
Khi thực tiễn đòi hỏi thay đổi cách quản lý
Cuối tháng 6/2026, tại Kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh Cà Mau, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Văn Nguyên cho biết, năm học 2026 - 2027, toàn tỉnh dự kiến có 402.759 học sinh với 12.077 lớp nhưng còn thiếu khoảng 1.309 giáo viên theo định mức. Để bảo đảm hoạt động dạy học, ngành Giáo dục địa phương phải đồng thời tính đến việc điều động, biệt phái, luân chuyển giáo viên, tổ chức dạy liên trường, liên cấp, tiếp tục tuyển dụng và sử dụng hợp đồng lao động[1].
Thực tế tại Cà Mau cho thấy, nhân lực cho giáo dục không chỉ là tuyển đủ người đứng lớp. Việc tuyển dụng, điều động giáo viên còn phụ thuộc vào quy định về biên chế, vị trí việc làm, nguồn kinh phí và thẩm quyền của từng cấp quản lý. Vì vậy, dù nơi này thiếu giáo viên, nơi khác còn khả năng bố trí, việc điều chuyển vẫn có thể gặp vướng mắc nếu quyền quyết định chưa được phân định phù hợp. Điều đó cũng đặt ra yêu cầu về tự chủ trong giáo dục: nhà trường muốn chủ động và chịu trách nhiệm về chất lượng thì phải được trao quyền tương xứng về tổ chức, nhân sự và nguồn lực, đồng thời đi kèm cơ chế giám sát và trách nhiệm giải trình rõ ràng.
Những vướng mắc về nhân lực, phân cấp, tự chủ và trách nhiệm quản lý trong giáo dục đã sớm được đặt ra trong quá trình hoàn thiện chủ trương, chính sách. Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị yêu cầu tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về giáo dục và đào tạo; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tăng quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục; đồng thời, nghiên cứu cơ chế điều động, luân chuyển giáo viên để xử lý tình trạng thừa, thiếu cục bộ. Đến Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo yêu cầu đổi mới thể chế được đặt rõ hơn trong tổng thể các giải pháp tạo đột phá cho giáo dục: phân cấp, phân quyền phải gắn với phân bổ nguồn lực; tự chủ phải đi cùng kiểm tra, giám sát; trách nhiệm quản lý chuyên môn phải gắn với quản lý nhân sự và tài chính.
Nghị quyết số 71-NQ/TW đã xác lập những định hướng lớn, nhưng để các định hướng ấy trở thành căn cứ trực tiếp cho cơ quan quản lý và cơ sở giáo dục hành động, cần tiếp tục được thể chế hóa bằng những quy định pháp luật cụ thể. Trong năm 2025, quá trình này được đẩy nhanh bằng việc xây dựng dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội cho giáo dục và đào tạo.
Bộ Tư pháp: Bảo đảm chất lượng pháp lý cho cơ chế đặc thù
Ngày 26/9/2025, Hội đồng thẩm định do Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì đã xem xét dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Dự thảo được xây dựng nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 71-NQ/TW, với phạm vi chính sách rộng, liên quan đến tổ chức, nhân lực và quản trị; chương trình giáo dục; khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; hội nhập quốc tế; tài chính và đầu tư. Tại phiên thẩm định, nhiều vấn đề đang đặt ra đối với giáo dục được nhìn nhận từ góc độ pháp lý, từ những bất cập, chồng chéo về thể chế, khó khăn của đội ngũ nhà giáo, hạn chế về nguồn lực đến những rào cản trong thu hút nhân tài[2].
Có thể thấy, vai trò của Bộ Tư pháp không chỉ dừng ở việc tổ chức thẩm định một dự thảo văn bản. Quan trọng hơn, thông qua công tác thẩm định, Bộ Tư pháp góp phần chuyển những định hướng lớn của Nghị quyết số 71-NQ/TW thành các quy định có căn cứ pháp lý, bảo đảm tính thống nhất với hệ thống pháp luật và có khả năng thực hiện trong thực tế. Với một nghị quyết chứa nhiều cơ chế đặc thù, vượt trội, yêu cầu này càng trở nên quan trọng, bởi mỗi thẩm quyền hay chính sách mới đều phải được đặt trong mối quan hệ với các luật hiện hành, nguồn lực thực hiện và cơ chế kiểm soát đi kèm.
![]() |
| Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì Hội đồng thẩm định dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện đột phá giáo dục và đào tạo. |
Ngày 10/12/2025 tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Nghị quyết số 248/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/01/2026. Từ thời điểm này, những định hướng lớn của Nghị quyết số 71-NQ/TW đã được cụ thể hóa thành những thẩm quyền, chính sách và cơ chế có thể tổ chức thực hiện.
Trước hết là cơ chế về nhân lực. Nghị quyết số 248/2025/QH15 giao Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo thẩm quyền tuyển dụng, tiếp nhận nhà giáo, cán bộ quản lý và nhân viên tại các cơ sở giáo dục công lập thuộc phạm vi điều chỉnh; đồng thời, thực hiện một số thẩm quyền về điều động, thuyên chuyển, biệt phái, bổ nhiệm và thay đổi vị trí việc làm đối với nhân sự thuộc phạm vi quản lý hoặc liên quan từ hai đơn vị hành chính cấp xã trở lên. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã được giao thẩm quyền điều động, thuyên chuyển, biệt phái, bổ nhiệm, miễn nhiệm và thay đổi vị trí việc làm đối với nhân sự giáo dục thuộc phạm vi quản lý của cấp xã.
Cách phân định này không đơn thuần là chuyển quyền ký quyết định từ cơ quan này sang cơ quan khác. Điều đáng chú ý hơn là thẩm quyền được xác định rõ theo phạm vi quản lý, qua đó làm rõ chủ thể có quyền xử lý vấn đề và chủ thể phải chịu trách nhiệm về kết quả. Khi quyền quyết định được đưa gần hơn với nơi nắm thông tin và trực tiếp tổ chức nguồn lực, quá trình xử lý có điều kiện được rút ngắn; đồng thời, trách nhiệm cũng trở nên cụ thể hơn. Phân quyền vì thế không làm giảm vai trò quản lý nhà nước, mà đặt ra yêu cầu đổi mới cách thức quản lý: cơ quan nhà nước cần tập trung nhiều hơn vào xác lập chuẩn mực, bảo đảm nguồn lực, kiểm tra, giám sát và kiểm soát việc thực hiện quyền lực.
Nghị quyết số 248/2025/QH15 đồng thời cụ thể hóa nhiều cơ chế khác về đội ngũ nhà giáo, nguồn lực và chuyển đổi số. Chính sách phụ cấp ưu đãi nghề được xác lập theo lộ trình; chi cho giáo dục và đào tạo được bảo đảm ở mức tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước; các cơ chế về đầu tư, đất đai và huy động nguồn lực tiếp tục được mở rộng. Trong chuyển đổi số, Nhà nước ưu tiên đầu tư cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo, hạ tầng số và các nền tảng dùng chung. Những quy định này cho thấy quá trình thể chế hóa không chỉ dừng ở việc trao thêm thẩm quyền, mà còn phải tạo ra các điều kiện về con người, tài chính và công nghệ để những thẩm quyền đó có thể được thực hiện trong thực tế.
![]() |
| Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Nghị quyết 248/2025/QH15 ngày 10/12/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. |
Một điểm đáng chú ý khác nằm ở Điều 9 của Nghị quyết. Theo đó, nếu có sự khác nhau về cùng một vấn đề giữa Nghị quyết số 248/2025/QH15 với luật hoặc nghị quyết khác của Quốc hội thì áp dụng quy định của Nghị quyết số 248/2025/QH15; trường hợp văn bản của Quốc hội ban hành sau quy định cơ chế, chính sách ưu đãi hoặc thuận lợi hơn thì áp dụng cơ chế, chính sách đó. Quy định này tạo cơ sở pháp lý để các cơ chế đặc thù có thể được triển khai mà không phải chờ sửa đổi đồng thời toàn bộ các văn bản có liên quan, đồng thời giúp người thực thi xác định rõ căn cứ áp dụng khi các quy định giao thoa.
Từ quá trình xây dựng, thẩm định và hoàn thiện Nghị quyết số 248/2025/QH15 có thể thấy rõ vai trò của công tác pháp luật trong việc hiện thực hóa chủ trương đột phá giáo dục. Nếu Nghị quyết số 71-NQ/TW xác lập những định hướng lớn về phân quyền, tự chủ, đội ngũ nhà giáo, nguồn lực và chuyển đổi số, thì quá trình xây dựng pháp luật tiếp tục cụ thể hóa các định hướng đó thành thẩm quyền, cơ chế và điều kiện thực hiện. Trong đó, Bộ Tư pháp, thông qua công tác thẩm định, góp phần bảo đảm các cơ chế đặc thù vừa đáp ứng yêu cầu tháo gỡ vướng mắc từ thực tiễn, vừa bảo đảm tính hợp pháp, thống nhất và khả thi trong hệ thống pháp luật.
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật: Đưa chính sách của giáo dục đến gần thực tiễn
Một nghị quyết hay đạo luật được ban hành chưa đồng nghĩa với việc chính sách đã đi vào cuộc sống. Điều quan trọng là những quy định mới có được hiểu đúng, thực hiện thống nhất, có đủ nguồn lực để triển khai và có kịp thời tháo gỡ những vướng mắc nảy sinh trong thực tế hay không. Khi đi vào thực tiễn, nhiều vấn đề mới tiếp tục xuất hiện: thẩm quyền được thực hiện đến đâu, cơ sở giáo dục vận dụng quyền tự chủ như thế nào, nguồn lực có đến đúng nơi cần thiết hay những quy định mới có phát sinh vướng mắc khi áp dụng hay không. Vì vậy, pháp luật không chỉ cần được phổ biến mà còn phải được giải thích, phân tích và kiểm chứng qua thực tiễn.
Theo Quyết định số 97/QĐ-BTP ngày 15/01/2026, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, đồng thời, là diễn đàn về khoa học pháp lý, lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn xây dựng, thi hành pháp luật. Với chức năng đó, Tạp chí có thể tiếp cận các chính sách giáo dục từ góc nhìn pháp lý: làm rõ nội dung của quy định mới, phân tích mối quan hệ với pháp luật hiện hành, nhận diện những vấn đề phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện.
Một phương thức quan trọng để thực hiện vai trò này là tổ chức hoặc phối hợp tổ chức các hội thảo, tọa đàm khoa học. Đối với giáo dục, các diễn đàn do Tạp chí tổ chức tập trung vào những vấn đề mà Nghị quyết số 71-NQ/TW và Nghị quyết số 248/2025/QH15 đang đặt ra như phân cấp, tự chủ, chính sách đối với đội ngũ nhà giáo, nguồn lực, chuyển đổi số và bảo vệ quyền của người học. Qua trao đổi giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, cơ sở đào tạo và chủ thể trực tiếp thực hiện chính sách, những vướng mắc từ thực tiễn có điều kiện được nhận diện rõ hơn, đồng thời các kiến nghị hoàn thiện pháp luật cũng có thêm cơ sở khoa học và thực tiễn.
Để nâng cao chất lượng nghiên cứu, phản biện và có thêm tiếng nói từ thực tiễn giáo dục, trong năm 2026, Tạp chí tiếp tục tăng cường phối hợp với Trường Đại học Tài chính - Marketing, Đại học Phenikaa, Trường Đại học Luật Hà Nội và một số cơ sở khác trong công bố nghiên cứu, tổ chức diễn đàn khoa học và trao đổi chuyên môn. Những mối liên kết này giúp Tạp chí mở rộng nguồn chuyên gia và đưa thêm tiếng nói từ giảng đường, cơ sở đào tạo vào quá trình nghiên cứu, phản biện chính sách giáo dục.



Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp ký kết hợp tác với Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Tài chính - Marketing, Đại học Phenikaa.
Đóng góp của Tạp chí vì thế không chỉ nằm ở việc truyền tải nội dung của nghị quyết hay giới thiệu quy định mới. Quan trọng hơn, Tạp chí góp phần làm rõ các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình thực hiện: khi trao thêm quyền về nhân sự cho cơ quan quản lý giáo dục, cần làm rõ ai được quyết định việc gì và phải chịu trách nhiệm đến đâu. Khi mở rộng quyền tự chủ cho cơ sở giáo dục, cũng phải tính đến các quy định liên quan về ngân sách, tài sản công và lao động. Tương tự, việc sử dụng dữ liệu, trí tuệ nhân tạo hay học liệu số trong giáo dục cần vừa phục vụ đổi mới, vừa bảo đảm quyền và lợi ích của người học.
Bên cạnh đó, những vướng mắc từ địa phương, nhà trường và cơ sở giáo dục, nếu được kiểm chứng và phân tích có hệ thống, có thể trở thành dữ liệu thực tiễn phục vụ việc đánh giá chính sách và hoàn thiện pháp luật. Tạp chí không thay cơ quan quản lý trong việc tổ chức thực hiện chính sách, cũng không thay cơ quan có thẩm quyền sửa đổi pháp luật, nhưng có thể đóng vai trò kết nối: đưa chủ trương, chính sách đến gần hơn với giới nghiên cứu và người thực thi, đồng thời, đưa những phản hồi từ thực tiễn trở lại diễn đàn pháp lý. Qua đó, truyền thông pháp luật, nghiên cứu và phản biện chính sách có thể cùng góp phần làm cho các chủ trương đột phá về giáo dục được hiểu đúng, thực hiện thống nhất và tiếp tục hoàn thiện trong thực tiễn.
Từ câu chuyện thiếu giáo viên ở Cà Mau đến những yêu cầu về phân cấp, tự chủ, nguồn lực và trách nhiệm quản lý cho thấy, đột phá giáo dục cần được bảo đảm bằng những cơ chế pháp lý đủ rõ, đủ khả thi và sát với thực tiễn. Trong quá trình đó, Bộ Tư pháp góp phần thông qua công tác xây dựng, thẩm định và hoàn thiện pháp luật; Tạp chí Dân chủ và Pháp luật góp phần làm rõ chính sách, thúc đẩy trao đổi, phản biện và chuyển những vấn đề khó khăn phát sinh từ thực tiễn trở lại quá trình hoàn thiện thể chế. Những nỗ lực ấy cùng hướng tới các mục tiêu mà Nghị quyết số 71-NQ/TW đã xác định: tạo chuyển biến rõ nét về tiếp cận, công bằng và chất lượng giáo dục đến năm 2030; tiếp tục hiện đại hóa hệ thống giáo dục vào năm 2035 và đến năm 2045 xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng, chất lượng, thuộc nhóm 20 quốc gia hàng đầu thế giới./.
[1] Huỳnh Hải, Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Cà Mau nói về tình trạng thiếu giáo viên, https://dantri.com.vn/giao-duc/giam-doc-so-gddt-tinh-ca-mau-noi-ve-tinh-trang-thieu-giao-vien-20260630084040360.htm, truy cập ngày 30/8/2026.
[2] Châu Dương, Đề xuất nhiều chính sách đặc thù để tạo đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, https://baophapluat.vn/de-xuat-nhieu-chinh-sach-dac-thu-de-tao-dot-pha-phat-trien-giao-duc-va-dao-tao.html, truy cập ngày 30/8/2026.