Đảng, nhà nước; triển khai các hoạt động tổng kết, đánh giá để đề xuất xây dựng các văn bản, đề án của Chính phủ về định hướng hợp tác quốc tế trong giai đoạn 2022 - 2026.
Sáu tháng đầu năm, Bộ Tư pháp đẩy mạnh việc thúc đẩy quan hệ hợp tác với các đối tác song phương, đặc biệt là việc ký kết và thực hiện chương trình, kế hoạch hợp tác với các đối tác trọng tâm như: Đức, Pháp, Nga, Ba Lan, Thủy Điển, Nhật Bản, Hàn Quốc, Campuchia, Singapore, Cu Ba. Các hoạt động hợp tác trong lĩnh vực pháp luật với đối tác đa phương cũng được đẩy mạnh thông qua việc đề xuất các nội dung hợp tác pháp luật trong chiến lược hợp tác giai đoạn 2022 - 2026 của các cơ quan của Liên hợp quốc, Liên minh Châu Âu; xây dựng các dự án, thỏa thuận hỗ trợ với Ngân hàng thế giới (WB), Công ty tài chính quốc tế (IFC), UNDP, UNWomen và tìm kiếm khả năng mở rộng hợp tác với các đối tác tiềm năng như Canada, USAID, Hàn Quốc...
1.5. Công tác pháp luật quốc tế
Bộ Tư pháp tiếp tục thực hiện tốt vai trò đại diện pháp lý cho Chính phủ trong các tranh chấp đầu tư quốc tế trên cơ sở Quyết định số 14/2020/QĐ-TTg ngày 08/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế phối hợp giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế; phối hợp với các Bộ, ngành liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ giúp Chính phủ xử lý các vấn đề pháp lý phát sinh trong hội nhập quốc tế; đàm phán, ký kết, thực hiện điều ước, thỏa thuận, cam kết quốc tế[22]; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành tham gia Phiên họp Ủy ban Hội tụ chính sách theo Chương trình 25 Hiệp định CPTTP qua hình thức trực tuyến và phối hợp Bộ Công thương hoàn thiện các văn bản Phiên họp Hội đồng CPTTP; tiếp tục triển khai các nhiệm vụ theo Quyết định số 1252/QĐ-TTg ngày 26/9/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch tăng cường thực thi hiệu quả và các khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc về Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị;
Sáu tháng đầu năm, Bộ Tư pháp đã thẩm định 11 điều ước quốc tế (giảm 07 văn bản so với cùng kỳ năm 2020); góp ý 108 điều ước quốc tế, thoả thuận quốc tế (tăng 15 văn bản so với cùng kỳ năm 2020). Đã tiếp nhận, chuyển giao và trả kết quả 2.540 yêu cầu uỷ thác tư pháp (tăng 10,3% so với cùng kỳ năm 2020); cấp 06 ý kiến pháp lý cho các hiệp định vay nước ngoài. Bên cạnh đó, Bộ tham gia tích cực đàm phán các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương; tiếp tục rà soát, đánh giá tác động đối với hệ thống pháp luật Việt Nam khi tham gia các Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVIPA)...
2. Một số tồn tại, hạn chế
Bên cạnh các kết quả đạt được, công tác tư pháp 06 tháng đầu năm 2021 vẫn còn có những tồn tại, hạn chế như:
(i) Một số bộ, ngành vẫn chưa thực sự chủ động trong việc lập đề nghị xây dựng các dự án luật; tình trạng nợ đọng, chậm văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh chưa được khắc phục triệt để (Bộ, Ngành vẫn còn nợ đọng 08 văn bản quy định chi tiết). Một số trường hợp, chất lượng lập đề nghị, tài liệu gửi thẩm định chưa bảo đảm; hồ sơ chưa đầy đủ, trình tự thủ tục chưa thực hiện theo đúng theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Chất lượng văn bản quy phạm pháp luật của các Bộ, ngành, địa phương còn thấp (qua công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, còn một số văn bản trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền); việc xử lý văn bản trái pháp luật của một số bộ, ngành, địa phương sau khi có kết luận kiểm tra vẫn còn chưa kịp thời và triệt để theo đúng quy định.
(ii) Việc tổ chức thi hành pháp luật ở một số nơi còn lúng túng; chưa có giải pháp hiệu quả. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở một số bộ, ngành, địa phương chưa có trọng tâm, trọng điểm; việc triển khai Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2019 - 2021” ở một số Bộ, ngành, địa phương chưa bảo đảm tiến độ đề ra.
(iii) Cơ quan thi hành án dân sự gặp rất nhiều khó khăn trong bối cảnh nhiều tỉnh, thành áp dụng hình thức phong tỏa để phòng chống dịch Covid-19; việc truy tìm tài sản để thi hành án; một số trường hợp tài sản bị che giấu, hợp lý hóa hoặc cố tình tẩu tán, thất thoát, hư hỏng, mất giá trị nên giá trị tài sản bảo đảm rất nhỏ hoặc thậm chí không có tài sản để thi hành án[23], nên dù đã có nhiều cố gắng nhưng kết quả thi hành được về tiền vẫn chưa đạt yêu cầu. Kết quả thi hành án hành chính đạt được còn thấp[24].
(iv) Còn tình trạng vi phạm pháp luật của các tổ chức hành nghề bổ trợ tư pháp, làm ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước trong công tác này. Tình trạng không báo cáo hoặc báo cáo không đầy đủ về tổ chức, hoạt động của một số tổ chức hành nghề bổ trợ tư pháp tư nhân vẫn còn khá phổ biến[25].
(v) Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc chưa được hoàn thiện đúng tiến độ; hệ thống phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử dùng chung được thiết kế đưa vào vận hành từ năm 2016, chưa được đầu tư chỉnh sửa, nâng cấp kịp thời nên thường phát sinh một số lỗi hệ thống, không ổn định, không đáp ứng được nhu cầu thực tế, một số thời điểm không cấp được số định danh cá nhân khi đăng ký khai sinh.
(vi) Việc kiện toàn, sắp xếp bộ máy cơ quan tư pháp gặp nhiều khó khăn cả ở Trung ương và địa phương. Qua rà soát, một số đơn vị thiếu biên chế để duy trì tổ chức, nhất là trong bối cảnh khối lượng công việc ngày càng tăng, yêu cầu về chất lượng ngày càng cao. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy cơ quan tư pháp ở địa phương theo quy định mới của Chính phủ cũng gặp nhiều khó khăn tương tự. Các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Tư pháp (như Phòng Công chứng, Trung tâm Bán đấu giá tài sản, Trung tâm Trợ giúp pháp lý) đang đứng trước khả năng phải giải thể đối với những tổ chức không đủ điều kiện về biên chế tối thiểu. Các tổ chức pháp chế tại địa phương không duy trì được như thời gian trước đây, cán bộ pháp chế phần lớn là kiêm nhiệm.
Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế nêu trên, bên cạnh các nguyên nhân khách quan, trong đó lớn nhất là ảnh hưởng của dịch Covid-19, thì nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu, cụ thể:
- Một số bộ, ngành, địa phương vẫn chưa thực sự chú trọng công tác xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật; sự quan tâm đầu tư nguồn lực cho công tác này chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ, nhất là trong công tác xây dựng pháp luật. Hiện nay, mới chỉ có số ít Bộ trưởng, Trưởng ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trực tiếp phụ trách công tác xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật.
- Công tác phối hợp giữa các bộ, ngành ở Trung ương, giữa Trung ương với địa phương trong thực hiện công tác tư pháp trong một số trường hợp vẫn còn chưa kịp thời, chặt chẽ
- Trách nhiệm công vụ của một số cán bộ tư pháp, pháp chế chưa cao; chưa tham mưu đầy đủ, kịp thời và hiệu quả trong triển khai nhiệm vụ và trong quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực công tác. Bên cạnh đó, số lượng cán bộ làm công tác tư pháp, pháp chế, nhất là cán bộ pháp chế chuyên trách ở địa phương giảm mạnh; đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã còn mỏng, thường xuyên biến động.
- Bên cạnh khối lượng lớn công việc thường xuyên, thời gian qua tiếp tục phát sinh rất nhiều công việc đột xuất theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, với yêu cầu cao về chất lượng, tiến độ.
- Quy định pháp luật về tổ chức bộ máy ban hành nhiều trong thời gian gần đây, yêu cầu về tiến độ thực hiện rất gấp, tuy nhiên còn thiếu hướng dẫn kịp thời của cơ quan có thẩm quyền, gây khó khăn, vướng mắc trong triển khai.
- Kinh phí hỗ trợ, điều kiện bảo đảm triển khai công việc trong một số lĩnh vực còn hạn chế, nhất là trong công tác xây dựng, thi hành pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; ứng dụng công nghệ thông tin, thi hành án dân sự.
3. Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện công tác tư pháp 06 tháng cuối năm 2021
Sáu tháng cuối năm, tình hình thế giới và trong nước được dự báo tiếp tục gặp nhiều khó khăn trong bối cảnh đại dịch Covid-19 vẫn đang có nhiều diễn biến rất phức tạp, đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, trong đó có cả vấn đề pháp lý, tư pháp. Trước bối cảnh đó, cùng với nhận diện những kết quả đạt được, nhất là 09 nhóm nhiệm vụ trọng tâm năm 2021, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện công tác tư pháp 6 tháng đầu năm như đã nêu trên; bám sát các văn bản chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo Thủ tướng Chính phủ tại Buổi làm việc với Bộ Tư pháp và tại Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương 6 tháng đầu năm 2021, Bộ, Ngành Tư pháp xác định các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu công tác tư pháp 6 tháng cuối năm như sau:
- Tiếp tục triển khai thực hiện tốt Chương trình hành động của Bộ, Ngành Tư pháp triển khai Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng khóa XIII, các Kết luận mới đây của Bộ Chính trị, Ban Bí thư liên quan đến các lĩnh vực công tác của Bộ, Ngành Tư pháp. Tham gia có chất lượng trong việc nghiên cứu, xây dựng Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045.
- Tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm, đầy đủ, hiệu quả các kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Buổi làm việc của Thủ tướng với Bộ Tư pháp ngày 25/5/2021 và các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong công tác rà soát, thẩm định, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; chú trọng triển khai thi hành nghiêm, hiệu quả Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Nghị quyết của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021. Đôn đốc các Bộ, ngành xây dựng để kịp thời ban hành hoặc trình ban hành các văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh nhằm khắc phục triệt để tình trạng nợ ban hành văn bản quy phạm pháp luật, sớm đưa các luật, pháp lệnh vào cuộc sống. Chuẩn bị kỹ báo cáo của Chính phủ trình tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XV về việc thực hiện Nghị quyết số 67/2013/QH13 ngày 29/11/2013 của Quốc hội về tăng cường công tác triển khai thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.
Chuẩn bị nội dung và các điều kiện cần thiết để tổ chức tốt Hội nghị do Thủ tướng Chính phủ chủ trì về công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật.
- Triển khai thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 02/6/2021 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế. Phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu thi hành án dân sự, tổ chức theo dõi việc thi hành án các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án về vụ án hành chính theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Tập trung giải quyết các vụ việc trọng điểm, các vụ việc phức tạp, kéo dài, các vụ việc liên quan đến tín dụng, ngân hàng. Chuẩn bị kỹ báo cáo của Chính phủ trình tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XV về công tác thi hành án năm 2021.
- Đẩy nhanh việc triển khai thực hiện Quyết định số 1521/QĐ-TTg ngày 06/10/2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân; Quyết định số 21/2021/QĐ-TTg ngày 21/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật. Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ Đề án tổ chức thông tin, phổ biến về chính sách quan trọng trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật để tạo đồng thuận xã hội.
Tổ chức hiệu quả Ngày Pháp luật năm 2021, phù hợp với tình hình dịch bệnh Covid-19. Thực hiện tổng kết Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2017-2021.
- Tiếp tục thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về bổ trợ tư pháp; thực hiện có hiệu quả các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này và Nghị quyết số 172/NQ-CP của Chính phủ về chính sách phát triển nghề công chứng và Chỉ thị số 40/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác quản lý nhà nước trong hoạt động đấu giá tài sản. Phối hợp tổ chức thành công Đại hội đại biểu luật sư toàn quốc lần thứ ba; chuẩn bị các điều kiện để tổ chức Đại hội đại biểu công chứng viên Việt Nam lần thứ 2.
Tiếp tục tổ chức thi hành hiệu quả Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản hướng dẫn, Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 - 2025; nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý và năng lực cho đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý để góp phần bảo đảm an sinh xã hội; tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông về hoạt động này.
- Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong các lĩnh vực hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, bồi thường nhà nước, nuôi con nuôi, lý lịch tư pháp, đăng ký giao dịch bảo đảm. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, tiếp tục nghiên cứu cải cách hành chính hơn nữa trong lĩnh vực này để kịp thời giải quyết các yêu cầu của người dân, doanh nghiệp. Thực hiện hiệu quả Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký và thống kê hộ tịch; tập trung nguồn lực nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc bảo đảm kết nối, chia sẻ với dữ liệu đăng ký khai sinh với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các dữ liệu khác của Bộ, Ngành.
- Chủ động thực hiện các giải pháp phòng ngừa và tăng cường năng lực giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện trong hoạt động đầu tư quốc tế; tập trung xây dựng Báo cáo Quốc hội về công tác tương trợ tư pháp năm 2021; Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hợp tác với nước ngoài về pháp luật, tập trung xây dựng, trình ban hành các Đề án về định hướng hợp tác pháp luật giai đoạn 2021 - 2025, đề án về tăng cường quản lý nhà nước về hợp tác pháp luật.
- Tập trung kiện toàn tổ chức bộ máy, hoạt động của các cơ quan tư pháp theo các nghị định mới của Chính phủ. Nghiên cứu, xây dựng Nghị định mới về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp. Rà soát, hoàn thiện quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức làm công tác pháp chế.
Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và tổ chức thực hiện các đề án mới về xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội thành trường trọng điểm về đào tạo pháp luật; xây dựng Học viện tư pháp Thành trung tâm lớn đào tạo các chức danh tư pháp; tham gia cùng Bộ Giáo dục và đào tạo trong việc xây dựng Đề án Kiểm soát chất lượng đào tạo cử nhân luật. Hoàn thành việc xây dựng chương trình, giáo trình và tổ chức tuyển sinh, đào tạo tốt tại các Trường Cao đẳng luật.
- Tâp trung triển khai các dự án thuộc Kế hoạch đầu tư năm 2021 và Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2021 - 2025. Thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 29/6/2021 của Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải ngân vốn đầu tư công và xuất khẩu bền vững những tháng cuối năm 2021 và đầu năm 2022.
Thực hiện hiệu quả Kiến trúc Chính phủ điện tử của Bộ Tư pháp Phiên bản 2.0, Kế hoạch Chuyển đổi số Ngành Tư pháp giai đoạn 2020 - 2025, định hướng đến năm 2030; xây dựng, nâng cấp, triển khai và duy trì các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu và phần mềm ứng dụng; nâng cấp các dịch vụ công trực tuyến do Bộ, Ngành Tư pháp cung cấp lên mức độ 3, 4 và thực hiện có hiệu quả việc cung cấp các dịch vụ này trên Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công của Bộ, Cổng dịch vụ công của các địa phương.
- Kịp thời triển khai các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống dịch Covid-19; tiếp tục chủ động tham mưu, phối hợp tham mưu cho các cấp, các ngành về khía cạnh pháp lý trong các quyết sách, chỉ đạo phòng, chống dịch, thực hiện “mục tiêu kép”.
Bên cạnh thực hiện các giải pháp mang tính chất thường xuyên như quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành; đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ cho đội ngũ công chức, viên chức, người lao động; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin; tăng cường phối hợp trong công tác, toàn Ngành Tư pháp xác định một số giải pháp mới, phù hợp với dự kiến bối cảnh 06 tháng cuối năm, cụ thể như sau:
- Tăng cường kỷ luật, kỷ cương công vụ; kịp thời, linh hoạt điều chỉnh chương trình, kế hoạch công tác, bảo đảm tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế nhưng vẫn thực hiện được đầy đủ, hiệu quả các nhiệm vụ được giao.
- Tận dụng triệt để ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành tổ chức triển khai kế hoạch công tác; chú trọng công tác tự kiểm tra, gắn với động viên, khích lệ kịp thời các tập thể, cá nhân nỗ lực đạt kết quả cao trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, đồng thời, xử lý nghiêm các biểu hiện tiêu cực, các vi phạm trong thực hiện nhiệm vụ công tác.
- Chú trọng công tác thông tin, truyền thông về hoạt động của Bộ, Ngành Tư pháp; kịp thời lan tỏa các cách làm hay, hiệu quả trong triển khai các nhiệm vụ phù hợp với tình hình dịch Covid-19.