1. Quá trình hình thành và phát triển của Cục Bồi thường nhà nước
1.1. Bối cảnh xây dựng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Kế thừa và phát triển những giá trị của Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp năm 1959 tiếp tục ghi nhận và mở rộng các quyền tự do, dân chủ của công dân, trong đó, lần đầu tiên ghi nhận quyền được Nhà nước bồi thường. Hiến pháp năm 1980 tiếp tục quy định quyền được Nhà nước bồi thường tại Điều 73, Hiến pháp năm 1992 quy định quyền được Nhà nước bồi thường tại Điều 72 và Điều 74. Các quyền hiến định của công dân đã được cụ thể hóa thành các quyền dân sự trong Bộ luật Dân sự năm 1995. Tuy nhiên, các quyền này chưa có cơ chế cụ thể để bảo đảm thực hiện, đặc biệt là đối với những người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự. Trước thực trạng này, ngày 02/01/2002, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, trong đó, yêu cầu phải “khẩn trương ban hành và tổ chức thực hiện nghiêm túc các văn bản pháp luật về bồi thường thiệt hại đối với những trường hợp oan, sai trong hoạt động tố tụng”. Ngày 17/3/2003, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra (Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11).
Thực tiễn thi hành Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 cho thấy, Nghị quyết này ra đời đã phần nào đáp ứng được những yêu cầu về quyền được bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự. Đồng thời, công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp và xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đã đặt ra yêu cầu tiếp tục nghiên cứu, xây dựng thể chế về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để bảo đảm tốt hơn quyền được Nhà nước bồi thường theo hướng không chỉ bảo đảm quyền được bồi thường cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự mà cần mở rộng sang các lĩnh vực hoạt động khác của Nhà nước. Chính vì vậy, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48-NQ/TW) đã đặt ra nhiệm vụ “khẩn trương ban hành Luật về bồi thường nhà nước” (điểm 2 mục II). Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Bộ Tư pháp đã giúp Chính phủ tiến hành tổng kết toàn diện thực tiễn thi hành các quy định về quyền được Nhà nước bồi thường, nghiên cứu pháp luật và kinh nghiệm nước ngoài để từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng dự án Luật Bồi thường nhà nước.
Ngày 18/6/2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Luật năm 2009). Đây là lần đầu tiên quyền được Nhà nước bồi thường được điều chỉnh bằng một luật riêng. Luật này đã nhất thể hóa pháp luật về bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra; thiết lập cơ chế pháp lý mới, đồng bộ, hiệu quả để thực hiện đồng thời hai mục tiêu là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án và nâng cao ý thức trách nhiệm trong thi hành công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức.
Luật năm 2009 đã có những tác động mạnh mẽ, tạo nên sự chuyển biến tích cực cả về nhận thức pháp luật cũng như nâng cao ý thức trách nhiệm công vụ trong đội ngũ cán bộ, công chức, đồng thời, thúc đẩy việc giải quyết bồi thường đối với các trường hợp bị thiệt hại phức tạp, kéo dài phát sinh mà trước đây chưa giải quyết được. Sau khi Luật năm 2009 được thông qua, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ban, ngành và địa phương xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành, đồng thời thực hiện đồng bộ các giải pháp thi hành Luật này. Sau hơn 06 năm triển khai thi hành, Luật năm 2009 đã thực sự trở thành công cụ pháp lý quan trọng để tổ chức, cá nhân bảo vệ, quyền, lợi ích hợp pháp của mình, phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức nói riêng, cũng như chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung. Thực tiễn thi hành Luật năm 2009 cho thấy, Luật đã thực sự đi vào cuộc sống và cơ bản đã đạt được các mục tiêu đề ra, hoàn thành được vai trò, sứ mệnh của mình trong giai đoạn này[1].
Tuy nhiên, trước những thay đổi về yêu cầu bảo đảm, bảo vệ quyền con người, về tình hình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, sự phát triển của hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp, cải cách hành chính, cũng như đáp ứng yêu cầu triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 thì Luật năm 2009 đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Do đó, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các bộ, ngành và địa phương tổng kết thực tiễn thi hành Luật năm 2009 làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung Luật này. Ngày 20/6/2017, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 10/2017/QH14, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2018. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 (Luật năm 2017) được ban hành với nhiều điểm mới quan trọng đã góp phần bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan trong công tác bồi thường nhà nước.
Để hướng dẫn thi hành Luật năm 2017, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành 01 nghị định; ban hành hoặc liên tịch ban hành 06 thông tư, thông tư liên tịch, 01 quyết định, đồng thời thực hiện đồng bộ các giải pháp để triển khai thi hành Luật.
1.2. Thành lập Cục Bồi thường nhà nước
Căn cứ Luật năm 2009, Nghị định số 16/2010/NĐ-CP ngày 03/3/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và xuất phát từ nhu cầu cần thiết của quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước, bảo đảm thực hiện có hiệu quả cơ chế trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Bộ Tư pháp đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ Đề án “Xây dựng Cục Bồi thường nhà nước trực thuộc Bộ Tư pháp và kiện toàn bộ máy tổ chức thuộc Sở Tư pháp, tổ chức pháp chế để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác bồi thường”.
Ngày 23/5/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 767/QĐ-TTg thành lập Cục Bồi thường nhà nước trực thuộc Bộ Tư pháp để giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác bồi thường. Trên cơ sở Quyết định số 767/QĐ-TTg, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1128/QĐ-BTP ngày 05/7/2011 (đã được thay thế bằng Quyết định số 638/QĐ-BTP ngày 06/4/2018) quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Bồi thường nhà nước. Theo đó, Cục Bồi thường nhà nước là đơn vị thuộc Bộ Tư pháp có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước và tổ chức thi hành pháp luật về công tác bồi thường nhà nước theo quy định của pháp luật.
Trong 10 năm qua, trên cơ sở quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì chức năng, nhiệm vụ của Cục ngày càng được mở rộng để đáp ứng yêu cầu tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường. Theo đó, bên cạnh những nhiệm vụ quản lý nhà nước chung như các lĩnh vực khác, Cục Bồi thường nhà nước còn có các nhiệm vụ quản lý nhà nước đặc thù về công tác bồi thường nhà nước như: Hướng dẫn nghiệp vụ, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra công tác bồi thường nhà nước, hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường, tham gia xác minh thiệt hại, thương lượng việc bồi thường; xác định cơ quan giải quyết bồi thường; phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) thực hiện công tác bồi thường...
Có thể khẳng định rằng, việc thành lập Cục Bồi thường nhà nước và những kết quả công tác của Cục trong 10 năm qua đã đáp ứng được những đòi hỏi, yêu cầu trong việc quản lý nhà nước, tổ chức thi hành pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, qua đó góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại cũng như bảo vệ lợi ích của Nhà nước.
Hiện nay, cơ cấu tổ chức của Cục Bồi thường nhà nước có 03 tổ chức hành chính gồm: Văn phòng Cục; Phòng Nghiệp vụ công tác bồi thường nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án (Phòng Nghiệp vụ 1); Phòng Nghiệp vụ công tác bồi thường nhà nước trong hoạt động tố tụng (Phòng Nghiệp vụ 2) và 01 đơn vị sự nghiệp công lập - Trung tâm Hỗ trợ thực hiện quyền yêu cầu bồi thường. Cục có tổng số 28 biên chế trên tổng số 30 biên chế được giao, trong đó có 18 công chức, 01 lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ về thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp và 09 viên chức. Công chức, viên chức, người lao động của Cục đều có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên (02 tiến sĩ, 12 thạc sỹ, 14 cử nhân), bao gồm 02 chuyên viên cao cấp, 07 chuyên viên chính, 19 chuyên viên; về trình độ lý luận chính trị, có 08 cao cấp, 13 trung cấp, 07 sơ cấp.
Công tác quy hoạch cán bộ, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại các chức danh lãnh đạo, quản lý tại Cục luôn được thực hiện bài bản, nghiêm túc, đúng quy trình, thủ tục, bám sát hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương và Kế hoạch của Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp, bảo đảm tính khách quan, công khai, minh bạch và khả thi; việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ được thực hiện đúng quy định pháp luật, phù hợp với vị trí việc làm, năng lực của từng công chức, viên chức, người lao động. Đến nay, đội ngũ công chức, viên chức, người lao động thuộc Cục đã đáp ứng tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo quy định; có đủ năng lực để triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao[2].
Các tổ chức Đảng và đoàn thể thuộc Cục luôn được quan tâm củng cố và kiện toàn về tổ chức và hoạt động. Hiện nay, Chi bộ cơ sở Cục Bồi thường nhà nước có 24 đảng viên (22 đảng viên chính thức). Trong suốt 10 năm qua, Chi bộ đã lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức đoàn thể của Cục đoàn kết nhất trí, khắc phục khó khăn, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao. Công đoàn cơ sở Cục cũng luôn chăm lo, động viên về vật chất và tinh thần cho các công đoàn viên với nhiều hình thức hoạt động phong phú, đa dạng. Đoàn Thanh niên Cục luôn đoàn kết, sáng tạo, nhiệt tình trong mọi hoạt động và thu được nhiều kết quả đáng khích lệ.
2. Một số thành tựu công tác nổi bật
Với sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Ban Cán sự Đảng, Đảng ủy Lãnh đạo Bộ qua các thời kỳ và sự nỗ lực không ngừng của tập thể lãnh đạo, công chức, viên chức, người lao động trong đơn vị, thời gian qua, Cục Bồi thường nhà nước đã đạt được nhiều thành tích trong công tác, luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần thiết thực vào việc hoàn thành nhiệm vụ chung của Bộ, Ngành Tư pháp, cụ thể:
2.1. Công tác chỉ đạo điều hành
Hoạt động chỉ đạo, điều hành của tập thể Lãnh đạo Cục luôn theo đúng chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ, bảo đảm tính khoa học; nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch và khách quan được thực hiện nghiêm túc, đề cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu, tăng cường kỷ luật, kỷ cương công tác, thực hiện đầy đủ các nội quy, quy chế làm việc của Bộ và của Cục.
Hiệu quả công tác chỉ đạo điều hành trong thời gian qua của tập thể Lãnh đạo Cục Bồi thường nhà nước được thể hiện trên các mặt công tác, đặc biệt là trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và công tác quản lý nhà nước, quản lý chuyên ngành về bồi thường nhà nước và sự đoàn kết, thống nhất trong tập thể công chức, viên chức, người lao động thuộc Cục đã giúp vượt qua những khó khăn, thách thức để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ phân công.
2.2. Công tác tổ chức thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Trên cơ sở các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã được ban hành, thực hiện nhiệm vụ được giao, Cục Bồi thường nhà nước đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan chuyên môn của TANDTC, VKSNDTC, các bộ, ngành và địa phương tổ chức thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trên các mặt công tác, cụ thể:
Một là, công tác quán triệt, triển khai thi hành Luật
Sau khi Luật năm 2009 được thông qua, Cục đã tham mưu ban hành các chỉ thị, quyết định của Thủ tướng Chính phủ để chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ triển khai thi hành Luật, bảo đảm việc triển khai thi hành đồng bộ, thống nhất ở các bộ, ngành cũng như tại các địa phương trên phạm vi toàn quốc. Đồng thời, Cục đã tham mưu cho các bộ trong việc tổ chức các hội nghị quán triệt, triển khai thi hành Luật trên phạm vi toàn quốc cho đối tượng là lãnh đạo các bộ, ngành, ủy ban nhân dân cấp tỉnh, lãnh đạo tổ chức pháp chế các bộ, ngành, Sở Tư pháp, các sở, ngành.
Hai là, xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Xác định được tầm quan trọng của việc hoàn thiện thể chế đối với việc triển khai thực hiện hiệu quả công tác bồi thường nhà nước, ngay từ những ngày đầu thành lập, Cục Bồi thường nhà nước đã tập trung vào việc nghiên cứu, tham mưu xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật năm 2009. Trong giai đoạn 2011 -2015, Cục Bồi thường nhà nước đã chủ trì soạn thảo, phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền soạn thảo, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành 17 văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật năm 2009, bảo đảm đủ cơ sở pháp lý cả về quản lý nhà nước, về công tác bồi thường nhà nước cũng như về giải quyết yêu cầu bồi thường và xem xét trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại.
Đặc biệt, trước những thay đổi về yêu cầu bảo đảm, bảo vệ quyền con người, về tình hình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế cũng như sự phát triển của hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp, cải cách hành chính của đất nước, đồng thời để triển khai thi hành các quy định về bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân tại Hiến pháp năm 2013, Cục Bồi thường nhà nước đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tham mưu cho Bộ Tư pháp xây dựng, trình Quốc hội ban hành Luật năm 2017 với nhiều điểm mới quan trọng để bảo đảm hơn nữa tính khả thi của cơ chế trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại cũng như bảo đảm lợi ích của Nhà nước.
Để hướng dẫn thi hành Luật năm 2017, trong giai đoạn 2018 - 2019, Cục đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan xây dựng, trình các cơ quan có thẩm quyền ban hành 07 văn bản quy phạm pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, trong đó có 01 nghị định[3], 06 thông tư, thông tư liên tịch[4] và 01 quyết định[5].
Ba là, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Từ năm 2011 đến nay, Cục Bồi thường nhà nước đã biên soạn và xuất bản nhiều ấn phẩm phục vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước như sách hỏi đáp, sách Nghiệp vụ, sách Nghiên cứu, các số chuyên đề Tạp chí về thực tiễn thi hành và hoàn thiện thể chế về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; tờ rơi, tờ gấp tuyên truyền pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; xây dựng nội dung, kịch bản và phối hợp thực hiện phát sóng trên kênh truyền hình cũng như xây dựng nội dung, kịch bản video tuyên truyền về quyền yêu cầu bồi thường cho đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, chuyên trang về bồi thường nhà nước trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp thường xuyên cập nhật các hoạt động, tin bài liên quan đến công tác bồi thường nhà nước, trao đổi nghiệp vụ trực tuyến và giải đáp vướng mắc pháp luật trực tuyến trên phạm vi toàn quốc phục vụ tốt nhất nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu và trao đổi những vấn đề về pháp luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cho mọi đối tượng.
Bốn là, công tác tập huấn, bồi dưỡng, kỹ năng nghiệp vụ
Công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác bồi thường nhà nước được Cục Bồi thường nhà nước thực hiện thường xuyên, hiệu quả, chất lượng. Theo đó, công tác tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ giải quyết bồi thường được thực hiện không chỉ gia tăng về số lượng mà còn được tổ chức bài bản, hiệu quả hơn, trong đó, chú trọng đến việc tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu cho từng lĩnh vực cụ thể để cán bộ, công chức đang công tác trong lĩnh vực đó có thể lĩnh hội nhanh chóng các kiến thức, kỹ năng cần thiết, bảo đảm thực hiện tốt các quy định của Luật khi có phát sinh yêu cầu bồi thường trên thực tiễn. Từ năm 2011 đến nay, Cục đã tổ chức hàng trăm hội nghị, hội thảo, tọa đàm, tập huấn về công tác bồi thường nhà nước. Ngoài ra, Cục đã phối hợp cử nhiều lượt báo cáo viên tại hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác bồi thường nhà nước do Bộ, ngành, địa phương tổ chức.
Năm là, công tác quản lý nhà nước chuyên ngành về công tác bồi thường nhà nước
- Công tác hướng dẫn nghiệp vụ, giải đáp vướng mắc pháp luật, cung cấp thông tin, hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường được Cục thực hiện kịp thời, hiệu quả. Từ năm 2011 đến nay, hàng năm, Cục Bồi thường nhà nước đã hướng dẫn nghiệp vụ, giải đáp vướng mắc pháp luật, hỗ trợ thực hiện quyền yêu cầu bồi thường cho hàng trăm cơ quan, tổ chức và cá nhân trong cả nước có nhu cầu giải đáp, hỗ trợ hoặc có nhu cầu được hướng dẫn nghiệp vụ.
- Công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra công tác bồi thường nhà nước được thực hiện thường xuyên, chủ động, nhất là tại các bộ, ngành, địa phương phát sinh vụ việc phức tạp, kéo dài, được dư luận xã hội quan tâm. Hàng năm, Cục thường xuyên thực hiện theo dõi hoạt động giải quyết bồi thường, chi trả tiền bồi thường và thực hiện trách nhiệm hoàn trả trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án trên phạm vi cả nước, xây dựng được danh mục vụ việc làm cơ sở cho việc thực hiện các giải pháp và nhiệm vụ quản lý nhà nước khác; tổ chức nhiều đoàn kiểm tra công tác bồi thường nhà nước tại các bộ, ngành, địa phương dưới nhiều hình thức và quy mô với mục đích phù hợp với yêu cầu tổ chức thi hành pháp luật trong từng giai đoạn như kiểm tra liên ngành, kiểm tra định kỳ và kiểm tra đột xuất nhằm nắm bắt, đánh giá hiệu quả và thực chất của công tác bồi thường nhà nước để qua đó, sơ kết, tổng kết thực tiễn thi hành Luật, rút kinh nghiệm cho các cơ quan, tổ chức và thực hiện hoặc đề xuất thực hiện các giải pháp, biện pháp khắc phục hạn chế để qua đó thúc đẩy hiệu quả thực hiện công tác bồi thường nhà nước.
Sáu là, công tác phối hợp liên ngành, hợp tác quốc tế thực hiện công tác bồi thường nhà nước
Từ năm 2011 đến nay, Cục Bồi thường nhà nước đã phối hợp với các đơn vị chuyên môn thuộc TANDTC, VKSNDTC, các bộ, ngành và địa phương tổ chức thực hiện các hoạt động phối hợp liên ngành với nhiều hình thức như hội nghị, tọa đàm, họp liên ngành để triển khai, đánh giá công tác phối hợp và giải pháp thực hiện công tác bồi thường nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án. Bên cạnh đó, Cục Bồi thường nhà nước cũng đã tích cực, chủ động phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ trong thực hiện công tác bồi thường nhà nước.
Để tăng cường nguồn lực cho một số nhiệm vụ công tác bồi thường nhà nước, hàng năm, Cục Bồi thường nhà nước phối hợp chặt chẽ với Vụ Hợp tác quốc tế và các tổ chức quốc tế như Dự án JICA, Dự án EU JULE, Dự án GIG và một số tổ chức quốc tế để huy động các nguồn lực phục vụ cho công tác triển khai thực hiện nhiệm vụ.
Bảy là, kết quả giải quyết yêu cầu bồi thường
Từ ngày 01/01/2010 đến ngày 31/12/2020, theo báo cáo của các cơ quan có trách nhiệm bồi thường, cả nước đã thụ lý, giải quyết tổng số 478 vụ việc, trong đó, đã giải quyết xong 421 vụ việc, với tổng số tiền Nhà nước phải bồi thường được xác định trong các quyết định giải quyết bồi thường, bản án, quyết định của Tòa án giải quyết các vụ án dân sự về bồi thường nhà nước có hiệu lực pháp luật là 225.386.506.000 đồng.
3. Nhiệm vụ và giải pháp trong thời gian tới
Trong thời gian tới, việc tiếp tục tổ chức thi hành Hiến pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật có liên quan đến lĩnh vực bồi thường nhà nước đặt ra yêu cầu mới đối với các hoạt động của Bộ, Ngành Tư pháp nói chung và của Cục Bồi thường nhà nước nói riêng như: Xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, có hiệu lực, hiệu quả cao, có sức cạnh tranh quốc tế, lấy quyền và lợi ích hợp pháp của người dân là trung tâm, bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước; nâng cao hiệu quả công tác bồi thường nhà nước, chú trọng bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Trên cơ sở nhận thức đầy đủ thuận lợi và khó khăn, thách thức, trong thời gian tới, Cục Bồi thường nhà nước cần tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác, cụ thể là:
Thứ nhất, triển khai công tác trên cơ sở quán triệt đầy đủ quan điểm của Đảng tại các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, thực hiện các kết luận của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đặt trong tổng thể các giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động của Ngành Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện hiệu quả nhiệm vụ xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.
Thứ hai, tiếp tục tổng hợp, đánh giá, nghiên cứu hoàn thiện thể chế về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế xã hội giai đoạn 2021 - 2025, thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội, tạo tiền đề cho việc phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2025 - 2030.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp với bộ, ngành, địa phương; tăng cường phối hợp với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân trong thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước, trong đó chú trọng phối hợp giải quyết các vụ việc tồn đọng, kéo dài, các vụ việc đã thụ lý tiếp theo.
Thứ tư, tổ chức thực hiện hội nghị tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ chuyên sâu quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước; giải quyết bồi thường và kỹ năng, nghiệp vụ về hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án cho đội ngũ công chức của Sở Tư pháp và các sở, ngành chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, phòng Tư pháp.
Thứ năm, thực hiện có hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án, trong đó tập trung rà soát, lập danh sách các vụ việc yêu cầu bồi thường còn tồn đọng để kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc giải quyết theo quy định của pháp luật; tăng cường theo dõi, đôn đốc để nắm thực chất tình hình yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường, gắn công tác kiểm tra với việc theo dõi chấp hành các kết luận kiểm tra để kịp thời chấn chỉnh, xử lý các vi phạm.
Thứ sáu, tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trong Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Cục đã được Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt. Trong đó, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, trình độ chuyên môn đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong đơn vị để thực hiện ngày càng hiệu quả hơn những nhiệm vụ được giao.
Cục trưởng Cục Bồi thường nhà nước
[1]. Tờ trình số 336/TTr-CP ngày 23/9/2016 của Chính phủ về dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi).
[2]. Từ khi được thành lập (ngày 23/5/2011) đến nay, Cục Bồi thường nhà nước đã thực hiện quy trình, thủ tục bổ nhiệm 01 chức danh Cục trưởng, 03 Phó Cục trưởng; bổ nhiệm lại 02 Phó Cục trưởng; bổ nhiệm 04 chức danh Trưởng phòng; 04 chức danh Phó Trưởng phòng và tương đương; 24 công chức, viên chức thuộc Cục đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch các chức danh lãnh đạo cấp Vụ và cấp phòng giai đoạn 2014 - 2016, giai đoạn 2016 - 2021 và giai đoạn 2021 - 2026; tiếp nhận, tuyển dụng mới 05 công chức, 09 viên chức qua hình thức sát hạch không thi tuyển, thu hút từ các cơ quan và đơn vị thuộc Bộ; cử 109 lượt công chức tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng do Bộ Tư pháp tổ chức; động viên, khuyến khích công chức tự học tập, nâng cao trình độ.
[3]. Nghị định số 68/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
[4]. (i) Thông tư số 04/2018/TT-BTP ngày 17/5/2018 của Bộ Tư pháp ban hành một số biểu mẫu trong công tác bồi thường nhà nước; (ii) Thông tư số 11/2018/TT-BTP ngày 30/7/2018 của Bộ Tư pháp bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành, liên tịch ban hành trong lĩnh vực bồi thường nhà nước; (iii) Thông tư liên tịch số 15/2018/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 27/11/2018 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao bãi bỏ Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BTP-TANTC-VKSNDTC ngày 23/01/2014 giữa Bộ trưởng Bộ Tư pháp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ; (iv) Thông tư liên tịch số 17/2018/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT ngày 20/12/2018 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc bãi bỏ Thông tư liên tịch số 22/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT ngày 21/11/2014 giữa Bộ trưởng Bộ Tư pháp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động tố tụng; (v) Thông tư số 08/2019/TT-BTP ngày 10/12/2019 của Bộ Tư pháp quy định biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước; (vi) Thông tư số 09/2019/TT-BTP ngày 10/12/2019 của Bộ Tư pháp quy định biện pháp hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường nhà nước.
[5]. Quyết định số 3062/QĐ-BTP ngày 11/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Bộ Tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện công tác bồi thường nhà nước.