1. Vai trò của Bộ Tư pháp trong công tác pháp luật quốc tế
Đối với Việt Nam, tham gia xây dựng các quy tắc pháp lý quốc tế và bảo đảm thực hiện cam kết quốc tế do nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện, trong đó có Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp vừa tham gia xây dựng pháp luật quốc tế, vừa đóng vai trò “cầu nối” giữa pháp luật trong nước với pháp luật quốc tế. Theo khoản 6 và khoản 12 Điều 2 Nghị định số 39/2025/NĐ-CP ngày 26/02/2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp, Bộ Tư pháp có nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến công tác xây dựng pháp luật trong nước cũng như xây dựng thể chế, pháp luật quốc tế và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế. Vì vậy, công tác pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp có tác động tích cực đến hội nhập quốc tế và phát triển của đất nước, thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, công tác pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp góp phần bảo đảm gắn kết xây dựng, thực hiện pháp luật trong nước với quá trình thực hiện pháp luật quốc tế và cam kết quốc tế của Việt Nam. Điều này bảo đảm cho pháp luật trong nước không trái với các cam kết quốc tế của Việt Nam và các quy tắc pháp lý quốc tế mà Việt Nam tham gia xây dựng không mâu thuẫn với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, hay mâu thuẫn với lợi ích của đất nước; hạn chế rủi ro pháp lý cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước; bảo đảm lợi ích của Việt Nam trong các quan hệ quốc tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
Thứ hai, công tác pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp góp phần tích cực vào cải cách, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam thông qua việc tiếp thu có chọn lọc những quy định của pháp luật quốc tế phù hợp với Việt Nam.
Thứ ba, công tác pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp đóng góp vào việc bảo đảm để Việt Nam tận dụng hiệu quả các lợi ích từ pháp luật quốc tế, cũng như giải quyết hiệu quả các vấn đề pháp lý phát sinh từ hội nhập quốc tế, kể cả tranh chấp quốc tế mà Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân của Việt Nam là một bên.
Trong giai đoạn mới, công tác pháp luật quốc tế được định hướng: “chủ động tham gia, đóng góp vào việc xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự quốc tế, khu vực”[1]; “thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi, trong đó thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước”[2]; Việt Nam tiếp tục “tham gia tích cực vào việc xây dựng thể chế và pháp luật quốc tế”[3]; “nâng cao vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong tham gia xây dựng thể chế và pháp luật quốc tế, nâng cao trách nhiệm phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, xử lý hiệu quả các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình hội nhập quốc tế, kịp thời bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước Việt Nam”[4]; cử đại diện tham gia các tổ chức pháp lý quốc tế có uy tín và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực pháp luật quốc tế và xây dựng Bộ Tư pháp thành “Trung tâm lớn về tư pháp quốc tế của cả nước”[5].
Với các định hướng tại các văn bản của Đảng và Nhà nước, Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, góp phần xây dựng, định hình khuôn khổ pháp luật quốc tế công bằng, kịp thời điều chỉnh các vấn đề mới phát sinh của quốc tế, góp phần xây dựng, hoàn thiện cơ sở pháp lý quốc tế và trong nước, khơi thông mọi nguồn lực để đạt mục tiêu phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
2. Một số kết quả đạt được trong công tác xây dựng pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp thời gian qua
Thứ nhất, chủ trì xây dựng các bộ luật/luật, văn bản quy phạm pháp luật dưới luật có tác động lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội và bảo đảm thực hiện hội nhập quốc tế của đất nước như: Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, Bộ luật Dân sự các năm 2005, 2015, Nghị quyết số 71/2006/NQ-QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia xây dựng Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025), Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) và nhiều bộ luật, luật khác cũng như việc sửa đổi, bổ sung các đạo luật này. Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp chủ động thực hiện toàn diện công tác thẩm định, góp ý các đề nghị (chính sách), dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi, trách nhiệm của Bộ, trong đó có các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam như: dự án Luật Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; đề nghị xây dựng Nghị định của Chinh phủ quy định về thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ Hỗ trợ đầu tư hay các dự thảo Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ trong lĩnh vực phòng vệ thương mại, thuế, tài nguyên và môi trường… góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.
Thứ hai, Bộ Tư pháp chủ trì đàm phán, ký kết các hiệp định song phương, gia nhập các công ước quốc tế đa phương trong lĩnh vực tương trợ tư pháp. Từ năm 2010 đến nay, Bộ Tư pháp đã chủ trì, tham gia đề xuất, ký kết 07 hiệp định song phương và gia nhập 02 điều ước quốc tế đa phương trong linh vực này.
Trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, Bộ Tư pháp được giao chủ trì các Nhóm Công tác liên quan đến đề xuất, hoàn thiện pháp luật quốc tế trong khuôn khổ Ủy ban Luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL), gồm Nhóm Công tác số II (Trọng tài và hòa giải), Nhóm Công tác số III (Cải tổ cơ chế giải quyết tranh chấp Nhà nước - nhà đầu tư). Trong các Nhóm Công tác này, Bộ Tư pháp đã tích cực phát huy vai trò của mình, đóng góp vào quá trình hoàn thiện thể chế pháp lý quốc tế về giải quyết tranh chấp đầu tư.
Ngoài ra, Bộ Tư pháp chủ trì giúp Chính phủ thực hiện các thủ tục cần thiết để Việt Nam gia nhập Công ước về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế và Việt Nam đã trở thành thành viên của Công ước từ tháng 02/2012. Đến năm 2016, Bộ Tư pháp tiếp tục chủ trì giúp Chính phủ thực hiện việc gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức quốc tế về Luật phát triển (IDLO).
Việc gia nhập các điều ước quốc tế đã góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý quốc tế cho Việt Nam hợp tác và hoàn thiện khung pháp luật trong nước và xây dựng đội ngũ chuyên gia pháp lý quốc tế.
![]() |
| Ảnh do Vụ Pháp luật quốc tế cung cấp. |
Thứ ba, Bộ Tư pháp tham gia đàm phán các điều ước quốc tế, trong đó có những điều ước có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước, như: Công ước Hà Nội về tội phạm mạng, Hiệp định vay Nhật Bản cho chương trình phục hồi kinh tế - xã hội hậu Covid, Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ; tham gia đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO); đàm phán các điều ước quốc tế, trong đó có những điều ước với nội dung chuyên sâu, phức tạp như: Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), nâng cấp các hiệp định thương mại tự do (FTA) trong khuôn khổ ASEAN với các đối tác ngoài khối; đồng thời, chủ trì đàm phán và cấp ý kiến pháp lý cho các điều ước quốc tế vay vốn phát triển chính thức (ODA); thỏa thuận vay nhân danh Nhà nước, Chính phủ hoặc Bộ Tài chính; văn bản bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh hoặc văn bản phát hành trái phiếu quốc tế được Chính phủ bảo lãnh, các tài liệu văn kiện dự án đầu tư lớn và trọng điểm quốc gia. Bên cạnh đó, theo quy định Luật Điều ước quốc tế năm 2015, Bộ Tư pháp là cơ quan được giao thẩm định điều ước quốc tế. Trong hơn 16 năm (từ năm 2008 đến năm 2024), Bộ Tư pháp đã thẩm định khoảng 1.500 điều ước quốc tế trong nhiều lĩnh vực như: thương mại, tài chính, đầu tư, môi trường, giáo dục… Bên cạnh đó, hàng năm, Bộ Tư pháp cũng chủ trì, góp ý với số lượng lớn các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, trong đó có nhiều điều ước quốc tế có nội dung định hình quy tắc mới của pháp luật quốc tế, như: Chương Thương mại và Phát triển bền vững của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA). Chất lượng công tác thẩm định, góp ý điều ước quốc tế được các bộ, ngành ghi nhận và đánh giá cao, bảo đảm các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế phù hợp với Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) cũng như tương thích của các quy định pháp luật hiện hành.
Thứ tư, liên quan công tác rà soát pháp luật Việt Nam với các điều ước quốc tế, Bộ Tư pháp đã chủ trì thực hiện việc rà soát tổng thể đối với EVFTA, CPTPP và các FTA trong khuôn khổ Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) với các đối tác ngoài khối để đề xuất hoàn thiện pháp luật nhằm thực hiện tốt các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp đã góp phần vào việc phát triển công tác pháp luật quốc tế thông qua việc phát triển hệ thống lý luận khoa học và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực về pháp luật quốc tế.
Thứ năm, giải quyết các tranh chấp đầu tư quốc tế, nhất là chủ trì, đại diện pháp lý cho Chính phủ trong các tranh chấp đầu tư quốc tế là lĩnh vực mới, nhiều thách thức nhưng bước đầu đã được Bộ Tư pháp đảm nhận và có kết quả tích cực, góp phần bảo vệ tốt lợi ích của Nhà nước.
Thứ sáu, Bộ Tư pháp đã thực hiện tốt công tác tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự với số lượng hằng năm khoảng 3.000 đến 4.000 hồ sơ, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tố tụng và hợp tác tư pháp với nước ngoài.
3. Nhận diện thách thức và yêu cầu đặt ra cho công tác pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp trong kỷ nguyên mới
3.1. Thách thức
Thứ nhất, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu, rộng, thế giới biến động nhanh, phức tạp, khó lường, công tác pháp luật quốc tế đan xen vào mọi lĩnh vực công tác của Bộ Tư pháp. Điều này đòi hỏi Bộ Tư pháp cần thống nhất trong nhận thức và hành động về vai trò của pháp luật quốc tế để góp phần bảo đảm thực hiện tốt các cam kết quốc tế.
Thứ hai, công tác pháp luật quốc tế nói chung được nhiều bộ, ngành cùng thực hiện nên cần xác định được đúng trọng tâm, đặc thù và điểm đột phá trong phát triển công tác pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp để tạo sự đồng bộ, hiệu quả trong mối quan hệ thực hiện các nhiệm vụ chung về pháp luật quốc tế với các bộ, ngành, cơ quan khác theo yêu cầu tại các văn bản của Đảng, Nhà nước, nhất là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Thứ ba, trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, công tác pháp luật quốc tế ngày càng gia tăng về số lượng, đồng thời, phức tạp hơn về tính chất. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác pháp luật quốc tế phải nhanh chóng thích ứng với môi trường làm việc đa phương, có khả năng ứng phó kịp thời, hiệu quả trước những biến động nhanh chóng của tình hình thế giới và khu vực.
Công tác pháp luật quốc tế nói chung, đặc biệt là lĩnh vực giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, đòi hỏi trình độ chuyên môn sâu, năng lực ngoại ngữ cao và bản lĩnh chính trị vững vàng. Đội ngũ cán bộ thực hiện nhiệm vụ này thường xuyên phải làm việc trực tiếp với các đối tác nước ngoài, trong đó có các luật sư quốc tế hàng đầu, càng đòi hỏi sự chuyên nghiệp, tự tin và tinh thần trách nhiệm cao. Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế do tiếp tục thực hiện chủ trương tinh giản biên chế, Bộ Tư pháp cần có các giải pháp phù hợp nhằm bảo đảm sử dụng hiệu quả đội ngũ công chức, viên chức hiện có để đáp ứng yêu cầu chất lượng ngày càng cao trong thực hiện nhiệm vụ.
3.2. Yêu cầu đặt ra cho công tác pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp trong kỷ nguyên mới
Thứ nhất, thực hiện nghiêm, hiệu quả những chủ trương, định hướng của Đảng liên quan đến phát triển công tác pháp luật quốc tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu, rộng của đất nước. Trên cơ sở đó, tăng cường nhận thức đúng, đầy đủ cho cán bộ, công chức, đảng viên của Bộ, ngành Tư pháp về vai trò của pháp luật quốc tế trong quá trình này của Việt Nam.
Thứ hai, chủ động, tích cực hơn trong tham gia xây dựng quy tắc pháp lý quốc tế; phát huy tối đa vai trò của pháp luật quốc tế, coi pháp luật quốc tế là một trong những công cụ quan trọng để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế và giải quyết các vấn đề quốc tế cũng như bảo vệ lợi ích của quốc gia, nhất là trong giải quyết các tranh chấp quốc tế liên quan tới Nhà nước, cơ quan nhà nước Việt Nam; tiếp tục góp phần hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.
Bộ Tư pháp cần tiếp tục nâng tầm nhận thức, tư duy về hội nhập theo tinh thần chủ động đóng góp, tích cực tham gia xây dựng, định hình thể chế pháp lý nhằm góp phần bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia, lợi ích hợp pháp của công dân, doanh nghiệp Việt Nam. Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam ngày càng tham gia vào nhiều định chế quốc tế, hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế quốc tế, uy tín, vị thế quốc tế của đất nước không ngừng được nâng lên. Do đó, trong quá trình tham gia đàm phán điều ước quốc tế, Bộ Tư pháp cần chủ động đề xuất xây dựng các quy tắc pháp lý quốc tế phù hợp với lợi ích của Việt Nam và lợi ích chung của quốc tế, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, đóng góp tích cực cho sự phát triển của pháp luật quốc tế hiện đại, vì mục tiêu hòa bình, công lý, hữu nghị và phát triển của đất nước và cộng đồng quốc tế.
Cùng với đó, Bộ Tư pháp cần tích cực tuyên truyền nâng cao nhận thức về vị trí và vai trò của điều ước quốc tế, pháp luật quốc tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu, rộng của đất nước cho các bộ, ngành, địa phương. Điều này giúp Việt Nam tận dụng được lợi thế từ các cam kết quốc tế; tiếp thu có chọn lọc các quy định pháp luật quốc tế tiến bộ, phù hợp với điều kiện Việt Nam; góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, đóng góp tích cực cho sự phát triển của pháp luật quốc tế hiện đại, vì mục tiêu hòa bình, công lý, hữu nghị và phát triển đất nước và cộng đồng quốc tế.
Thứ ba, bảo đảm khuôn khổ pháp luật về tư pháp quốc tế có thể xử lý, điều chỉnh hiệu quả các quan hệ có yếu tố nước ngoài; nghiên cứu hoàn thiện các quy phạm pháp luật xử lý xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền; xây dựng Bộ Tư pháp thành trung tâm lớn về tư pháp quốc tế của cả nước.
Thứ tư, đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học về pháp luật quốc tế; bảo đảm cán bộ, công chức ngành Tư pháp đều được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về pháp luật quốc tế phù hợp để thực hiện nhiệm vụ, tiến tới có thể mở rộng trang bị kiến thức pháp luật quốc tế cho cán bộ, công chức làm công tác pháp luật, pháp chế của các bộ, ngành, địa phương; từng bước hình thành đội ngũ chuyên gia sâu về các lĩnh vực chủ yếu của pháp luật quốc tế ngang tầm khu vực và quốc tế, sẵn sàng đáp ứng đủ điều kiện làm việc tại các tổ chức quốc tế về pháp luật và tư pháp; công tác dự báo, đánh giá, nghiên cứu khoa học pháp luật quốc tế cần đi trước một bước để góp phần tham mưu, đề xuất chính sách sát với yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước.
Thứ năm, tăng cường ứng dụng chuyển đổi số, công nghệ thông tin, sử dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác pháp luật quốc tế, bảo đảm hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả trong bối cảnh tinh giản bộ máy, biên chế và yêu cầu đối với công tác pháp luật quốc tế ngày một nâng cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu, rộng. Điều này cần sự đầu tư bài bản trong lĩnh vực chuyển đổi số, công nghệ thông tin và đào tạo nâng cao kỹ năng ứng dụng công nghệ số, công nghệ thông tin cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, là giai đoạn vươn lên mãnh liệt, tạo sự phát triển vượt bậc ở một tầm cao mới, trình độ mới, chất lượng mới, xác lập vị thế quốc gia trên trường quốc tế, tạo nền tảng cho bước phát triển đột phá kế tiếp. Do đó, công tác pháp luật quốc tế cần có sự chuyển biến mạnh mẽ, như Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp ngày 07/11/2024 tại Thông báo số 108/TB-VPTW. Để thực hiện nhiệm vụ này, Bộ Tư pháp cần nâng cao hơn nữa sự chủ động và chất lượng tham gia hoàn thiện thể chế, pháp luật quốc tế và pháp luật trong nước để thực hiện tốt cam kết quốc tế của Việt Nam; làm tốt vai trò là “cầu nối” tiếp thu có chọn lọc những quy định pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài hiện đại, phù hợp với điều kiện Việt Nam nhằm xây dựng hệ thống pháp luật trong nước tiệm cận với pháp luật quốc tế, góp phần nâng cao vị thế, bảo vệ lợi ích của Việt Nam trên trường quốc tế./.
Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp
[1]. Mục 9 Phần IV Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW).
[2]. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
[3]. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW).
[4]. Mục 3.5 Thông báo số 108-TB/VPTW ngày 18/11/2024 của Văn phòng Trung ương Đảng về Kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp vào ngày 07/11/2024.
[5]. Nghị quyết số 25-NQ/BCSĐ ngày 14/4/2022 của Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp về những định hướng lớn về công tác pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp đến năm 2030.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm đặc biệt “Ngành Tư pháp - Tự hào truyền thống, vững bước tương lai”)