Thứ bảy 24/10/2026 04:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đề xuất chính sách xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, giải quyết được các vướng mắc hiện nay trong công tác quản lý thuế

Đây là ý kiến của Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú tại phiên họp ngày 24/7/2025 của Hội đồng thẩm định chính sách dự án Luật Quản lý thuế
Đề xuất chính sách xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, giải quyết được các vướng mắc hiện nay trong công tác quản lý thuế
Toàn cảnh phiên họp.

Báo cáo tại phiên họp, đồng chí Nguyễn Thị Thanh Hằng, Trưởng ban Chính sách Thuế, Cục Thuế, Bộ Tài chính cho biết, Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 được Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 13/6/2019 (thay thế cho Luật năm 2006 và các Luật sửa đổi, bổ sung) với hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2020. Sau hơn 05 năm thực hiện, Luật Quản lý thuế hiện hành đã bộc lộ một số bất cập do chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới; nhiều pháp luật chuyên ngành có liên quan đã được sửa đổi, bổ sung dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật; xu hướng cải cách thuế của các nước tập trung vào việc hiện đại hóa toàn diện hệ thống quản lý thuế thông qua chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ tiên tiến. Vì vậy, việc thực hiện quy trình xây dựng chính sách của dự án Luật Quản lý Thuế trước khi soạn thảo Luật là rất cần thiết.

Đề xuất chính sách xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, giải quyết được các vướng mắc hiện nay trong công tác quản lý thuế
Đồng chí Nguyễn Thị Thanh Hằng, Trưởng ban Chính sách Thuế, Cục Thuế, Bộ Tài chính báo cáo tại phiên họp.

06 Nhóm chính sách được đề xuất tại dự án Luật Quản lý thuế

Chính sách 1: Đơn giản thủ tục hành chính trong quản lý thuế.

Chính sách 1 có những nội dung cơ bản như: (i) Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính về thành phần hồ sơ, quy trình xử lý, thời gian giải quyết, hỗ trợ người nộp thuế trong công tác đăng ký, kê khai, quyết toán, hoàn thuế nhằm giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp; (ii) Mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin, điện tử hóa và tự động hóa quy trình giải quyết thủ tục hành chính, nâng cao tỷ lệ cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình; (iii) Tăng cường liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin trong và ngoài ngành; (iv) Nâng cao công tác phối hợp giữa cơ quan thuế và các cơ quan liên quan, nhất là trong các thủ tục liên thông, thủ tục cần xác minh, xác nhận thông tin ... để rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ.

Chính sách 2: Phân cấp, phân quyền trong công tác quản lý thuế.

Nội dung của chính sách: (i) Phân cấp cho Chính phủ trong việc quy định các biện pháp tổ chức thực hiện, hướng dẫn Luật; (ii) Phân cấp, phân quyền quyết định về quản lý thuế cho Bộ Tài chính: Quy định rõ ràng và mở rộng thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính; (iii) Phân cấp trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ: Chia trách nhiệm, quyền hạn giữa các cấp quản lý thuế để tăng cường hiệu quả công tác, giảm tải cho các cơ quan quản lý trung ương và tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế; (iv) Phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có liên quan trong công tác quản lý thuế.

Chính sách 3: Tự động hóa và chuyển đổi số trong quản lý thuế.

Nội dung của chính sách: (i) Thiết lập hệ thống quản lý thuế số toàn diện, tập trung, thông minh; (ii) Xây dựng hệ thống quản lý thuế tích hợp, tập trung, đa dịch vụ, liên thông giữa các quy trình nghiệp vụ (đăng ký thuế - khai thuế - nộp thuế - kế toán thuế - hoàn thuế - miễn giảm - quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, kiểm tra thuế, tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế,...) nhằm giảm thiểu sự tác động, xử lý thủ công của con người trong các bước quy trình nghiệp vụ, giúp giảm thời gian xử lý thủ tục hành chính cho người nộp thuế, tăng hiệu suất, hiệu quả của cơ quan thuế và minh bạch công tác quản lý thuế; (iii) Đồng bộ hệ thống cơ sở dữ liệu về thuế, hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử và kết quả xử lý thủ tục hành chính trên một nền tảng duy nhất (Cổng dịch vụ công quốc gia); (iv) Ứng dụng các công nghệ mới để tự động hóa các quy trình nghiệp vụ, xử lý hồ sơ, cảnh báo rủi ro và phát hiện gian lận.

Chính sách 4: Quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.

Chính sách 4 có những nội dung chính như sau:

Phân loại đối tượng hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh để quản lý theo quy mô doanh thu; xác định phương pháp tính thuế đồng bộ với luật thuế giá trị gia tăng, thu nhập cá nhân.

Áp dụng phương pháp quản lý thuế linh hoạt và theo rủi ro: (i) Đối với cá nhân kinh doanh (hộ kinh doanh) thì áp dụng phương thức quản lý thuế theo kê khai của người nộp thuế kết hợp dữ liệu từ hóa đơn điện tử, từ các tài khoản thanh toán qua ngân hàng, từ các nền tảng số, sàn thương mại điện tử; (ii) Đối với cá nhân kinh doanh (hộ kinh doanh) nhỏ lẻ, lưu động, rủi ro thấp: Bổ sung quy định cơ quan thuế hỗ trợ tạo lập tờ khai gợi ý từ ứng dụng hệ thống của cơ quan thuế cho người nộp thuế để kiểm tra xác nhận nghĩa vụ thuế phải nộp; (iii) Xây dựng cơ chế quản lý theo rủi ro thay vì quản lý đồng loạt: Hồ sơ minh bạch, nộp thuế đơn giản, kiểm tra ngẫu nhiên; (iv) Bổ sung quy định nghĩa vụ thuế đơn giản riêng cho cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ.

Thúc đẩy sử dụng công nghệ trong khai, nộp thuế: Bổ sung quy định tại Luật về việc bắt buộc hoặc khuyến khích sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế (bao gồm hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế). Triển khai ứng dụng di động đơn giản hóa khai thuế, nộp thuế, tra cứu nghĩa vụ thuế của cá nhân kinh doanh (hộ kinh doanh).

Đơn giản thủ tục hành chính thuế, chế độ kế toán: Giảm tần suất kê khai, nộp thuế đối với cá nhân kinh doanh có doanh thu thấp; quy định cho cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ không có kế toán nhưng sử dụng sổ sách để ghi chép doanh thu thực tế.

Bổ sung quy định để khuyến khích cá nhân kinh doanh (hộ kinh doanh) chuyển đổi hình thức kinh doanh sang doanh nghiệp siêu nhỏ, vừa và nhỏ: Quy định tỷ lệ phần trăm trên doanh thu đảm bảo công bằng giữa cá nhân kinh doanh (hộ kinh doanh) có doanh thu tương đương doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Chính sách 5: Kiểm tra thuế, kiểm tra giá giao dịch liên kết.

Nội dung của chính sách: (i) Rà soát, sửa đổi Luật đối với nội dung cơ quan thuế thực hiện kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế, tại cơ quan thuế bao gồm kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất, kiểm tra theo chuyên đề, kiểm tra theo phân tích rủi ro; (ii) Bổ sung tăng cường hiệu lực công tác kiểm tra thuế, bổ sung quy định kiểm tra lại trong hoạt động kiểm tra thuế, bổ sung quy định về kiểm tra giá chuyển nhượng để bảo đảm cơ sở pháp lý để thực hiện và tăng cường kỷ luật trong công tác quản lý thuế; bổ sung quy định về kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về chính sách thuế, phí, lệ phí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Chính sách 6: Hoàn thiện quy định về tổ chức quản lý thuế.

Nội dung của chính sách: Sửa đổi, bổ sung quy định để xử lý toàn diện các bất cập, vướng mắc từ thực tiễn như: Sửa đổi tên gọi của cơ quan quản lý thuế và các cơ quan khác; sửa đổi quy định về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý thuế và các cơ quan khác; sửa đổi quy định để đồng bộ với pháp luật liên quan; sửa đổi quy định để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thuế; sửa đổi quy định nhằm đảm bảo tính công bằng, minh bạch và đảm bảo quyền lợi người nộp thuế.

Cân nhắc, nghiên cứu, bổ sung các cơ chế quản lý, giám sát và kiểm tra hoạt động kê khai, nộp thuế của các tổ chức, cá nhân có phát sinh các hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử hoặc mạng xã hội

Đề xuất chính sách xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, giải quyết được các vướng mắc hiện nay trong công tác quản lý thuế
Đề xuất chính sách xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, giải quyết được các vướng mắc hiện nay trong công tác quản lý thuế
Các đại biểu tham dự phát biểu ý kiến tại phiên họp.

Trao đổi tại phiên họp thẩm định, các đại biểu tham dự đánh giá cao, cơ bản nhất trí với 06 chính sách, tuy nhiên, các đại biểu cũng đưa ra một số góp ý như: (i) Đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cân nhắc chính sách 3, do đây chỉ là giải pháp thay đổi cách thức thực hiện thủ tục hành chính, không phải là nhóm chính sách, nên cân nhắc lồng ghép vào nhóm cắt giảm, đơn giản thủ tục hành chính; (ii) Nội dung về kê khai, nộp thuế đối với doanh nghiệp siêu nhỏ bao gồm cả hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trong Luật nên quy định chung về quy tắc, phần hướng dẫn chi tiết đề nghị quy định chi tiết tại nghị định và hướng dẫn cụ thể ở cấp thông tư để bảo đảm dễ dàng cho hộ kinh doanh khi kê khai; (iii) Dự án Luật có phạm vi, đối tượng lớn, có tác động, ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội. Vì vậy, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cần có phương án triển khai cụ thể và các phương án dự phòng (nếu có), giải pháp hỗ trợ, hướng dẫn kỹ thuật đối với một số nội dung như: Phần mềm hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền; phương án đối với hộ cá nhân kinh doanh thuộc diện phải triển khai nộp thuế tính theo doanh thu của máy tính tiền nhưng chưa có điều kiện chuyển đổi vì những lý do khách quan khác nhau hay phương án khi bắt đầu triển khai sẽ có nhiều hộ kinh doanh cùng thực hiện sẽ gây nghẽn, ách tắc cục bộ; (iv) Hiện nay, nhiều cá nhân, tổ chức kinh doanh trên các nền tảng thương mại điện tử, mạng xã hội không đăng ký mã số thuế (của các nhà cung cấp dịch vụ như Google, Facebook, Youtube, Zalo...) trong khi chưa có quy định để kiểm soát việc thanh toán dẫn đến tình trạng thất thu thuế đối với các loại hình kinh doanh nêu trên. Đề khắc phục tình trạng này, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cân nhắc, nghiên cứu, bổ sung các cơ chế quản lý, giám sát và kiểm tra hoạt động kê khai, nộp thuế của các tổ chức, cá nhân có phát sinh các hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử hoặc mạng xã hội…

Đề xuất chính sách xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, giải quyết được các vướng mắc hiện nay trong công tác quản lý thuế
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú phát biểu kết luận phiên họp.

Phát biểu kết luận phiên họp thẩm định, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú đánh giá cao trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo đối với chính sách dự án Luật Quản lý thuế. Bên cạnh đó, Thứ trưởng nhấn mạnh một số nội dung cần tiếp tục hoàn thiện, làm rõ như:

Thứ nhất, hồ sơ chính sách dự án Luật cần được hoàn thiện đầy đủ theo đúng quy định, đặc biệt là phần thuyết minh chính sách. Việc xác định dự kiến nội dung quy định trong Luật và đánh giá cụ thể hiệu quả, tác động của từng chính sách là rất cần thiết. Đây không chỉ là yêu cầu về hình thức mà còn là cơ sở để bảo đảm tính minh bạch, khả thi trong xây dựng Luật.

Thứ hai, tránh tình trạng quy định không rõ ràng, dễ dẫn đến việc ủy quyền quá mức cho Chính phủ. Trong bối cảnh tư duy làm luật đang chuyển sang hướng luật khung, luật ống, việc xác định rõ ràng đâu là nội dung thuộc thẩm quyền của Quốc hội, đâu là phần giao Chính phủ quy định chi tiết là điều đặc biệt quan trọng.

Thứ ba, cần bảo đảm tính thống nhất trong nội dung các chính sách và giữa dự án Luật này với hệ thống pháp luật hiện hành. Một số chính sách còn có dấu hiệu trùng lặp hoặc chưa được rà soát kỹ với các quy định hiện hành.

Thứ tư, chính sách đưa ra phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, giải quyết được các vướng mắc hiện nay trong công tác quản lý thuế. Đặc biệt là các vấn đề liên quan đến thẩm quyền của cơ quan thuế, mối quan hệ giữa người nộp thuế và cơ quan quản lý thuế./.

Song An

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Mở rộng chính sách phát triển nhà ở cho thuê đáp ứng nhu cầu của người dân

Mở rộng chính sách phát triển nhà ở cho thuê đáp ứng nhu cầu của người dân

Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) hướng tới hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển các loại hình nhà ở, trong đó bổ sung chương riêng về nhà ở cho thuê, đẩy mạnh phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng cường kiểm soát việc thụ hưởng chính sách nhà ở. Những nội dung này được kỳ vọng góp phần giải quyết nhu cầu chỗ ở của người dân, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực nhà ở.
Xây dựng và thực thi pháp luật là "đột phá của đột phá" trong hoàn thiện hệ sinh thái thể chế phát triển đất nước

Xây dựng và thực thi pháp luật là "đột phá của đột phá" trong hoàn thiện hệ sinh thái thể chế phát triển đất nước

Đến năm 2030, Việt Nam có hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi với cơ chế tổ chức thực hiện nghiêm minh, nhất quán, bảo đảm cơ sở pháp lý cho hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính quyền 03 cấp, mở đường cho kiến tạo phát triển.
Bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp khi mở rộng nguồn vốn cho công ty luật

Bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp khi mở rộng nguồn vốn cho công ty luật

Trong các phiên thảo luận tổ tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, trao đổi về dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật), một số đại biểu cho rằng, việc mở rộng khả năng huy động vốn có thể tạo điều kiện phát triển các tổ chức hành nghề luật sư có quy mô lớn, chuyên nghiệp, nhưng cần có cơ chế kiểm soát phù hợp để bảo vệ tính độc lập nghề nghiệp, quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, đồng thời bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Hoàn thiện quy định về miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư đối với trợ giúp viên pháp lý

Hoàn thiện quy định về miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư đối với trợ giúp viên pháp lý

Trong chương trình làm việc tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, góp ý dự án Luật Luật sư (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội đề nghị tiếp tục rà soát quy định về miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư đối với trợ giúp viên pháp lý. Theo đó, ý kiến tập trung vào việc xác định tiêu chí miễn, giảm phù hợp với trình độ chuyên môn, quá trình công tác và kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời bảo đảm tính thống nhất giữa các quy định pháp luật, tạo điều kiện phát huy nguồn nhân lực có kinh nghiệm để thực hiện dịch vụ pháp lý.
Nâng tỷ lệ đặt trước, bổ sung chế tài đủ mạnh đối với hành vi “bỏ cọc” trong đấu giá tài sản

Nâng tỷ lệ đặt trước, bổ sung chế tài đủ mạnh đối với hành vi “bỏ cọc” trong đấu giá tài sản

Đây là những điểm mới đáng chú ý trong phần trình bày về Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) tại phiên họp sáng ngày 19/10, Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI. Việc điều chỉnh là cần thiết nhằm tạo lập chế tài đủ mạnh để ngăn chặn triệt để tình trạng “cò mồi”, trả giá cao rồi “bỏ cọc”, gây nhiễu loạn thị trường.
Dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi): Hướng tới môi trường gia đình an toàn cho trẻ em

Dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi): Hướng tới môi trường gia đình an toàn cho trẻ em

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, sáng 19/10, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình tóm tắt về dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi); Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu trình bày báo cáo thẩm tra tóm tắt về dự án Luật.
Dự án Luật Luật sư (sửa đổi): Phát triển thị trường dịch vụ pháp lý minh bạch

Dự án Luật Luật sư (sửa đổi): Phát triển thị trường dịch vụ pháp lý minh bạch

Trong khuôn khổ Chương trình Kỳ họp thứ 2, sáng ngày 19/10, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày tờ trình về dự án Luật Luật sư (sửa đổi) với nhiều nội dung quan trọng, trong đó, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính gắn với chuyển đổi số, tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp trong việc tiếp cận dịch vụ pháp lý.
Nâng cao chất lượng triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Nâng cao chất lượng triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chiều ngày 16/10, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng chủ trì cuộc họp giao ban Ban Chỉ đạo Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Tư pháp phiên họp thứ XVIII. Cùng dự có Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh và Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy Bộ Nguyễn Quang Thái.
Phát huy vai trò công chứng trong bảo đảm an toàn pháp lý thời kỳ số

Phát huy vai trò công chứng trong bảo đảm an toàn pháp lý thời kỳ số

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc phát huy vai trò của công chứng trong phòng ngừa tranh chấp, bảo vệ quyền tài sản và bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch là yêu cầu quan trọng, góp phần xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và trợ lý ảo trong phổ biến, giáo dục pháp luật

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và trợ lý ảo trong phổ biến, giáo dục pháp luật

Ngày 14/10, Bộ Tư pháp tổ chức họp Tổ soạn thảo mở rộng xây dựng dự thảo Nghị định quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (dự thảo Nghị định). Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc, Tổ trưởng Tổ soạn thảo chủ trì cuộc họp.
Bộ Tư pháp tăng cường phối hợp triển khai Dự án EU JULE II

Bộ Tư pháp tăng cường phối hợp triển khai Dự án EU JULE II

Trong 02 ngày 13, 14/10/2026, tại thành phố Hải Phòng, Bộ Tư pháp và Ban Quản lý Dự án chuyên trách, phối hợp với Phái đoàn Liên minh châu Âu (EU) tại Việt Nam, Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp quốc (UNICEF) tại Việt Nam tổ chức Hội nghị triển khai các hoạt động của Dự án “Tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam - Giai đoạn II” (EU JULE II) năm 2026. Hội nghị là dịp rà soát tiến độ thực hiện Kế hoạch hoạt động năm 2026, chia sẻ kinh nghiệm, tháo gỡ khó khăn trong tổ chức thực hiện và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị tham gia Dự án EU JULE II.
Để người dân, doanh nghiệp thuận lợi trong tiếp cận, sử dụng dịch vụ công trực tuyến

Để người dân, doanh nghiệp thuận lợi trong tiếp cận, sử dụng dịch vụ công trực tuyến

Ngày 30/9/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 13/2026/TT-BTP hướng dẫn thi hành một số nội dung về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia (Thông tư số 13/2026/TT-BTP). Thông tư góp phần hỗ trợ, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, người dân tiếp cận, thực hiện thủ tục hành chính, sử dụng dịch vụ công trực tuyến.
Nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở trong tình hình mới

Hiện, Bộ Tư pháp đang tập trung xây dựng dự thảo Nghị định hướng dẫn một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở. Đây là cơ sở để rà soát, phân định, xử lý các nội dung có liên quan tại Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT-CP-UBTWMTTQVN ngày 18/11/2014 của Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn phối hợp thực hiện một số quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở, bảo đảm phù hợp với Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026, yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy, chuyển đổi số, qua đó tạo sự ổn định, minh bạch của hệ thống pháp luật và thuận lợi cho cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân và hòa giải viên ở cơ sở trong quá trình tra cứu, thực hiện, nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở trong tình hình mới.
Phê duyệt “Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật”

Phê duyệt “Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật”

“Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật” được phê duyệt tại Quyết định số 1949/QĐ-TTg ngày 08/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ (Đề án) nhằm mục tiêu xây dựng hạ tầng dữ liệu pháp luật quốc gia thống nhất, dùng chung, tạo nền tảng ứng dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, góp phần đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, hướng tới xây dựng nền quản trị pháp luật thông minh.
Hoàn thiện kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp

Hoàn thiện kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp

Chiều ngày 09/10, Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp) Nguyễn Quốc Hoàn và Phó Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp) Đỗ Thị Thanh Hương đồng chủ trì Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Báo cáo kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp (dự thảo Báo cáo). Tham dự Hội thảo có đại diện một số cơ quan có liên quan, các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp cùng các chuyên gia, nhà khoa học.

Theo dõi chúng tôi trên: