Thứ sáu 13/03/2026 10:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chính quyền địa phương Nhật Bản - Có thể nghiên cứu, tham khảo cho Việt Nam

Nhật Bản một cường quốc của thế giới về nhiều mặt, góp phần vào sự phát triển của đất nước mặt trời mọc có nhiều yếu tố, trong đó tổ chức bộ máy nhà nước có vai trò quan trọng. Mô hình tổ chức bộ máy nhà nước Nhật Bản với những nét tương đồng với thế giới, nhưng bên cạnh những tinh hoa mà người Nhật đã chắt lọc, du nhập vào, họ còn xây dựng nền thể chế nhà nước có nhiều nét đặc thù phù hợp với văn hóa, đặc điểm của đất nước, con người Nhật. Chính nhờ sự hỗn hợp, pha trộn tài tình này, nhà nước Nhật Bản đã thúc đẩy sự phát triển thịnh vượng. Việt Nam và Nhật Bản có nhiều sự khác biệt lớn, tuy nhiên giữa hai dân tộc, quốc gia luôn có những nét tương đồng như: Cùng nằm khu vực Đông Á, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố văn hóa tương tự nhau... Với việc tìm hiểu về chính quyền địa phương Nhật Bản, qua đó tìm ra những yếu tố có thể áp dụng trong tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam.

1. Chính quyền địa phương Nhật Bản

Trước năm 1945 cơ chế Nhà nước - chính trị của Nhật, có thể coi là một hệ thống quan liêu - tập trung hóa quản lý địa phương với vai trò trung tâm của Nhật Hoàng tri phối mọi mặt trong hoạt động chính quyền địa phương thông qua các quan chức do mình bổ nhiệm, về cơ bản không có tự trị cho các địa phương. Sự thay đổi thể chế nhà nước sau Đại chiến thế giới thứ 2 đã chuyển Nhật đã từ một chế độ quân chủ nhị nguyên kiểu Nhật Bản trở thành quân chủ lập hiến Với việc Hiến pháp năm 1946 và Luật về tự trị phương năm 1947 đã đánh dấu xu hướng phi tập trung hóa quản lý địa phương và đây là một trong các đặc điểm nổi bật trong tổ chức chính quyền địa phương của Nhật. Hiến pháp và Luật về tự trị phương đã củng cố nguyên tắc tự quản địa phương cùng với các nguyên tắc chủ quyền nhân dân, tính tối cao của nghị viện là cơ sở cho chế độ Nhà nước sau chiến tranh của Nhật Bản.

Đạo luật về tự quản địa phương bao gồm trên 300 điều. Song song với đạo luật này còn có hiệu lực vài chục các quyết định quy phạm khác - các đạo luật, các sắc lệnh Chính phủ, các quyết định của các bộ khác nhau và các nha.

Sự tự trị của những c­ư dân được ghi nhận ở trong đạo luật về tự quản địa phương thông qua trưng cầu dân ý ở phạm vi địa phương trên cơ sở một bộ phận nhất định của dân địa phương có đơn thỉnh cầu về việc thông qua, bãi bỏ hoặc sửa đổi những nghị định địa phương, về việc thực hiện thanh tra hoạt động của các hội nghị cộng đồng địa phương, về việc miễn nhiệm những người đứng đầu các cơ quan địa phương và các người có chức vụ khác[1].

Mức độ thực tế của sự tự quản của các công xã địa phương được xác định bởi cơ chế phức tạp của sự tác động qua lại của chúng với trung ương. Bộ về các vấn đề tự quản được thành lập vào năm 1960 là cơ quan chuyên trách điều phối sự phối hợp hoạt động của các cơ quan trung ương và địa phương và cũng như của các cơ quan địa phương với nhau. Với yêu cầu luôn đề cao sự gọn nhẹ trong bộ máy, việc thành lập một cơ quan cấp Bộ chuyên trách phản ánh sự quan tâm của Nhà nước Nhật với vấn đề này.

Ở Nhật Bản đã hình thành một hệ thống hai cấp của tự quản địa phương (cơ quan tỉnh và thị chính). Cơ quan tỉnh và thị chính là cơ quan thông thường của tự quản địa phương song song với chúng thì có thể được thành lập các cơ quan đặc biệt của tự quản địa phương - những quận đặc biệt ở thủ đô, những liên hiệp phát triển quận, các tổ hợp các cơ quan tự quản địa phương, những vùng tài chính - công nghiệp.

Hệ thống pháp luật Nhật Bản quy định những tiêu chí khúc triết để phân định những vùng thành phố và nông thôn theo đạo luật về tự quản địa phương (Điều 8) để nhận được quy chế của thành phố thì điểm c­ dân cần phải thỏa mãn các yêu cầu sau:

- Dân số cần phải hơn 50 nghìn người.

- Hơn 60% các công trình xây dựng nhà ở cần phải ở trong phần trung tâm của điểm dân cư­.

- Hơn 60% dân cư phải hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại hoặc những lĩnh vực khác tiêu biểu đối với thành phố.

- Điểm dân cư cần phải có những công trình xây dựng thành phố và những dịch vụ, danh mục của chúng được xác định bởi các quyết định của các cơ quan tỉnh.

Hiến pháp 1946 và Luật về tự quản địa phương 1947 ghi nhận thẩm quyền của các cơ quan địa phương. Trong Hiến pháp, Điều 94 quy định: “Các cơ quan quyền lực công địa phương có quyền quản lý những tài sản của mình, tiến hành quản lý hành chính, chúng có thể ban hành các nghị định của mình trong phạm vi của luật”.

Cơ quan địa phương thực hiện hoạt động gồm 03 nhóm chức năng cơ bản:

- Những chức năng mang tính chất địa phương thuần túy.

- “Các quyền hạn hành chính” chúng được hiểu là các chức năng mang tính địa phương, nhưng đòi hỏi sự cưỡng chế Nhà nước trong việc thực hiện chúng và các chế tài trong trường hợp vị phạm chúng từ phía các công dân.

- Những chức năng được các cơ quan trung ương ủy quyền. Khi thực hiện các chức năng này những người đứng đầu của cơ quan hành chính địa phương chịu trách nhiệm trước các Bộ trưởng tương ứng của Nội các.

Đến năm 1989 thì danh mục các việc thuộc thẩm quyền của cơ quan Nhà nước được trao cho tỉnh trưởng thực hiện bao gồm 126 điểm, cho thị trưởng những thành phố lớn 28 điểm, cho người đứng đầu các thành phố thị trấn, điểm dân cư­ và các làng xã 52 điểm. Việc thực hiện các công việc này cần phải được cung cấp tài chính từ ngân sách Nhà nước. Như vậy, các tỉnh trưởng, thị trưởng và xã trưởng… là các cơ quan tự quản địa phương, đồng thời hoạt động với tư cách là cơ quan của Nhà nước.

Mỗi đơn vị hành chính - lãnh thổ trực tiếp được hình thành bởi các cử tri một hội nghị hàng tỉnh (thành phố, thị trấn, làng xã). Những hội nghị địa phương được bầu ra với thời hạn 04 năm. Trong đạo luật tự quản địa phương quy định cấp thị trấn, thị xã và làng xã có thể thay đổỉ các hội nghị địa phương bằng hình thức như đại hội chung của những người sống chung trong thị trấn hoặc làng xã (điều này thể hiện sự dân chủ trực tiếp), bên cạnh đó là các hội nghị mang tính chất đại diện.

Thành phần của hội nghị địa phương phụ thuộc vào số lượng dân cư­. Hội nghị hàng tỉnh bao gồm từ 40 người đến 120 người; hội nghị thành phố 30 người đến 100 người thị trấn và làng xã từ 12 người đến 30 người.

Người đứng đầu của cơ quan hành chính địa phương ở tỉnh là tỉnh trưởng, ở các thành phố và thị trấn là thị trưởng ở các làng xã là các xã trưởng. Tất cả những người có chức vụ này được bầu trực tiếp bởi dân cư sống ở trong đơn vị lãnh thổ đó với thời hạn 04 năm.

Người đứng đầu cơ quan hành chính địa phương ngoài các quyền hạn mang tính chấp hành - điều hành còn có quyền đ­a vào hội nghị địa phương xem xét các dự án quyết định mang tính chất chung, có thể phủ quyết đối với các quyết định của hội nghị (sự phủ quyết này có thể được vượt qua nếu như hội nghị thông qua lại quyết định bởi đa số 2/3) giải tán hội nghị trước thời hạn. Nó được trao quyền đình chỉ hoặc là không thực hiện các hành động của các nha tổng cục trung ương trên lãnh thổ của mình… và những quyền hạn khác.

Chức năng chấp hành trong cơ quan địa phương được hoàn thành bởi các Ủy ban hành chính khác nhau - về giáo dục, nhân sự, về an ninh an toàn xã hội, về lao động… Các ban hành chính này có tính độc lập lơn, điều đó được đảm bảo bởi trình tự hình thành chúng. Chúng được bổ nhiệm bởi người đứng đầu của cơ quan hành chính địa phương với sự thỏa thuận của hội nghị địa phương hoặc được bầu bởi hội nghị địa phương.

Luật về tự quản địa phương quy định rằng số các sở đối với các tỉnh thủ đô và đối với các tỉnh còn lại phụ thuộc vào số lượng cư­ dân. Trong đạo luật chứa đựng một sự phân định mẫu các chức năng giữa các bộ phận cấu thành và những người có chức vụ của bộ máy chấp hành ở địa phương.

Bảo đảm quan trọng cho sự tự trị của quyền lực địa phương là việc tách hoạt động công vụ địa phương với tư cách là một dạng độc lập của hoạt động công vụ.

2. Một số nhận xét

Có thể thấy rõ tính tự quản (tự trị) trong tổ chức chính quyền địa phương ở Nhật Bản khác so với nhiều nước trên thế giới, đó là sự tự quản có giới hạn. Điều này được thể hiện ở nguyên tắc tự trị 30%[2] thể hiện sự tự trị không đầy đủ, nó mang màu sắc của sự tự quản, là sự tự do của địa phương có giới hạn của sự quản lý trung ương.

Tuy vậy, Nhật Bản rất chú trọng đến vai trò của chính quyền địa phương được tự quyết những vẫn đề gắn với lợi ích địa phương như đường xá, bệnh viện, trường học... Những lĩnh vực quan trọng hơn như công an, giáo dục ngược lại bị sự tri phối và kiểm soát chặt chẽ từ trung ương và cụ thể là từ các Bộ Công an và Bộ Giáo dục

Một điểm lớn đó là các công việc ủy quyền, đó là các công việc thuộc thẩm quyền của trung ương nhưng giao địa phương thực hiện. Trong quá trình thực hiện công việc người đứng đầu địa phương phải chịu trách nhiệm trước Bộ, Nội các. Hình thức này xu hướng ngày càng tăng, Nhà nước trung ương Nhật Bản ngày càng ủy thác nhiều công việc xuống địa phương và đạt hiệu quả cao.

Theo tác giả, trong bối cảnh hiện nay ở nước ta, việc tăng cường vai trò tự chủ của địa phương là rất cần thiết, chúng ta có thể tham khảo Nhật Bản, nghiên cứu, cân nhắc, lựa chọn giao cho địa phương quyền quyết định về những vấn đề gắn với địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống cư dân, đồng thời, có các biện pháp để phát huy vai trò giám sát của nhân dân./.

ThS. Lê Ngọc Hưng

Học viện Hành chính Quốc gia

Ảnh: internet


[1] Tsuneo Inako “Tìm hiểu Pháp luật Nhật Bản” Nxb. Khoa học Xã hội 1993, tr. 226.

[2] Tsuneo Inako “Tìm hiểu Pháp luật Nhật Bản” Nxb. Khoa học Xã hội 1993, tr. 227.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định của Liên minh châu Âu về bảo vệ khách hàng trong thị trường tài sản mã hóa và đề xuất cho Việt Nam

Quy định của Liên minh châu Âu về bảo vệ khách hàng trong thị trường tài sản mã hóa và đề xuất cho Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa phát triển nhanh, tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với khách hàng, việc xây dựng cơ chế bảo vệ người tham gia trở nên cấp thiết. Bài viết phân tích Quy định chung về thị trường tài sản mã hóa (MiCA) của Liên minh châu Âu trong bảo vệ khách hàng thông qua các nghĩa vụ đối với tổ chức cung cấp dịch vụ và yêu cầu minh bạch thông tin, đặc biệt trong sách trắng, tạo nền tảng an toàn cho thị trường. Qua phân tích, bài viết nhận diện những hạn chế trong cơ chế hiện hành tại Việt Nam, từ đó, đề xuất hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và bảo vệ quyền lợi người tham gia, đồng thời, thúc đẩy sự phát triển an toàn, bền vững của thị trường tài sản mã hóa trong nước.
Cam kết xóa bỏ phân biệt đối xử trong lao động tại các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị cho Việt Nam

Cam kết xóa bỏ phân biệt đối xử trong lao động tại các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị cho Việt Nam

Tóm tắt: Thời gian qua, Việt Nam ký kết một số hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu, Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam - Vương quốc Anh và Bắc Ireland... Các hiệp định này đều đặt ra yêu cầu xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử trong lĩnh vực lao động thông qua thực thi đầy đủ nguyên tắc lao động cơ bản của Tổ chức Lao động Quốc tế. Mặc dù Việt Nam đã nội luật hóa nhiều cam kết quốc tế, tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế nhất định, có thể chưa đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực lao động quốc tế mà các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đặt ra. Từ thực tế đó, bài viết phân tích mức độ tương thích giữa pháp luật Việt Nam và các nguyên tắc của Tổ chức Lao động Quốc tế về không phân biệt đối xử, xác định những bất cập còn tồn tại, đồng thời, nghiên cứu kinh nghiệm một số quốc gia để đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế Việt Nam đã tham gia.
Bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng trong thương mại điện tử - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng trong thương mại điện tử - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ và trở thành trụ cột của nền kinh tế số, vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng đặt ra ngày càng cấp thiết, đặc biệt, sau khi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 có hiệu lực thi hành. Trên cơ sở phân tích các quy định hiện hành và so sánh, tham chiếu các chuẩn mực pháp lý tiêu biểu của Liên minh châu Âu, Singapore và Nhật Bản, bài viết đánh giá thực trạng, chỉ ra những hạn chế về tính minh bạch, cơ chế bảo vệ quyền riêng tư và trách nhiệm của doanh nghiệp trong xử lý dữ liệu cá nhân và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử, nhằm tăng cường hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định tình trạng việc làm của tài xế xe công nghệ theo Dự luật số 5 của Hội đồng bang California (2019), Đề xuất số 22 (2020) và khuyến nghị đối với Việt Nam

Xác định tình trạng việc làm của tài xế xe công nghệ theo Dự luật số 5 của Hội đồng bang California (2019), Đề xuất số 22 (2020) và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế chia sẻ, đặc biệt, dưới hình thức thị trường lao động nền tảng còn gọi là kinh tế việc làm tự do, đặt ra nhiều thách thức pháp lý trên phạm vi toàn cầu. Trong đó, xác định tình trạng việc làm của người lao động trong nền kinh tế này là vấn đề trung tâm, còn nhiều tranh luận cả về lý luận và thực tiễn. Nhóm lao động phổ biến và điển hình nhất cần được xác định tình trạng việc làm là tài xế xe công nghệ. Năm 2019, Hội đồng bang California, Hoa Kỳ ban hành Dự luật số 5 nhằm giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, chỉ sau một năm, Đề xuất số 22 đã được thông qua, loại trừ tài xế xe công nghệ ra khỏi phạm vi áp dụng của AB 5 và xác lập họ như một dạng lao động thứ ba với cơ chế điều chỉnh riêng. Bài viết phân tích nội dung của AB 5 và Proposition 22, từ đó, đề xuất một số khuyến nghị, chính sách đối với Việt Nam.
Pháp luật về bảo vệ nhân chứng trong vụ án hình sự ở Trung Quốc và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật về bảo vệ nhân chứng trong vụ án hình sự ở Trung Quốc và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Bảo vệ người làm chứng (nhân chứng) là một trong những yếu tố quan trọng nhằm bảo đảm công lý và hiệu quả của hoạt động tố tụng hình sự. Tại Trung Quốc, cơ chế bảo vệ nhân chứng đã từng bước được hoàn thiện trong những năm gần đây, đặc biệt, thông qua việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản dưới luật. Bài viết phân tích khuôn khổ pháp lý hiện hành về bảo vệ nhân chứng trong tố tụng hình sự ở Trung Quốc, đánh giá những điểm tiến bộ, những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đưa ra một số khuyến nghị cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật về bảo vệ nhân chứng.
Mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Nhật Bản và kinh nghiệm cho Việt Nam

Mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Nhật Bản và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Nhật Bản là một trong những quốc gia châu Á tiêu biểu vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiệu quả và ổn định trong nhiều thập kỷ. Bài viết phân tích cấu trúc tổ chức, quyền hạn, phân bổ ngân sách và mối quan hệ giữa các cấp chính quyền tại Nhật Bản, rút ra những bài học kinh nghiệm thực tiễn, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại Việt Nam theo hướng hiệu quả, phù hợp với yêu cầu phát triển và hội nhập.
Phân tích và so sánh dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam với pháp luật Hoa Kỳ, Pháp, Đức và Anh

Phân tích và so sánh dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam với pháp luật Hoa Kỳ, Pháp, Đức và Anh

Việc nghiên cứu, tham khảo và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm từ các hệ thống pháp luật tiên tiến của Hoa Kỳ, Pháp, Anh và việc tham gia tích cực vào các công ước quốc tế sẽ giúp Việt Nam xây dựng hệ thống tư pháp toàn diện, đáp ứng tốt các yêu cầu của hội nhập quốc tế. Điều này không chỉ góp phần bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan trong các vụ việc dân sự mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp.
Kinh nghiệm của một số quốc gia về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự

Kinh nghiệm của một số quốc gia về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự

Bài viết phân tích một số quy định trong các điều ước quốc tế có liên quan, kinh nghiệm của một số quốc gia về các nội dung chính sách trên trong Luật Tương trợ tư pháp về dân sự, từ đó, củng cố cơ sở khoa học cho việc xây dựng các quy định cụ thể trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự.
Tăng cường hợp tác tương trợ tư pháp về dân sự giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Tăng cường hợp tác tương trợ tư pháp về dân sự giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Bài viết nghiên cứu các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp dân sự mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là thành viên, thực tiễn triển khai giữa hai nước và đề xuất định hướng hợp tác giữa hai nước về lĩnh vực này trong thời gian tới.
Công tác pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp - Thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp - Thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp vừa tham gia xây dựng pháp luật quốc tế, vừa đóng vai trò “cầu nối” giữa pháp luật trong nước với pháp luật quốc tế. Vì vậy, công tác pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp có tác động tích cực đến hội nhập quốc tế và phát triển của đất nước.
Hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp - Những thành tựu đạt được và định hướng trong kỷ nguyên mới

Hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp - Những thành tựu đạt được và định hướng trong kỷ nguyên mới

Nhìn lại chặng đường hơn 35 năm qua, đặc biệt, trong một thập kỷ gần đây, quan hệ hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp đã có bước phát triển mạnh mẽ và hiệu quả.
Xử lý hành vi sử dụng mã độc tống tiền theo pháp luật hình sự - Kinh nghiệm quốc tế và định hướng cho Việt Nam

Xử lý hành vi sử dụng mã độc tống tiền theo pháp luật hình sự - Kinh nghiệm quốc tế và định hướng cho Việt Nam

Hiện nay, các tội phạm sử dụng công nghệ cao để thực hiện các hành vi phạm tội diễn ra ngày càng phổ biến. Một trong những công nghệ cao để thực hiện các hành vi phạm tội, nguy hiểm, gây ra thiệt hại lớn cho xã hội được các tội phạm sử dụng nhiều nhất, chính là sử dụng mã độc tống tiền (Ransomware). Vì vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật để kịp thời phòng, chống những tác hại của Ransomware là thực sự cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Bài viết nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật của Hoa Kỳ và Trung Quốc, từ đó, kiến nghị, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam.

Pháp luật về hòa giải thương mại của Việt Nam và Ấn Độ - Góc nhìn so sánh và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Việt Nam và Ấn Độ đều có khung pháp lý điều chỉnh hoạt động hòa giải thương mại, nhưng có sự khác biệt đáng kể về cơ chế vận hành và thực thi. Bài viết sử dụng phương pháp so sánh luật học để phân tích và đối chiếu quy định pháp luật giữa hai quốc gia, đồng thời, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp luật về hòa giải thương mại tại Việt Nam.

Vai trò của Nội các Nhật Bản trong hoạt động lập pháp và giá trị tham khảo cho Việt Nam

Nội các Nhật Bản đóng vai trò quan trọng trong quá trình lập pháp với quyền đề xuất hầu hết các dự thảo luật trình lên Quốc hội. Bài viết nghiên cứu, phân tích vị trí, vai trò, thẩm quyền và trách nhiệm của Nội các Nhật Bản trong hoạt động lập pháp, từ sáng kiến đến soạn thảo, đánh giá và thông qua luật. Đồng thời, so sánh với quy trình lập pháp tại Việt Nam, chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt quan trọng. Từ đó, đề xuất các giá trị mà Việt Nam có thể tham khảo nhằm nâng cao vị trí và vai trò của Chính phủ trong quá trình xây dựng pháp luật.

Hình phạt tiền - Dưới góc nhìn so sánh pháp luật hình sự Việt Nam với Liên bang Úc và kinh nghiệm cho Việt Nam

Hình phạt tiền ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong hệ thống hình phạt của nhiều quốc gia, kể cả Việt Nam và Liên bang Úc, như một biện pháp hiệu quả để xử lý các hành vi phạm tội, đặc biệt là các tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm do pháp nhân thực hiện. Bài viết phân tích quy định pháp luật hình sự về hình phạt tiền của Việt Nam và Liên bang Úc, làm rõ sự khác biệt về đối tượng pháp nhân chịu trách nhiệm, phương pháp xác định mức phạt, các yếu tố Tòa án cân nhắc và cơ chế thi hành; từ đó, rút ra một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: