Tóm tắt: Bài viết phân tích một số vướng mắc, bất cập của Bộ luật Tố tụng hình sự về lấy lời khai của bị hại trên cơ sở so sánh với Công ước của Liên Hợp quốc về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người mà Việt Nam đã tham gia, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự.
Abstract: The article analyzes some problems and inadequacies of the Criminal Procedure Code on taking victim's testimony on the basis of comparison with the United Nations Convention against torture and other forms of brutal, inhuman treatment or punishment or degrading people in which Vietnam has participated, thereby proposing some solutions to improve the Criminal Procedure Code.
1. Quy định của Công ước của Liên Hợp quốc về chống tra tấn và các hình thức đối xử hay trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người trong tố tụng hình sự
Ngày 07/11/2013, Việt Nam đã ký kết tham gia Công ước của Liên Hợp quốc về chống tra tấn và các hình thức đối xử hay trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người (Công ước). Ngày 28/11/2014, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phê chuẩn Công ước này. Đây là một trong những điều ước quốc tế quan trọng về bảo đảm quyền con người. Mục đích của Công ước là nhằm loại bỏ các hành vi đối xử tàn bạo, vô nhân đạo ra khỏi đời sống xã hội của các quốc gia. Khi tham gia vào Công ước, các quốc gia thành viên phải thực hiện các nghĩa vụ như ngăn ngừa hành vi tra tấn, điều tra các cáo buộc tra tấn, đưa thủ phạm tra tấn ra trước công lý và thực hiện quyền bồi thường thỏa đáng cho nạn nhân bị tra tấn...
Nội dung của Công ước đã đặt ra một yêu cầu đối với các nước thành viên là “phải thực hiện các biện pháp cụ thể về lập pháp, hành pháp, tư pháp hoặc các biện pháp hiệu quả khác nhằm ngăn chặn mọi hành vi tra tấn”[1]. Liên quan đến hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ, Công ước yêu cầu các nước thành viên phải “bảo đảm rằng bất kỳ phát ngôn nào được đưa ra như là một kết quả của tra tấn sẽ không được sử dụng làm bằng chứng trong bất kỳ tiến trình tố tụng nào, trừ khi để làm bằng chứng chống lại một người bị cáo buộc là đã thực hiện hành động tra tấn để có lời khai của người đó”[2]. Việc tham gia vào Công ước này góp phần khẳng định Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân, khẳng định Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
2. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) về lấy lời khai bị hại và một số vướng mắc, bất cập
Theo quy định tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015), “bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”. Theo đó, bị hại bao gồm: Cá nhân; cơ quan, tổ chức (pháp nhân). Như vậy, việc mở rộng khái niệm bị hại bao gồm cả cơ quan, tổ chức (pháp nhân) bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra hoặc đe dọa gây ra đã đánh dấu một bước chuyển hướng tiến bộ, vượt bậc của các nhà lập pháp, khắc phục được những khó khăn, vướng mắc của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 khi chỉ quy định bị hại là “cá nhân”[3], để bảo đảm sự công bằng của các chủ thể tham gia tố tụng khi bị các hành vi phạm tội xâm hại. Ngoài ra, với quy định trên, khái niệm về thiệt hại đã không còn bó hẹp như trước đây (thiệt hại phải là hữu hình đã xảy ra trên thực tế) mà thiệt hại còn có thể là những thiệt hại vô hình mà chúng ta không nhìn thấy được như uy tín, danh dự…
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, việc tổ chức lấy lời khai bị hại là một trong những hoạt động tố tụng quan trọng và được coi là một nguồn chứng cứ quan trọng giúp các cơ quan chức năng xác định sự thật khách quan của vụ án hoặc tìm ra được những chứng cứ khác có giá trị chứng minh tội phạm. Tuy nhiên, lời khai của bị hại cũng sẽ có hiện tượng thổi phồng, cường điệu sự thiệt hại; cố tình khai chưa đúng so với thực tế khách quan; bị kích động về thần kinh do sự việc phạm tội gây ra hoặc cung cấp những thông tin không chính xác nhằm quy tội nặng hơn cho bị can, bị cáo. Do đó, lời khai của bị hại chỉ có giá trị chứng minh cao và là nguồn chứng cứ quan trọng khi đã được kiểm tra, xác minh cẩn thận, so sánh đối chiếu với những nguồn chứng cứ khác trước khi sử dụng. Có như vậy, mới bảo đảm được tính khách quan, chính xác tuyệt đối, không bị lệch hướng điều tra.
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có sửa đổi, bổ sung quan trọng, tiến bộ, khắc phục được những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn để hỗ trợ cho quá trình lấy lời khai bị hại được tiến hành thuận lợi như: Quy định rõ hơn nghĩa vụ và trách nhiệm của người bị hại nhằm tăng cường trách nhiệm của họ trong việc phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tố tụng trong việc phát hiện, xử lý tội phạm (nghĩa vụ chấp hành các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người bị hại nếu từ chối khai báo có thể bị dẫn giải[4]; có quyền đưa ra chứng cứ, được thông báo kết quả giải quyết vụ án; đề nghị thay đổi người dịch thuật; đề nghị chủ tọa hỏi bị cáo và những người tham gia phiên tòa; yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích khi bị đe dọa[5]); bổ sung hai điều luật để quy định cụ thể cách xác định tuổi của người bị hại trong trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà không xác định được chính xác tuổi của họ[6]... để góp phần bảo đảm và thúc đẩy quyền con người, phòng, chống các hành vi tra tấn.
Tuy nhiên, các quy định về lấy lời khai bị hại được quy định tại Chương XII Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đối chất và nhận dạng chưa được các nhà làm luật quy định riêng, cụ thể về trình tự, thủ tục, thời gian lấy lời khai bị hại, mà vẫn còn quy định viện dẫn: “Việc triệu tập, lấy lời khai của bị hại, đương sự được thực hiện theo quy định tại các điều 185, 186 và 187 của Bộ luật này”[7]. Như vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định trình tự, thủ tục lấy lời khai của bị hại sẽ được tiến hành giống như lấy lời khai người làm chứng như: Trước khi tiến hành lấy lời khai bị hại, chủ thể tiến hành tố tụng phải triệu tập bị hại[8]; việc lấy lời khai người bị hại được tiến hành tại nơi tiến hành điều tra hoặc nơi cư trú, nơi làm việc của người đó[9], trước khi lấy lời khai, bị hại được điều tra viên giải thích về quyền và nghĩa vụ[10]; khi lấy lời khai người bị hại phải được tiến hành lập biên bản[11]… Như vậy, vấn đề đặt ra là, tại sao Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định rất cụ thể khi lấy lời khai bị can, người làm chứng nhưng lấy lời khai bị hại chỉ quy định viện dẫn được tiến hành như khi lấy lời khai người làm chứng?
Người làm chứng và bị hại tuy có những điểm tương đồng nhưng lại khác nhau về địa vị pháp lý, quyền năng tố tụng và tính chất, thái độ tâm lý khác nhau khi tham gia hoạt động tố tụng. Một người không thể đồng thời vừa là bị hại, vừa là người làm chứng trong một vụ án hình sự thì tại sao Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 vẫn quy định việc lấy lời khai bị hại được tiến hành giống như lấy lời khai người làm chứng? Như vậy, có thể thấy, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 vẫn chưa có sự thay đổi lớn trong quy định lấy lời khai bị hại so với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Theo tác giả, chính vì chưa có quy định riêng, cụ thể về trình tự, thủ tục, thời gian trong việc tổ chức lấy lời khai bị hại trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên vấn đề bảo đảm quyền con người theo tinh thần của Công ước vẫn chưa được bảo đảm, đồng thời gây khó khăn cho cơ quan chức năng trong quá trình tổ chức thực hiện. Cụ thể:
Thứ nhất, về tư cách tham gia tố tụng của bị hại, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 vẫn chưa quy định cụ thể khi nào cá nhân, cơ quan, tổ chức được xác định là bị hại khi tham gia tố tụng. Đây là điểm bất hợp lý, vì chỉ khi cá nhân, cơ quan, tổ chức đã được cơ quan tiến hành tố tụng xác định là bị hại thì mới bắt đầu phát sinh quyền[12] và nghĩa vụ[13], nếu không chấp hành nghĩa vụ của mình, bị hại có thể bị áp dụng biện pháp cưỡng chế (dẫn giải). Trong khi đó, vấn đề này lại được quy định rất cụ thể đối với người làm chứng, bị can, bị cáo như: Người làm chứng được xác định từ khi cơ quan điều tra triệu tập; bị can được xác định khi có quyết định khởi tố bị can; bị cáo được xác định khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Thứ hai, về thời gian tổ chức ghi lời khai bị hại, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 vẫn chưa quy định một cách cụ thể thời điểm nào được tiến hành. Vì vậy, trên thực tế, các chủ thể tiến hành tố tụng có thể tiến hành tổ chức lấy lời khai bị hại bất kể ngày hay đêm. Theo tác giả, việc ghi lời khai vào ban đêm sẽ không bảo đảm sự minh mẫn, sáng suốt của bị hại trong quá trình cung cấp thông tin, tài liệu cho cơ quan tiến hành tố tụng, vì trong thời gian này, cơ thể con người đang đi vào tình trạng uể oải sau một ngày hoạt động và mong muốn được nghỉ ngơi, do đó, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý của bị hại. Như vậy, sẽ dẫn đến giá trị bản khai của bị hại không bảo đảm tính khách quan, đồng thời sẽ trực tiếp gây khó khăn cho hoạt động định hướng, đưa ra các giả thuyết điều tra tiếp theo. Chưa kể đến trường hợp, một số điều tra viên, kiểm sát viên cố tình triệu tập để lấy lời khai vào ban đêm nhằm mục đích làm cho người bị hại ức chế về tâm lý, tinh thần không ổn định, từ đó “mớm cung” để người bị hại khai sai sự thật. Theo tác giả, đây có thể được xem như một hình thức tra tấn về mặt tinh thần được quy định tại Điều 1 của Công ước. Tuy nhiên, trong những trường hợp cần thiết, do yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm của cơ quan chức năng mà buộc phải tiến hành lấy lời khai vào ban đêm khi không thể trì hoãn, thì để bảo vệ lợi ích hợp pháp cho bị hại, điều tra viên vẫn có thể tiến hành ghi lời khai của họ nhưng phải bảo đảm trạng thái tinh thần được minh mẫn và được sự đồng ý của người bị hại.
Thứ ba, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa có quy định “trước khi tiến hành ghi lời khai bị hại phải xác định trạng thái tâm lý, tinh thần của người khai”. Trong khi đó, vấn đề này rất cần thiết trong thực tiễn và đóng một vai trò vô cùng quan trọng, quyết định đến sự thành công hay thất bại của buổi ghi lời khai và giá trị chứng minh của nguồn chứng cứ này, nhất là trong các vụ án hình sự khởi tố theo yêu cầu người bị hại tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138 của Bộ luật Hình sự năm 2015[14]. Nếu bị hại không ở trong trạng thái tinh thần tốt nhất, đang bị ức chế, sợ hãi bởi những hành vi phạm tội đã gây ra cho họ mà vẫn tiến hành tổ chức ghi nhận lời khai thì kết quả làm việc sẽ không như mong muốn, thậm chí, điều tra viên phải hủy buổi làm việc vì bị hại không khai được gì, như vậy, sẽ gây lãng phí thời gian và kết quả ghi nhận sẽ không có giá trị pháp lý. Mặt khác, việc xác định mối quan hệ của bị hại đối với bị can, bị cáo cũng là vấn đề quan trọng mà pháp luật cũng cần phải lưu ý, bởi nếu bị hại vì quá căm phẫn với hành vi phạm tội thì có khả năng họ sẽ cố tình khai thêm những tình tiết không có thật hoặc nếu có mối quan hệ quen biết trước thì họ sẽ khai theo chiều hướng giảm nhẹ. Ngoài ra, còn có trường hợp bị hại cố tình khai tăng thêm thiệt hại do hành vi phạm tội đã gây ra để tăng mức yêu cầu bồi thường.
Thứ tư, đối với bị hại là người chưa thành niên, khoản 2 Điều 421 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Việc lấy lời khai người bị hại phải có người đại diện[15] hoặc người bảo vệ quyền lợi[16] của họ tham dự. Như vậy, người thân thích của bị hại là ông, bà, cha, mẹ… có được tham dự buổi lấy lời khai hay không? Bởi vì, trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chưa có một quy định nào giải thích người đại diện sẽ bao gồm cả những người thân thích của bị hại. Do đó, trong thực tiễn áp dụng pháp luật rất dễ gây ra những cách hiểu khác nhau. Mặt khác, theo quy định trên thì người đại diện hoặc người bảo vệ quyền lợi chỉ tham dự buổi ghi lời khai như là người chứng kiến các hoạt động tố tụng của cơ quan chức năng. Theo tác giả, người chưa thành niên tham gia tố tụng với tư cách là bị hại có những đặc điểm riêng biệt, do đó, khi tiếp xúc trực tiếp với hệ thống tư pháp, người chưa thành niên thường có cảm giác lo sợ và có thể bị tổn thương về tinh thần, do đó, sự có mặt của người đại diện, người thân thích, người bảo vệ quyền lợi là rất cần thiết để làm cho người chưa thành niên giảm bớt áp lực. Tuy nhiên, nếu sự tham gia của họ chỉ dừng lại ở mức độ “chứng kiến” thì vẫn chưa đủ. Nếu được tham gia đặt câu hỏi cùng với điều tra viên hoặc đưa ra lời động viên tinh thần sẽ giúp cho bị hại là người chưa thành niên giảm bớt áp lực tâm lý để có thể trả lời đúng đắn các câu hỏi của cơ quan tiến hành tố tụng đã đặt ra. Vì trong lúc này, bị hại là người chưa thành niên chỉ tin tưởng vào người thân, người đại diện, người bảo vệ quyền lợi của họ và hơn ai hết, những người này mới có thể hiểu và nắm bắt được đầy đủ tâm lý của bị hại. Tương tự như vậy, đối với bị hại là người có nhược điểm về thể chất và tinh thần cũng cần được bảo vệ và quy định cụ thể rằng, khi tiến hành ghi lời khai phải có người thân, người đại diện, người bảo vệ quyền lợi tham gia và được đặt câu hỏi. Có thể thấy, sự “thiếu vắng” các quy định pháp luật này sẽ khiến cho việc ghi lời khai bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất và tinh thần trở nên khó khăn hơn, không bảo bảm các yêu cầu của một buổi ghi lời khai của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như giá trị chứng minh của bản khai khi đã được ghi nhận.
3. Kiến nghị hoàn thiện quy định về lấy lời khai
Một là, bổ sung quy định về căn cứ, thời điểm cá nhân, cơ quan, tổ chức được xác định là bị hại tại Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như sau: “Bị hại gồm cá nhân bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản và cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra và được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập, công nhận là bị hại”. Việc quy định rõ vấn đề này sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động thu thập chứng cứ và giúp cho bị hại hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình trong từng giai đoạn tố tụng, từ đó, có thể tự bảo vệ bản thân, tránh các hành vi đe dọa, cưỡng ép tâm lý.
Hai là, cần có một quy định riêng về lấy lời khai bị hại, không viện dẫn lấy lời khai bị hại được tiến hành giống như lấy lời khai người làm chứng và bảo đảm một số nội dung như: (i) Trước khi tiến hành lấy lời khai, điều tra viên phải xác định trạng thái tâm lý của bị hại. Đồng thời, phải giải thích cho người bị hại biết về quyền và nghĩa vụ của họ. Nếu bị hại có trạng thái tâm lý không ổn định thì không tiến hành lấy lời khai. Việc này phải được ghi vào biên bản. (ii) Không tổ chức lấy lời khai bị hại vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được nhưng phải được sự đồng ý của bị hại. (iii) Khi hỏi về nội dung vụ án, điều tra viên phải làm rõ mối quan hệ giữa bị hại với người đã thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết có liên quan đến vụ án mà họ biết.
Ba là, bổ sung quy định về lấy lời khai người có nhược điểm về thể chất, tinh thần, khi lấy lời khai phải có người thân, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền lợi tham dự và được đặt câu hỏi khi được điều tra viên, kiểm sát viên đồng ý.
Bốn là, bổ sung người đại diện, người bảo vệ quyền lợi được phép tham gia hỏi về những tình tiết của vụ án tại khoản 2 Điều 421 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 với nội dung: “Việc lấy lời khai người bị hại, người làm chứng phải có người thân, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền lợi của họ tham dự. Người đại diện hoặc người bảo vệ quyền lợi được hỏi người bị hại, người làm chứng nếu được điều tra viên, kiểm sát viên đồng ý”.
ThS. Bùi Văn Nguyên
Trường Đại học Cảnh sát nhân dân
[1]. Khoản 1 Điều 2 Công ước.
[2]. Điều 15 Công ước.
[3]. Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.
[4]. Khoản 4 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[5]. Khoản 2 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[6]. Điều 416, Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[7]. Điều 188 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[8]. Điều 185 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[9]. Khoản 1 Điều 186 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[10]. Khoản 3 Điều 186 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[11]. Điều 187 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[12]. Khoản 2 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[13]. Khoản 4 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[14]. Khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[15]. Điều 420 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[16]. Điều 84 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 380), tháng 5/2023)