1. Ý nghĩa, tác động của mười năm gia nhập Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế của Việt Nam
Việt Nam ngày càng chủ động, tích cực hội nhập sâu rộng vào quốc tế, các giao lưu về dân sự, lao động, thương mại có yếu tố nước ngoài đã và đang phát triển mạnh mẽ. Đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam trong những năm vừa qua không ngừng tăng lên. Số lượng khách du lịch nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam cũng tăng lên đáng kể. Hoạt động đầu tư, thương mại, du lịch, lao động, kết hôn, học tập, chữa bệnh ra nước ngoài của công dân và doanh nghiệp của Việt Nam cũng đang trở nên phổ biến và ngày càng gia tăng. Hơn thế nữa, các giao lưu dân sự, thương mại và kinh tế trong nội khối và giữa ASEAN với các nước đối tác cũng phát triển mạnh mẽ. Cùng với sự phát triển của quá trình hội nhập quốc tế, các vấn đề pháp lý, tranh chấp về dân sự, kinh tế, thương mại có yếu tố nước ngoài cũng sẽ ngày càng gia tăng về số lượng và phức tạp, đa dạng hơn về nội dung là điều không tránh khỏi. Việc giải quyết các vấn đề pháp lý xuyên quốc gia, xử lý những tranh chấp này sẽ không hiệu quả, thậm chí không thể thực hiện được nếu không có sự hợp tác về pháp luật và tư pháp giữa các nước để xác định những nguyên tắc áp dụng pháp luật, xác định các cơ quan có thẩm quyền giải quyết hay thực hiện các công việc như tống đạt giấy tờ, thu thập chứng cứ, công nhận thi hành bản án, quyết định của nhau… Ngoài ra, hoạt động giao dịch dân sự, thương mại của cá nhân, tổ chức giữa các quốc gia cũng thuận lợi hơn nhiều nếu có sự hợp tác giữa các nước trong việc công nhận và miễn hợp pháp hóa giấy tờ, tài liệu công vụ của nhau. Trong bối cảnh đó, việc tăng cường hợp tác giữa các nước trong lĩnh vực tư pháp quốc tế để xây dựng cơ sở pháp lý điều chỉnh và tạo điều kiện cho sự phát triển của các quan hệ này là rất cần thiết.
Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã khẳng định việc cần “tiếp tục ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, tín dụng quốc tế, sở hữu trí tuệ, thuế quan, bảo vệ môi trường...”, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị ban hành Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số 49-NQ/TW) cũng nhấn mạnh: “Tổ chức thực hiện tốt các điều ước quốc tế mà Nhà nước ta đã tham gia”. Bên cạnh đó, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam một lần nữa khẳng định chủ trương tích cực, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước, trong đó có việc tham gia vào các cơ chế, tổ chức, diễn đàn khu vực, đa phương và toàn cầu. Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế tiếp tục khẳng định, chú trọng đổi mới thể chế đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế. Tinh thần đó cũng được thể hiện tại Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW. Thực hiện chủ trương của Đảng, trong lĩnh vực tư pháp quốc tế, bên cạnh việc ký kết các điều ước quốc tế song phương, Việt Nam đã đẩy mạnh nghiên cứu, gia nhập các thiết chế hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp, các điều ước quốc tế đa phương, trong đó đặt trọng tâm vào các công ước của Hội nghị La Hay.
Trong bối cảnh hội nhập, đòi hỏi chúng ta phải tuân theo những “luật chơi” chung, tham gia vào các điều ước quốc tế, mở rộng hoạt động hợp tác giao lưu với các quốc gia, tổ chức quốc tế. Các tổ chức quốc tế liên Chính phủ về hợp tác pháp luật và tư pháp như Hội nghị La Hay, Viện Quốc tế về nhất thể hóa luật tư (UNIDROIT) hoặc các tổ chức phi Chính phủ như Hiệp hội châu Mỹ về tư pháp quốc tế (ASADIP) ra đời có tác động không nhỏ đến việc hình thành các điều ước quốc tế trong lĩnh vực này, trong đó đặc biệt phải kể đến Hội nghị La Hay. Việt Nam đã chính thức gia nhập Hội nghị La Hay từ ngày 10/4/2013. Trong hơn 10 năm qua, Việt Nam thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo Quy chế thành viên của Hội nghị La Hay một cách toàn diện, liên tục và hiệu quả, trong đó thể hiện tập trung nhất ở Quyết định số 1440/QĐ-TTg ngày 16/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch thực hiện quyền và nghĩa vụ thành viên Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế của Việt Nam (Quyết định số 1440/QĐ-TTg). Các nhiệm vụ được nêu trong Kế hoạch kèm theo Quyết định số 1440/QĐ-TTg đã được các bộ, ngành triển khai và cơ bản bảo đảm tiến độ, chất lượng, góp phần thực hiện những mục tiêu đã được đặt ra về hội nhập quốc tế toàn diện, đặc biệt trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp, trong đó có một số kết quả đáng chú ý sau:
(i) Bước đầu tạo sự chuyển biến trong nhận thức ở các cơ quan có liên quan ở cả trung ương và địa phương về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của Hội nghị La Hay, các công ước của Hội nghị và tư pháp quốc tế;
(ii) Các văn bản pháp luật trong nước về tư pháp quốc tế được ban hành sau khi Việt Nam gia nhập Hội nghị đã có những đổi mới quan trọng theo hướng hiện đại, hội nhập, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế và bảo đảm phù hợp với bối cảnh của Việt Nam;
(iii) Trên cơ sở đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến và áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật trong nước về tư pháp quốc tế và các công ước trong khuôn khổ Hội nghị La Hay, công tác tương trợ tư pháp về dân sự và giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài đã có những bước tiến đáng kể, giải quyết dứt điểm nhiều vụ việc và những vấn đề pháp lý phát sinh từ hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam, bảo vệ kịp thời quyền lợi hợp pháp của các đương sự; việc thực hiện Công ước tống đạt đạt kết quả tốt, hoạt động lập và thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự theo các kênh của Công ước đã dần đi vào nề nếp;
(iv) Việc tham gia các hoạt động thường niên của Hội nghị, nghiên cứu các công ước của Hội nghị được duy trì, ngày càng thực chất, tập trung vào những vấn đề Việt Nam quan tâm;
(v) Hoạt động phối hợp giữa các bộ, ngành trong việc thực hiện Quyết định số 1440/QĐ-TTg dần được tăng cường;
(vi) Thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực pháp luật, tư pháp quốc tế ở tầm thế giới thông qua việc gia nhập và thực thi tốt các công ước của Hội nghị (Công ước tống đạt, Công ước thu thập chứng cứ, Công ước nuôi con nuôi) và tích cực tham gia, tổ chức các diễn đàn, hội thảo trao đổi chuyên môn về Hội nghị La Hay và các công ước của Hội nghị.
(vii) Thông qua việc chủ động đề xuất và chủ trì một loạt Diễn đàn pháp luật ASEAN về các công ước của Hội nghị La Hay đã tích cực và chủ động thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực pháp luật, tư pháp quốc tế không chỉ giữa Việt Nam với quốc tế mà còn thúc đẩy hợp tác giữa khu vực ASEAN với Hội nghị La Hay.
Hội nghị La Hay xác định tầm nhìn trong khuôn khổ hoạt động của mình bao gồm: (i) Hành động vì một thế giới, trong đó các cá nhân, tổ chức mà cuộc sống và hoạt động của mình liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật khác nhau được hưởng mức độ an toàn pháp lý cao; (ii) Thúc đẩy việc giải quyết tranh chấp một cách có trật tự và hiệu quả, quản trị tốt và pháp quyền, trong khi vẫn tôn trọng sự đa dạng của các truyền thống pháp luật.
Cùng với tầm nhìn này, Hội nghị La Hay cũng đồng thời mang các sứ mệnh: (i) Hội nghị là một diễn đàn để các quốc gia thành viên xây dựng và thực hiện những quy tắc chung của tư pháp quốc tế nhằm điều phối mối quan hệ giữa các hệ thống tư pháp khác nhau trong bối cảnh quốc tế; (ii) Thúc đẩy hợp tác tư pháp và hành chính trong lĩnh vực bảo vệ gia đình và trẻ em, thủ tục tố tụng dân sự và pháp luật thương mại; (iii) Cung cấp dịch vụ pháp lý đạt tiêu chuẩn cao và trợ giúp kỹ thuật vì lợi ích của các quốc gia thành viên và các quốc gia ký kết các Công ước La Hay; (iv) Cung cấp thông tin chất lượng cao và dễ tiếp cận cho các quốc gia thành viên và các quốc gia ký kết các Công ước La Hay, cán bộ Chính phủ, Ngành Tư pháp, những người hành nghề luật và công chúng.
Việc Việt Nam tham gia và thực hiện tốt quy chế thành viên của một tổ chức liên Chính phủ với những tầm nhìn và sứ mệnh như trên đã mang lại những tác động tích cực cho Việt Nam:
Một là, gia nhập Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế là hiện thực hóa chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về tăng cường hợp tác trong lĩnh vực tư pháp quốc tế. Việc gia nhập tổ chức quốc tế uy tín như Hội nghị La Hay tiếp tục thể hiện bước tiến của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, mặt khác, là minh chứng thể hiện sự sẵn sàng hợp tác của Việt Nam với các nước trong khu vực nói riêng và các nước trên thế giới nói chung trong việc cùng hỗ trợ nhau giải quyết những yêu cầu về tương trợ tư pháp. Việc gia nhập và thực thi hiệu quả quyền và nghĩa vụ thành viên Hội nghị La Hay thời gian qua càng có ý nghĩa khi Việt Nam luôn khẳng định nhất quán chủ trương tích cực, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước, là sự thể hiện kịp thời và rõ nét “phương châm là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam sẽ mở rộng tham gia và đóng góp ngày càng tích cực, chủ động, trách nhiệm vào các cơ chế, tổ chức, diễn đàn khu vực, đa phương và toàn cầu, đặc biệt là Liên Hợp quốc” mà các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc từ lần thứ XI đến XIII của Đảng đều đặt ra cho đường lối đối ngoại của Việt Nam trong cả giai đoạn này.
Hai là, Hội nghị La Hay là diễn đàn để các nước thể hiện quan điểm, lập trường, xây dựng cơ sở pháp lý chung điều chỉnh các quan hệ tư pháp quốc tế của các truyền thống pháp luật khác nhau trên thế giới. Với sự tham gia của 91 thành viên, Hội nghị La Hay được coi như là “WTO” trong lĩnh vực tư pháp quốc tế. Tham gia tích cực vào các hoạt động chuyên môn của Hội nghị, Việt Nam được tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng và hoàn thiện các nền tảng pháp lý quốc tế đa phương trong lĩnh vực tư pháp quốc tế đang ngày càng phát triển, qua đó đưa được quan điểm, tiếng nói của Việt Nam đến với trường quốc tế, góp phần xây dựng và nâng cao vai trò, vị trí của Việt Nam trong hoạt động hợp tác về tư pháp quốc tế ở cấp độ toàn cầu. Việc Việt Nam gia nhập Hội nghị trong bối cảnh ASEAN cũng đang đẩy mạnh hoạt động hợp tác quốc tế về tư pháp và góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác của khối ASEAN với quốc tế.
Ba là, trong bối cảnh Việt Nam đã và đang tiến hành cải cách tư pháp và cải cách pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy, bảo đảm quyền con người nói chung và quyền tiếp cận công lý của người dân nói riêng, việc thực hiện hiệu quả quy chế thành viên Hội nghị La Hay góp phần giúp Việt Nam hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến tư pháp quốc tế thông quan việc tiếp thu và chuyển tải vào hệ thống pháp luật trong nước những quy định mới, hiện đại về tư pháp quốc tế của Hội nghị, xây dựng các điều ước quốc tế mới về tư pháp quốc tế đưa hệ thống pháp luật của Việt Nam tiệm cận và phù hợp với hệ thống pháp luật quốc tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, việc hài hòa hóa pháp luật quốc gia với chuẩn mực quốc tế chính là một trong những yếu tố quan trọng để tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động giao lưu kinh tế, thương mại, dân sự và bảo đảm cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp và các tổ chức, qua đó thúc đẩy hội nhập quốc tế của đất nước.
Bốn là, tham gia các hoạt động của Hội nghị La Hay, đội ngũ cán bộ Việt Nam có cơ hội tham gia vào hoạt động xây dựng các quy định pháp lý quốc tế ở tầm đa phương, thiết lập các quan hệ và giao lưu với đội ngũ chuyên gia pháp lý có trình độ chuyên môn cao từ nhiều hệ thống pháp luật khác, qua đó góp phần xây dựng lực lượng cán bộ về tư pháp quốc tế cho Việt Nam, giúp nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ Việt Nam về Hội nghị La Hay, về tư pháp quốc tế và điều này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh nhận thức của chúng ta về tư pháp quốc tế nói chung, về Hội nghị nói riêng còn hạn chế và năng lực của cán bộ về tư pháp quốc tế còn yếu.
Năm là, việc gia nhập Hội nghị La Hay đã góp phần tạo cơ sở thuận lợi cho Việt Nam trong tiến trình nghiên cứu và gia nhập các công ước của Hội nghị. Trong quá trình tham gia các hoạt động của Hội nghị La Hay, Việt Nam cũng nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của các nước thành viên Hội nghị, đa phần các thành viên này đã tham gia các Công ước mà Việt Nam có nhu cầu gia nhập (ví dụ, tại thời điểm Việt Nam gia nhập Công ước tống đạt thì 54/68 thành viên của Công ước cũng đồng thời là thành viên Hội nghị La Hay). Vì vậy, khi Việt Nam gia nhập các Công ước La Hay đều sẽ nhận được sự hỗ trợ của Ban Thường trực Hội nghị, các hỗ trợ kỹ thuật cũng như ủng hộ của các nước thành viên của Hội nghị.
Như vậy, có thể thấy, trong bối cảnh hội nhập quốc tế mạnh mẽ, các quan hệ dân sự, thương mại có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam phát triển nhanh chóng, đòi hỏi một khuôn khổ pháp lý mềm dẻo thì càng thấy được vai trò của tư pháp quốc tế, hợp tác pháp luật và Hội nghị La Hay cũng như các công ước của Hội nghị trong hỗ trợ hiệu quả cho hội nhập toàn diện cả về kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua thúc đẩy giao lưu dân sự với nước ngoài, tạo môi trường pháp lý an toàn, dự đoán trước được và phù hợp với chuẩn mực chung của quốc tế ngày càng trở nên quan trọng. Mục tiêu “cầu nối” giữa các hệ thống pháp luật của Hội nghị La Hay và định hướng thống nhất trong đa dạng của Cộng đồng ASEAN có nhiều điểm tương đồng, phù hợp với xu hướng hội nhập của Việt Nam. Do đó, việc tham gia hiệu quả, thực chất vào các hoạt động của Hội nghị La Hay và thực thi các công ước của Hội nghị không chỉ tạo dựng hình ảnh thân thiện, tích cực và chủ động của Việt Nam với thế giới và khu vực mà còn thực sự mang đến những thay đổi, cải cách tích cực hệ thống pháp luật và tư pháp trong nước.
2. Một số hạn chế, bất cập của quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ thành viên Hội nghị La Hay
Bên cạnh những kết quả đạt được, nhìn lại 10 năm tham gia Hội nghị La Hay, Việt Nam vẫn còn một số hoạt động còn chưa được triển khai hoặc đã được triển khai nhưng tiến độ còn chậm hoặc hiệu quả chưa cao, cụ thể như sau:
Thứ nhất, các hoạt động tuyên truyền, phổ biến về vai trò, tầm quan trọng của tư pháp quốc tế nói chung, của Hội nghị La Hay và các công ước của Hội nghị nói riêng còn ở diện hẹp, số lượng và phạm vi còn hạn chế, chủ yếu thông qua các hội thảo, tọa đàm; chưa tích cực áp dụng công nghệ thông tin trong tuyên truyền và thực thi Công ước đã gia nhập; các hoạt động chủ yếu vẫn do Bộ Tư pháp thực hiện, chưa thu hút được sự tham gia của các bộ, ngành và các tổ chức có liên quan như Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (nay là Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI), các cơ quan thông tấn, báo chí...
Thứ hai, việc nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, chuyên gia về tư pháp quốc tế chưa có bước phát triển như mong muốn và chưa triển khai được các hoạt động đào tạo chuyên sâu, bài bản để xây dựng được đội ngũ chuyên gia về tư pháp quốc tế; mới tham gia bước đầu vào phiên họp của một số ủy ban đặc biệt để thu thập thông tin, kinh nghiệm của các nước, chưa có đóng góp chuyên sâu về nội dung cho việc xây dựng các văn kiện và các nghiên cứu về tư pháp quốc tế của Hội nghị La Hay; năng lực ngoại ngữ và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ Tòa án, đặc biệt là của các thư ký Tòa án nhân dân cấp tỉnh - là những người trực tiếp lập hồ sơ ủy thác tư pháp của Việt Nam và thực hiện các yêu cầu ủy thác tư pháp của nước ngoài còn chưa đồng đều.
Thứ ba, việc nghiên cứu, gia nhập các công ước của Hội nghị còn chưa theo đúng kế hoạch, chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Thực tế ủy thác thu thập chứng cứ theo đường ngoại giao còn gặp khó khăn, ít có kết quả và yêu cầu hợp pháp hóa giấy tờ đang làm ảnh hưởng đến việc giải quyết nhanh chóng, hiệu quả các thủ tục hành chính và thủ tục tố tụng cho thấy nhu cầu cấp thiết gia nhập Công ước Apostille. Tuy nhiên, đến nay, việc gia nhập Công ước này vẫn chưa thực hiện được. Sự tham gia của các bộ, ngành trong nghiên cứu, đề xuất các nội dung về tư pháp quốc tế trong lĩnh vực chuyên ngành hầu như chưa được triển khai.
Thứ tư, việc tiếp cận, sử dụng và phổ biến các nguồn tài liệu, khuyến nghị và các hướng dẫn để thực thi tốt Công ước mà Việt Nam đã gia nhập (đặc biệt là Công ước nuôi con nuôi) còn hạn chế.
Thứ năm, việc thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của nước ngoài trong một số trường hợp còn chưa đáp ứng yêu cầu về tiến độ. Việc triển khai thực hiện Công ước nuôi con nuôi tại một số địa phương còn chậm, chưa đồng đều, chưa có sự quan tâm đầy đủ của các cấp có thẩm quyền, các vấn đề tài chính trong công tác nuôi con nuôi còn một số điểm bất cập, đặc biệt là quản lý sử dụng các khoản hỗ trợ tài chính tặng cho trực tiếp của cha mẹ nuôi với cơ sở nuôi dưỡng.
Thứ sáu, dữ liệu thống kê về các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung để làm cơ sở xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật hoặc đề xuất gia nhập các công ước của Hội nghị còn rời rạc, chưa có hệ thống. Tại Tòa án nhân dân tối cao vẫn chưa có thống kê số liệu chính thức về các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài do Tòa án giải quyết.
Nguyên nhân cơ bản dẫn đến những hạn chế trên đó là:
Thứ nhất, sự quan tâm và nhận thức về tư pháp quốc tế còn chưa tương xứng với mức độ hội nhập quốc tế sâu rộng của đất nước hiện nay. Một trong những khó khăn cho quá trình gia nhập Hội nghị La Hay của Việt Nam là sự hạn chế về nhận thức của các tổ chức, cá nhân trong nước đối với vai trò của tư pháp quốc tế nói chung và của Hội nghị La Hay nói riêng. Việt Nam đã có nhiều bài học kinh nghiệm đáng tiếc do sự hạn chế trong nhận thức về tư pháp quốc tế cũng như giải quyết tranh chấp quốc tế. Thực chất, đó là các vụ kiện liên quan đến tranh chấp kinh tế, thương mại quốc tế và gắn liền với tư pháp quốc tế (chọn luật, chọn cơ quan có thẩm quyền giải quyết). Bên cạnh đó, Tòa án Việt Nam còn khá lúng túng khi thụ lý và giải quyết các tranh chấp dân sự, thương mại có yếu tố nước ngoài. Hoạt động tư vấn/tranh tụng trong giới luật sư Việt Nam liên quan tới pháp luật nước ngoài chưa phát triển. Đây là điểm yếu cần khắc phục dần dần đối với Việt Nam.
Thứ hai, công tác phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan với cơ quan quốc gia đã được thực hiện trong thời gian qua nhưng vẫn còn những vướng mắc, bất cập. Các cơ quan liên quan có lúc còn chưa kịp thời trong hoạt động phối hợp, nhiều văn bản góp ý còn chung chung. Các cơ quan đầu mối triển khai một số kế hoạch, đề án về phát triển nguồn nhân lực pháp luật quốc tế như Đề án “Xây dựng đội ngũ cán bộ pháp lý tham gia các cơ quan pháp lý quốc tế giai đoạn 2012 - 2015 và định hướng đến năm 2020” mới chỉ tập trung vào các chuyên gia về công pháp quốc tế mà chưa tính đến đội ngũ chuyên gia về tư pháp quốc tế.
Thứ ba, hiện nay, đội ngũ cán bộ về tư pháp quốc tế của Việt Nam còn thiếu về số lượng và chất lượng, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra. Việt Nam chưa xây dựng được lực lượng cán bộ, chuyên gia nòng cốt về tư pháp quốc tế. Hơn thế nữa, trình độ của đội ngũ cán bộ tham gia vào hoạt động hợp tác trong lĩnh vực tư pháp quốc tế nói chung và trong lĩnh vực tương trợ tư pháp cũng còn hạn chế, các kỹ năng cần thiết cho công việc như trình độ ngoại ngữ, tin học, khả năng đàm phán, kinh nghiệm và kỹ năng trong hoạt động hợp tác quốc tế vẫn chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Nguồn lực hạn chế cũng ảnh hưởng đến các kết quả đạt được. Khối lượng công việc liên quan đến các hoạt động trong Hội nghị La Hay và trong lĩnh vực tư pháp quốc tế tăng lên hàng năm, yêu cầu cao về trình độ của chuyên gia thì mới có thể tham gia tích cực vào hoạt động nghiên cứu, xây dựng các công cụ pháp lý trong khuôn khổ Hội nghị La Hay. Tuy nhiên, việc bố trí nhân lực và chất lượng cán bộ còn chưa thực sự phù hợp với khối lượng và yêu cầu công việc.
Nguồn ngân sách nhà nước nói chung và nguồn cấp cho các hoạt động trong khuôn khổ Hội nghị La Hay còn hạn hẹp. Do đó, việc tổ chức tập huấn phổ biến sâu rộng các kiến thức mới về tư pháp quốc tế và cử cán bộ, chuyên gia trực tiếp tham gia vào các hoạt động trong khuôn khổ Hội nghị La Hay về những vấn đề mà Việt Nam quan tâm còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng cập nhật nhanh chóng những phát triển mới nhất của tư pháp quốc tế trên thế giới và xây dựng quan hệ với các chuyên gia quốc tế. Đối với kinh phí cấp cho hoạt động thực hiện kế hoạch trong hệ thống Tòa án nhân dân, các Tòa án cấp tỉnh chưa được cấp kinh phí để thực hiện yêu cầu ủy thác của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài nên thời gian, tiến độ thực hiện các yêu cầu này còn chậm trễ.
Thứ tư, việc gia nhập các Công ước của Hội nghị còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là điều kiện thực thi tại Việt Nam: Số lượng công chức bố trí để thực hiện nhiệm vụ không thể gia tăng do cắt giảm biên chế trong khi nhiệm vụ phải thực hiện ngày một nhiều và phức tạp hơn, giải pháp xã hội hóa một số hoạt động cũng đã được tính đến nhưng khuôn khổ thể chế chưa đồng bộ, nhiều hiện tượng tiêu cực trong thực tiễn chưa có giải pháp khắc phục.
3. Một số định hướng, giải pháp, nhiệm vụ trong thời gian tới
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW) đã đề ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp liên quan đến công tác pháp luật quốc tế nói chung cũng như các hoạt động của Việt Nam trong khuôn khổ Hội nghị La Hay nói riêng như: Tôn trọng và bảo đảm thực hiện các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp quốc và luật pháp quốc tế; nội luật hóa các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia; hoàn thiện pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế; giải quyết hiệu quả các xung đột về thẩm quyền và pháp luật giữa Việt Nam và các quốc gia khác, bảo đảm tốt các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước Việt Nam. Hoàn thiện cơ chế và nâng cao năng lực của các cơ quan, tổ chức có liên quan, thực hiện đầy đủ, hiệu quả các cam kết, điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia và nâng cao hiệu quả, chất lượng đào tạo nhân lực hợp tác pháp luật quốc tế; xây dựng cơ chế thúc đẩy sự tham gia và hiện diện của chuyên gia pháp luật Việt Nam trong các thiết chế pháp luật quốc tế.
Phù hợp với những định hướng tại Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 25-NQ/BCSĐ ngày 14/4/2022 của Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp về những định hướng lớn về công tác pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp đến năm 2030 (Nghị quyết số 25-NQ/BCSĐ) và Quyết định số 1962/QĐ-BTP ngày 09/8/2022 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW cũng đã giao cho Vụ Pháp luật quốc tế, các đơn vị khác thuộc Bộ triển khai các nhiệm vụ lớn về công tác pháp luật quốc tế, với 07 nhóm giải pháp lớn: (i) Nâng cao nhận thực về công tác pháp luật quốc tế; (ii) Hoàn thiện pháp luật về tư pháp quốc tế; (iii) Nâng cao hiệu quả nghiên cứu, đề xuất, đàm phán, ký và thực hiện điều ước quốc tế, thoả thuận quốc tế; (iv) Tham gia hiệu quả các tổ chức, diễn đàn pháp lý quốc tế; (v) Xử lý, giải quyết tốt các vấn đề pháp lý quốc tế phát sinh trong hội nhập thuộc trách nhiệm của Bộ Tư pháp; (vi) Nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học và đào tạo, bồi dưỡng và về pháp luật quốc tế; (vii) Xây dựng, phát triển nguồn lực cho công tác pháp luật quốc tế.
Quyết định số 1440/QĐ-TTg đã xác định toàn diện các nhiệm vụ cần triển khai để có thể thực hiện và khai thác hiệu quả quyền và nghĩa vụ thành viên Hội nghị La Hay của Việt Nam. Dù đã qua 10 năm thực hiện nhưng nhiều nhiệm vụ, giải pháp đã được xác định vẫn tiếp tục phù hợp với bối cảnh Việt Nam hiện nay, phù hợp với định hướng nhiệm vụ được đặt ra trong giai đoạn mới này và cần được triển khai tiếp trong thời gian tới. Bên cạnh đó, một số nhiệm vụ đặc biệt cần được quan tâm, đầu tư hơn nữa, bao gồm:
Thứ nhất, tiếp tục nâng cao nhận thức, mở rộng hoạt động tuyên truyền, giới thiệu về Hội nghị La Hay và các công ước của Hội nghị trên các kênh truyền thông như: Sách báo, tài liệu nghiên cứu, giảng dạy, truyền thanh, truyền hình, mạng internet.
Thứ hai, để có thể tận dụng được những lợi ích và phát huy được vai trò thành viên chính thức khi tham gia Hội nghị, nâng cao vị thế của Việt Nam trong hợp tác quốc tế về tư pháp, đòi hỏi Việt Nam phải có một ngũ cán bộ giỏi về tư pháp quốc tế, có trình độ ngoại ngữ, có kinh nghiệm hợp tác quốc tế tốt để tham gia vào các hoạt động của Hội nghị, đặc biệt là tham gia vào quá trình soạn thảo các văn kiện pháp lý của Hội nghị, tận dụng và phát huy được những lợi ích khi trở thành thành viên của Hội nghị.
Để thực hiện nhiệm vụ này, cần xây dựng và thực hiện một kế hoạch tập trung đào tạo đội ngũ cán bộ, chuyên gia, luật sư về tư pháp quốc tế dưới nhiều hình thức với lộ trình phù hợp, trong đó cần ưu tiên tạo điều kiện để các chuyên gia, cán bộ của Việt Nam được trực tiếp tham gia sâu rộng hơn vào các hoạt động của Hội nghị đặc biệt là các diễn đàn, nhóm công tác.
Thứ ba, xây dựng cơ chế cử đại diện của Bộ Tư pháp về Hội nghị La Hay tại Cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại Hà Lan. Tham gia các hoạt động trong khuôn khổ Hội nghị La Hay, đặc biệt là các hoạt động xây dựng các điều ước quốc tế có tác động lớn tới việc hoàn thiện lĩnh vực tư pháp quốc tế và cải cách thể chế pháp luật của Việt Nam. Muốn thực hiện hiệu quả các công việc này, đòi hỏi phải có cán bộ pháp luật của Việt Nam thường trực bên cạnh Hội nghị La Hay. Cán bộ pháp luật này sẽ là đầu mối nắm bắt các thông tin, tham gia các hoạt động được giao, kết nối với trong nước để truyền tải thông tin giúp cơ quan quốc gia phối hợp với các bộ, ngành xử lý tốt các nội dung liên quan đến thực hiện quyền và nghĩa vụ của Việt Nam trong Hội nghị La Hay. Việc cử cán bộ thực tập tại các cơ quan của Hội nghị để nắm bắt kiến thức, kinh nghiệm và tạo mạng lưới liên kết với các cán bộ chuyên trách của các nước thành viên Hội nghị. Hoạt động này không chỉ trực tiếp nâng cao năng lực của cán bộ mà còn mở rộng cơ hội hợp tác về tư pháp quốc tế của Việt Nam trên quy mô rộng lớn hơn.
Thứ tư, nâng cao năng lực cho Bộ Tư pháp - cơ quan quốc gia trong quan hệ với Hội nghị La Hay. Các hoạt động của Việt Nam trong khuôn khổ Hội nghị La Hay còn có mục tiêu xa hơn là hoàn thiện hệ thống tư pháp quốc tế của nước nhà, phục vụ đắc lực quá trình hội nhập toàn diện. Do đó, về lâu dài, cơ quan quốc gia không chỉ là nơi tập trung, đầu mối các hoạt động trong khuôn khổ Hội nghị và liên lạc với các nước thành viên mà còn phải là trung tâm tập hợp thông tin về tư pháp quốc tế và pháp luật nội dung có liên quan của những nước mà Việt Nam thường xuyên có quan hệ dân sự, là nơi chủ động đưa ra những đề xuất thiết lập khuôn khổ pháp lý quốc tế mới phục vụ quá trình mở rộng giao lưu dân sự với các nước. Để thực hiện được những mục tiêu đầy tham vọng đó, việc bổ sung nguồn lực về con người, tài chính, cơ sở vật chất ở mức độ cao nhất có thể là yếu tố tiên quyết.
Thứ năm, tăng cường công tác phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan, tập trung xây dựng đội ngũ chuyên gia về tư pháp quốc tế và theo dõi phát hiện xu hướng phát triển của các vụ việc tư pháp quốc tế trong thực tiễn để có những hướng chủ động xử lý.
Thứ sáu, phân bổ, sử dụng hợp lý nguồn lực hiện có, mở rộng xã hội hóa các hoạt động, các khâu trong quá trình thực thi quy định của các Công ước La Hay mà tư nhân có thể thực hiện được (như tống đạt giấy tờ) để tập trung nguồn lực cho các hoạt động khác.
Thứ bảy, nâng cao hiệu quả hoạt động của Việt Nam trong Hội nghị La Hay là nhiệm vụ nằm trong nhóm nhiệm vụ về công tác pháp luật quốc tế. Do các vấn đề tư pháp quốc tế được giải quyết trong khuôn khổ Hội nghị La Hay rất rộng từ dân sự, hôn nhân gia đình, trẻ em đến thương mại, tài chính, tư pháp nên các giải pháp cần triển khai không thể chỉ do một bộ, ngành thực hiện mà cần sự phối hợp toàn diện của các bộ, ngành, trong đó Bộ Tư pháp - với vai trò là cơ quan trung ương của Việt Nam trong khuôn khổ Hội nghị có nhiệm vụ điều phối thực hiện, tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
ThS. Phạm Hồ Hương
Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 381), tháng 5/2023)