Thứ sáu 16/10/2026 09:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số điểm mới về di chúc miệng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Tóm tắt: Chế định thừa kế là một chế định quan trọng và có sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống dân sự của cá nhân. Các quy định về thừa kế trong Bộ luật Dân sự năm 2015 có những điểm khác biệt cơ bản so với Bộ luật Dân sự năm 2005. Riêng đối với phần di chúc miệng thì Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có một số thay đổi, khắc phục những bất cập, thiếu sót. Thông qua bài viết này, trên cơ sở so sánh các quy định về “di chúc miệng” giữa Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015, chúng tôi chỉ ra một số điểm mới về di chúc miệng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Abstract: Inheritance is an important institution and has a strong influence on the inpidual's personal life. The provisions on inheritance under the Civil Code 2015 are fundamentally different from the 2005 Civil Code. Particularly for the oral testament, the new Civil Code has made some changes, In this article, on the basis of a comparison of “oral testimony” provisions under the 2005 Civil Code and the Civil Code 2015, we point out some new points in this article. Goodwill according to the provisions of the Civil Code 2015.

Quyền lập di chúc là một quyền dân sự cơ bản của cá nhân. Vì vậy, cá nhân có tài sản đáp ứng được những điều kiện pháp luật quy định có quyền lập di chúc. Theo quy định của pháp luật dân sự thì cá nhân có quyền lập di chúc dưới hai hình thức là di chúc bằng văn bản và di chúc miệng. Trong đó, hình thức di chúc miệng được thừa nhận từ rất sớm trong các văn bản quy phạm pháp luật và được kế thừa cho đến nay như: Bộ luật Hồng Đức, Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế, Pháp lệnh Thừa kế năm 1990, Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 và đặc biệt Bộ luật Dân sự năm 2015 vẫn tiếp tục thừa nhận hình thức di chúc miệng và có những điểm tiến bộ rõ nét so với các văn bản trước đó.

1. Khái niệm di chúc miệng

Di chúc miệng là một loại hình thức di chúc được pháp luật Việt Nam thừa nhận, nhưng nhà làm luật lại chưa đưa ra khái niệm về di chúc miệng. Theo dân gian, di chúc miệng còn có tên gọi là “chúc ngôn” hoặc “di ngôn” để chỉ sự thể hiện ý chí của người lập di chúc thông qua lời nói trong những trường hợp đặc biệt. Thông thường di chúc miệng là những lời “trăn trối” hay “dặn dò” của người sắp chết cho những người còn sống thực hiện ý nguyện cuối cùng của mình về những vấn đề liên quan đến tài sản như: Phân chia di sản, chỉ định người hưởng di sản, truất quyền hưởng di sản, di sản thờ cúng, di tặng… để những người còn sống có thể căn cứ theo đó mà thực hiện.

Từ đó, ta có thể khái quát: “Di chúc miệng là sự bày tỏ bằng lời nói ý chí của người để lại di sản thừa kế lúc còn sống trong việc định đoạt khối di sản của mình cho người khác”[1] hay “di chúc thể hiện ý chí của người để lại di sản thông qua lời nói nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho chủ thể khác sau khi chết”[2]. Đây là hình thức di chúc đặc biệt chỉ được lập trong những trường hợp nhất định khi cá nhân không thể lập được di chúc bằng văn bản.

2. Một số điểm mới về di chúc miệng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Thứ nhất, người lập di chúc miệng

Di chúc miệng không phải được lập một cách tùy tiện mà phải đáp ứng một số điều kiện nhất định. Trong đó, điều kiện quan trọng nhất là người lập di chúc phải có quyền lập di chúc miệng. Quyền lập di chúc miệng của cá nhân chỉ phát sinh khi cá nhân đó thuộc trường hợp đặc biệt như luật định.

Khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng”. Vậy, người lập di chúc miệng phải đang trong tình trạng tính mạng “bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc nguyên nhân khác”. Bàn về tình trạng người lập di chúc “tính mạng bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc nguyên nhân khác”. Ngoài nguyên nhân cái chết đe dọa do bệnh tật thì pháp luật cũng dự liệu những trường hợp khác đe dọa tính mạng của người di chúc miệng, nhưng nhà làm luật chưa có văn bản giải thích cụ thể “nguyên nhân khác” là nguyên nhân nào? Nguyên nhân đó phải thỏa mãn điều kiện gì? Như vậy, chỉ cần nhận định được lý do có thể khiến người di chúc miệng bị đe dọa tính mạng đều phát sinh quyền lập di chúc miệng, cho nên quy định “nguyên nhân khác” là không cần thiết.

Khoản 1 Điều 637 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã sửa đổi về tình trạng của người lập di chúc miệng như sau: “Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng”. Như vậy, theo quy định này thì cá nhân rơi vào tình trạng “tính mạng bị cái chết đe dọa” mà không xem xét đến nguyên nhân gây ra tình trạng đó thì có thể lập di chúc miệng. Sự sửa đổi này thể hiện sự tiến bộ của Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định này hợp lý, ngắn gọn, dễ hiểu và tránh sự nhầm lẫn, lúng túng khi áp dụng pháp luật.

Thứ hai, ghi chép lại di chúc miệng

Di chúc miệng được lập khi người lập di chúc đang trong tình trạng nguy kịch tính mạng, thông thường sau khi để lại di nguyện cuối cùng thì người di chúc miệng chết nên không thể đối chứng. Theo tâm lý học, khả năng ghi nhớ thông tin của con người là có giới hạn, vì vậy, để phòng ngừa trường hợp người làm chứng sẽ quên hoặc nhớ không chính xác di nguyện của người chết nên pháp luật dân sự quy định di chúc miệng phải được ghi chép lại trong một khoảng thời gian hợp lý để bảo đảm tính chính xác, khách quan. Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về vấn đề này như sau:

Theo khoản 5 Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2005: Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và “ngay sau đó” những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ”; khoản 5 Điều 638 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và “ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại”, cùng ký tên hoặc điểm chỉ.

Về cơ bản, nội dung của hai điều khoản trên quy định tương tự nhau nhưng có sự khác nhau về mặt thuật ngữ pháp lý về việc ghi chép lại di chúc miệng:

- Thời điểm ghi chép lại di chúc miệng:

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định khi người lập di chúc miệng thể hiện ý chí trước mặt ít nhất hai người làm chứng và “ngay sau đó” di chúc phải được ghi chép lại. Thuật ngữ “ngay sau đó” đã phát sinh nhiều bất cập trong việc hiểu và áp dụng pháp luật, tạo cách hiểu chưa thống nhất là phải ghi chép lại ngay tức khắc hay phải được ghi chép lại trong một thời gian hợp lý. Cách hiểu thứ nhất, việc ghi chép lại di chúc miệng đi liền sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng mới được chấp nhận. Nếu di chúc không được ghi chép lại ngay (thường cùng ngày với ngày nghe được ý chí cuối cùng của người lập di chúc), thì sẽ không có giá trị pháp lý. Cách hiểu thứ hai, ngay sau đó được hiểu một cách rộng hơn là khoảng thời gian hợp lý, di chúc miệng có thể được ghi chép lại trong vòng 05 ngày kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí sau cùng tương đương với thời hạn đi công chứng di chúc.

Trong thực tiễn xét xử thì Tòa án cũng xử lý vụ việc theo cách hiểu thứ nhất như trong vụ án “Bản án số 2408/2005/DS-ST ngày 03/11/2005 của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh[3]: Ông Nam chết ngày 06/02/2002 có lập di chúc miệng trước mặt hai người làm chứng là bà Hương, bà Lang với nội dung để lại nhà và xe cho bà Tỵ, bà Linh. Bà Lang viết khảo tờ di chúc bản chính, hôm sau bà viết lại giao cho bà Linh. Tòa án các cấp không chấp nhận di chúc viết lại. Sau đó, bà Linh, bà Tỵ xuất trình thêm tờ di chúc ghi ngày 06/02/2002 và khai là bản chính nhưng cũng không được Tòa án chấp nhận. Tòa án không chấp nhận cả hai bản di chúc vì không có căn cứ cho rằng di chúc miệng được viết ngay lúc ông Nam thể hiện ý chí”.

Đối với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 “và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ” đã khẳng định việc ghi chép lại phải được thực hiện ngay theo cách hiểu thứ nhất, tạo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật. Sự thay đổi là điều cần thiết và hợp lý nâng cao tính chặt chẽ của pháp luật.

- Người ghi chép lại di chúc miệng:

Pháp luật quy định di chúc miệng phải được ghi chép lại. Vậy ai là người ghi chép lại thì Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng có sự khác biệt. Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “những người làm chứng ghi chép lại”, còn theo Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “người làm chứng ghi chép lại”.

Về chủ thể ghi chép lại di chúc miệng không thay đổi đó là người làm chứng, nhưng người làm chứng cho di chúc miệng có từ hai người trở lên, vậy ai sẽ là người ghi chép lại trong những người làm chứng, hay tất cả những người làm chứng phải cùng ghi chép lại di chúc miệng, thì cả hai cách quy định trên vẫn chưa trả lời rõ ràng vấn đề này. Tuy nhiên, cách quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 bỏ đi từ “những” tạo nên cách hiểu có thể một trong những người làm chứng ghi chép lại di chúc miệng vẫn coi là hợp pháp, còn cách quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 dễ gây hiểu theo hướng nhiều người cùng ghi chép lại di chúc miệng, nhưng nếu nhiều người cùng ghi chép lại di chúc miệng sẽ dễ làm di chúc khó hiểu, không mạch lạc, không thống nhất về chữ viết và cách diễn đạt.

Thứ ba, công chứng, chứng thực di chúc miệng

Sau khi di chúc miệng đã được người làm chứng ghi chép lại và cùng ký tên hoặc điểm chỉ vẫn chưa có giá trị pháp lý mà di chúc đó phải được mang đi công chứng hoặc chứng thực. Khoản 2 Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “… Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực”. Vấn đề về công chứng, chứng thực di chúc miệng là một trong những vấn đề bất cập nhất của Bộ luật Dân sự năm 2005 về di chúc miệng, quy định này chưa rõ ràng nên phát sinh nhiều vấn đề pháp lý liên quan, dẫn đến di chúc miệng được lập không thể phát sinh hiệu lực trên thực tế: Thẩm quyền của công chứng viên trong chứng thực di chúc; Luật Công chứng năm 2014 không quy định thủ tục công chứng di chúc miệng dẫn đến trường hợp công chứng viên từ chối công chứng di chúc miệng, vì vậy, công chứng viên còn rất lúng túng về thủ tục công chứng, chứng thực di chúc miệng; khi công chứng di chúc miệng thì sẽ công chứng về vấn đề nào, nội dung di chúc miệng hay chỉ xác nhận có tồn tại bản di chúc miệng hay xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của những người làm chứng di chúc miệng?

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có điểm tiến bộ khi quy định rõ thẩm quyền của công chứng viên trong việc công chứng, chứng thực di chúc miệng tại khoản 5 Điều 638: “Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng”. Bằng quy định này, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã xác định rõ công chứng viên có thẩm quyền xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng và quy định này là hợp lý (vì công chứng viên không thể nào chứng thực được nội dung của di chúc) tạo căn cứ pháp lý cho công chứng viên, cơ quan có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ của mình.

Từ những phân tích trên có thể thấy, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về vấn đề di chúc miệng có sự tiến bộ so với Bộ luật Dân sự năm 2005 khi quy định rõ ràng, dễ hiểu, khắc phục một số hạn chế, bất cập, tuy nhiên vẫn chưa tạo được bước tiến quan trọng để hoàn thiện pháp luật về di chúc miệng.

ThS. Lê Đức Hiền, Trường Đại học Quy Nhơn

ThS. Nguyễn Thị Hồng Vân, Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp


[1] Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (tập 1), Nxb. Công an nhân dân, tr. 334.

[2] Đỗ Văn Đại (2012), Luật Thừa Kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb. Chính trị Quốc gia, tr. 565.

[3] Đỗ Văn Đại (2012), Luật Thừa Kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb. Chính trị Quốc gia.tr. 551.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: