Sau thắng lợi Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng và Chính phủ đã khẩn trương xây dựng bộ máy nhà nước cách mạng nhằm củng cố và bảo vệ chính quyền dân chủ Nhân dân. Trong bối cảnh đó, hệ thống các cơ quan tư pháp sớm được hình thành với vai trò là bộ phận cấu thành quan trọng của bộ máy nhà nước, góp phần bảo vệ thành quả cách mạng và giữ vững trật tự, kỷ cương xã hội. Ngày 28/8/1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên cáo công bố danh sách nội các thống nhất quốc gia, trong đó, có Bộ Tư pháp, đánh dấu sự ra đời của ngành Tư pháp. Sắc lệnh số 33/SL ngày 13/9/1945 được ban hành bước đầu thiết lập hệ thống cơ quan xét xử của chế độ mới với việc thành lập các Tòa án quân sự. Ngày 19/7/1946, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Sắc lệnh số 130/SL đã ghi nhận nền tảng pháp lý đầu tiên về thể thức thi hành mệnh lệnh hoặc bản án của Tòa án. Nhìn lại chặng đường lịch sử ấy, dấu ấn về sự hình thành và phát triển Hệ thống THADS được khẳng định, ghi nhận với những đổi thay, trưởng thành và phát triển vững mạnh.
GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1946 ĐẾN NĂM 1960: SẮC LỆNH LỊCH SỬ VÀ THIẾT LẬP NỀN MÓNG THỂ CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Cùng với sự ra đời của Bộ Tư pháp và tổ chức Tòa án, ngày 24/01/1946 - 05 tháng sau ngày khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 13/SL quy định về tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán. Theo đó, trong các xã, thị xã hoặc khu phố, Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Thư ký đều chịu trách nhiệm thi hành những lệnh, mệnh lệnh hoặc án của các Tòa án. Bản án sẽ tùy từng việc, chỉ định một nhân viên để giao cho việc thi hành lệnh, mệnh lệnh hoặc án. Ở những nơi nào đã có Thừa phát lại riêng, thì người đương sự có quyền nhờ Thừa phát lại riêng thi hành án hoặc mệnh lệnh. Ban Tư pháp xã có quyền “thi hành những mệnh lệnh của các Thẩm phán cấp trên”. Tiếp đó, ngày 19/7/1946, Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Sắc lệnh số 130/SL quy định thể thức thi hành mệnh lệnh hoặc bản án của Tòa án. Có thể khẳng định, đây là những văn bản đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định riêng về công tác thi hành án, thẩm quyền và thể thức thi hành án. Hoạt động THADS trở thành một lĩnh vực công tác của ngành Tư pháp, do Thừa phát lại và Ban Tư pháp xã thực hiện. Thời kỳ này, mặc dù số lượng cán bộ còn ít, cơ cấu tổ chức đơn giản và nghiệp vụ còn hạn chế, tuy nhiên, Ban Tư pháp xã và Thừa phát lại đã có nhiều nỗ lực, cố gắng trong thi hành bản án, mệnh lệnh của Thẩm phán, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào chính quyền cách mạng non trẻ.
Đến năm 1950, trước yêu cầu mới của cuộc kháng chiến, đất nước thực hiện cuộc cải cách tư pháp lần thứ nhất để xây dựng nền “tư pháp Nhân dân” - nền tư pháp phản ánh đầy đủ, toàn diện và sâu sắc những giá trị dân chủ, tiến bộ của chế độ mới. Ngày 22/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 85/SL về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng, bước đầu tạo sự thay đổi về cơ chế quản lý và tổ chức hoạt động THADS. Sắc lệnh số 85/SL khẳng định việc bảo vệ quyền lợi của Nhân dân thông qua hoạt động THADS là trách nhiệm của Nhà nước, của chế độ và giao “Thẩm phán huyện dưới sự kiểm soát của Biện lý có nhiệm vụ đem chấp hành các án hình về khoản bồi thường hay bồi hoàn và các án hộ, mà chính Tòa án huyện hoặc Tòa án trên đã tuyên”. Theo đó, việc THADS được giao cho Thẩm phán huyện thực hiện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chánh án, thay vì Thừa phát lại và Ban Tư pháp xã thực hiện như trước đây. Điều này cho thấy vị trí, vai trò của THADS ngày càng được nâng cao.
GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1960 ĐẾN NĂM 1980: XÁC LẬP VỊ THẾ VÀ VAI TRÒ THỰC THI CÔNG LÝ CỦA ĐỘI NGŨ NHÂN VIÊN CHẤP HÀNH ÁN
Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (TAND) năm 1960 được Quốc hội thông qua ngày 14/7/1960 và Chủ tịch nước ký ban hành ngày 26/7/1960, Điều 24 Luật Tổ chức TAND năm 1960 quy định: “Tại các TAND địa phương có nhân viên chấp hành án làm nhiệm vụ thi hành những bản án và quyết định về dân sự, những khoản xử về bồi thường và tài sản trong các bản án và quyết định về hình sự”. Quy định này đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tổ chức hoạt động THADS, bởi trước đó, Thẩm phán vừa thực hiện công tác xét xử, vừa kiêm nhiệm công tác THADS.
Theo quy định mới, từ ngày 26/7/1960, các Tòa án đã có nhân viên chấp hành án chuyên trách thực hiện nhiệm vụ THADS. Nhân viên chấp hành án được bố trí tại các TAND địa phương, gồm TAND cấp tỉnh, TAND cấp huyện và Tòa án ở các khu vực tự trị. Trên cơ sở nhu cầu và nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ THADS, nhân viên chấp hành án được bố trí ở cấp huyện làm nhiệm vụ thi hành án thay Thẩm phán huyện và ở cấp tỉnh. Từ tháng 7/1960 đến tháng 10/1972, nhân viên chấp hành án là chức danh trực thuộc sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Thẩm phán.
Cùng với đó, để đội ngũ cán bộ làm công tác THADS hoàn thành nhiệm vụ được giao, ngày 13/10/1972, Chánh án TAND tối cao ban hành Quyết định số 186-TC về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên và Thông tư số 187-TC hướng dẫn thực hiện Quyết định số 186-TC, chức danh “nhân viên chấp hành án” chính thức đổi tên thành chức danh “Chấp hành viên”. Chấp hành viên được bố trí tại các Tòa án địa phương dưới sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Chánh án Tòa án để thực hiện chuyên trách việc thi hành án. Như vậy, ngày 13/10/1972 là thời điểm quan trọng, đánh dấu sự ra đời của chức danh “Chấp hành viên” và được sử dụng từ đó đến nay.
Ngày 14/11/1974, TAND tối cao ban hành Quyết định số 53/QĐ-CB thành lập Phòng Chỉ đạo thi hành án, hoạt động độc lập dưới sự chỉ đạo của Chánh án TAND tối cao, giúp Chánh án TAND tối cao nắm tình hình, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc công tác thi hành án của Chấp hành viên tại TAND địa phương, xây dựng các văn bản chỉ đạo chung về thi hành án.
GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1980 ĐẾN NĂM 1993: NGUYÊN TẮC HIẾN ĐỊNH VÀ PHÁP LỆNH CHUYÊN BIỆT - HOÀN THIỆN HÀNH LANG PHÁP LÝ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Hiến pháp năm 1980 - bản Hiến pháp đầu tiên thời kỳ hòa bình, thống nhất, đánh dấu cột mốc lịch sử quan trọng khi đất nước chuyển sang một giai đoạn mới: Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước. Lần đầu tiên Hiến pháp hiến định nguyên tắc “Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật” (Điều 12) và “Các bản án và quyết định của TAND đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” (Điều 137), tạo cơ sở chính trị - pháp lý vững chắc cho hoạt động thi hành án. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 1980, Điều 16 Luật Tổ chức TAND năm 1981 giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp “quản lý các TAND địa phương về mặt tổ chức”, trong đó có công tác THADS, đồng thời, bảo đảm “phối hợp chặt chẽ với Chánh án TAND tối cao trong việc thực hiện nhiệm vụ này”. Ngày 18/7/1982, Bộ Tư pháp và TAND tối cao đã ban hành Thông tư liên ngành số 472/TTLN về công tác quản lý thi hành án trong thời kỳ trước mắt. Theo đó, tại TAND cấp tỉnh có Phòng Thi hành án nằm trong cơ cấu bộ máy và biên chế của Tòa án để giúp Chánh án chỉ đạo công tác thi hành án; tại các TAND cấp huyện có Chấp hành viên hoặc cán bộ làm công tác thi hành án dưới sự chỉ đạo của Chánh án.
Hiến pháp năm 1992 - Hiến pháp của thời kỳ đầu đổi mới đã thể chế hóa đường lối của Đảng thông qua việc khẳng định yêu cầu xây dựng “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Trên cơ sở đó, Luật Tổ chức Chính phủ năm 1992 lần đầu tiên xác định “quản lý công tác thi hành án” là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong lĩnh vực pháp luật và hành chính tư pháp. Với tinh thần đó, thể chế THADS đã được nâng lên thành pháp lệnh vào các năm 1989 và 1993, tạo bước ngoặt quan trọng về tổ chức và hoạt động THADS với những quy định chặt chẽ, hợp lý, phù hợp với tinh thần dân chủ, góp phần bảo vệ hiệu quả hơn quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của đất nước thời kỳ đổi mới. Điểm đáng chú ý trong giai đoạn này là cơ chế THADS đã kết hợp giữa quyền tự định đoạt của đương sự với sự chủ động của Nhà nước (từ Pháp lệnh THADS năm 1989); THADS đã chuyển từ một bộ phận cấu thành của Tòa án sang một bộ phận cấu thành của cơ quan hành chính.
GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1993 ĐẾN NĂM 2008: CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THUỘC CHÍNH PHỦ
Đây là giai đoạn công tác THADS được chuyển giao hoàn toàn từ TAND các cấp sang các cơ quan thuộc Chính phủ, theo Nghị quyết ngày 06/10/1992 quy định một số điểm về việc thi hành Luật Tổ chức TAND. Nghị quyết này là cơ sở pháp lý quan trọng cho quá trình cải cách tổ chức bộ máy THADS.
Trên cơ sở Pháp lệnh THADS năm 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 30/CP ngày 02/6/1993 quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý công tác THADS, cơ quan THADS và Chấp hành viên. Theo đó, các cơ quan THADS gồm có Phòng Thi hành án thuộc Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Phòng Thi hành án quân khu và cấp tương đương, Đội Thi hành án thuộc Phòng Tư pháp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (Điều 7). Ở Trung ương, Cục Quản lý THADS thuộc Bộ Tư pháp có nhiệm vụ tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý tổ chức, chỉ đạo hoạt động THADS trong phạm vi toàn quốc (Điều 2). Như vậy, kể từ ngày 01/6/1993 (ngày Pháp lệnh THADS năm 1993 có hiệu lực thi hành), hệ thống THADS được xây dựng theo cơ cấu từ trung ương đến cấp huyện, do Chính phủ thống nhất quản lý và chỉ đạo.
Trước yêu cầu mới của đất nước, để tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước, ngày 23/01/1995, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/HNTW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính, trong đó, đề cập nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật; điều chỉnh hợp lý sự phân công và phối hợp giữa cơ quan hành chính với Viện kiểm sát nhân dân và TAND trong các khâu điều tra, khởi tố, truy tố, thi hành án.
Trong giai đoạn này, mặc dù điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước còn nhiều khó khăn, Chính phủ đã quan tâm bảo đảm và tăng cường kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc và biên chế đối với các cơ quan THADS. Đồng thời, lãnh đạo Đảng, Nhà nước thường xuyên theo dõi, chỉ đạo sát sao công tác tư pháp và THADS; tại các kỳ họp Quốc hội luôn xem xét, cho ý kiến đối với báo cáo của Chính phủ về công tác THADS. Nhờ đó, công tác THADS trong giai đoạn này đã đạt kết quả quan trọng, số việc và số tiền thi hành xong luôn tăng cao hơn so với những năm trước. Chỉ thị số 20/2001/CT-TTg ngày 11/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác THADS ghi nhận: “Hệ thống tổ chức các cơ quan THADS đã được hình thành trong cả nước, công tác THADS đã được triển khai và hoạt động có hiệu quả bước đầu, làm giảm đáng kể số lượng án tồn đọng”.
Tại Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới nhấn mạnh: “Trên cơ sở tổng kết, đánh giá về công tác thi hành án, cần sớm xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan thi hành án, bảo đảm các quyết định, bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh…”.
Để cụ thể hóa, đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống và đáp ứng yêu cầu thực tế, ngày 14/01/2004, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh THADS năm 2004 với nhiều đổi mới quan trọng về THADS, trong đó có tổ chức, cán bộ các cơ quan THADS và trình tự, thủ tục THADS. Đồng thời, Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX ngày 03/02/2004 xác định: “Tập trung thực hiện tốt công tác thi hành án, nhất là THADS, khắc phục cơ bản tình trạng tồn đọng kéo dài”. Trên cơ sở Pháp lệnh THADS năm 2004, ngày 11/4/2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 50/2005/NĐ-CP về cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS và cán bộ, công chức làm công tác THADS. Theo đó, Cục THADS trực thuộc Bộ Tư pháp được giao thêm nhiều nhiệm vụ quan trọng như tổ chức áp dụng thống nhất pháp luật về THADS trong toàn quốc, hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo về thi hành án; giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý theo ngành dọc đối với cơ quan THADS cấp tỉnh, cấp huyện...
Tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã xác định: “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp phù hợp với mục tiêu, định hướng Chiến lược Cải cách tư pháp; xác định đúng, đủ quyền năng và trách nhiệm pháp lý cho từng cơ quan, chức danh tư pháp”; “Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp”; “Xây dựng Bộ luật thi hành án điều chỉnh tất cả các lĩnh vực thi hành án; xác định Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước thống nhất công tác thi hành án; từng bước xã hội hóa hoạt động thi hành án”.
Ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 với các định hướng: “Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện, phương tiện làm việc; trong đó, xác định Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm”; “Chuẩn bị điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án”; “Từng bước thực hiện việc xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án“; “Nghiên cứu chế định Thừa phát lại (Thừa hành viên); trước mắt, có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương, sau vài năm, trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo”.
Căn cứ vào các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các cơ quan THADS được củng cố về tổ chức: Phòng Thi hành án thuộc Sở Tư pháp, Đội Thi hành án thuộc Phòng Tư pháp trở thành hệ thống cơ quan tương đối độc lập. THADS cấp tỉnh là cơ quan chịu sự quản lý, chỉ đạo của Bộ Tư pháp về tổ chức, cán bộ, kinh phí và nghiệp vụ; chịu sự quản lý, chỉ đạo của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về mặt Nhà nước theo quy định của pháp luật. THADS cấp huyện trực thuộc và chịu sự quản lý, chỉ đạo của THADS cấp tỉnh về kinh phí và nghiệp vụ; chịu sự quản lý, chỉ đạo của Ủy ban nhân dân cấp huyện về mặt Nhà nước theo quy định của pháp luật.
GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2008 ĐẾN NGÀY 01/7/2025: VẬN HÀNH HỆ THỐNG QUẢN LÝ TẬP TRUNG, THỐNG NHẤT THEO NGÀNH DỌC VÀ KHẲNG ĐỊNH BẢN SẮC TRUYỀN THỐNG
Để tiếp tục củng cố và hoàn thiện về tổ chức, bộ máy và cơ sở pháp lý, tạo điều kiện thúc đẩy công tác THADS ngày càng hiệu quả, ngày 14/11/2008, tại Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XII thông qua Luật THADS năm 2008. Tiếp theo, ngày 09/9/2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 74/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS về cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS và công chức làm công tác THADS (Nghị định số 74/2009/NĐ-CP). Theo đó, Hệ thống THADS được xác định rõ hơn theo nguyên tắc quản lý tập trung, thống nhất theo ngành dọc từ trung ương đến cấp huyện, với vị thế mới, tương xứng với nhiệm vụ chính trị được giao và phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp. Theo Điều 2 Nghị định số 74/2009/NĐ-CP, ở trung ương, Tổng cục THADS là cơ quan trực thuộc Bộ Tư pháp, có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công tác THADS trong phạm vi cả nước và quản lý chuyên ngành về THADS theo quy định của pháp luật; cấp tỉnh có Cục THADS là cơ quan trực thuộc Tổng cục THADS và cấp huyện có Chi cục THADS là cơ quan trực thuộc Cục THADS.
Bên cạnh đó, cơ chế phối hợp giữa Hệ thống THADS với cấp ủy, chính quyền địa phương còn được thể hiện rõ trong công tác cán bộ và tổ chức thi hành án. Theo khoản 1 Điều 23 Quy định số 80-QĐ/TW ngày 18/8/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử quy định: “các cơ quan, đơn vị được tổ chức theo ngành dọc từ trung ương đến địa phương thực hiện công tác hiệp y nhân sự với cấp uỷ địa phương trước khi bổ nhiệm chức danh lãnh đạo, quản lý của tổ chức đó tại địa phương”; việc giải quyết các vụ việc phức tạp theo các điều 173, 174, 175 của Luật THADS năm 2008 được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2014 đã quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân các cấp trong THADS, như chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong THADS trên địa bàn, giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong phối hợp giữa các cơ quan có liên quan đến THADS; chỉ đạo tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.
Đối với công tác thi hành án hành chính, Luật Tố tụng hành chính năm 2010 và tiếp đó là Luật Tố tụng hành chính năm 2015, quy định cụ thể trình tự, thủ tục, thẩm quyền, trách nhiệm quản lý và thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính. Theo đó, Bộ Tư pháp có trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về thi hành án hành chính. Cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS thuộc Bộ Tư pháp giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công tác thi hành án hành chính trên phạm vi toàn quốc.
Ghi nhận những đóng góp quan trọng, tích cực của Hệ thống THADS đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và từng địa phương, ngày 05/3/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 397/QÐ-TTg, chính thức lấy ngày 19/7 hàng năm là “Ngày truyền thống THADS”.
Thực hiện Luật THADS năm 2008, Quyết định số 61/2014/QĐ-TTg ngày 30/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục THADS trực thuộc Bộ Tư pháp, đến năm 2024, Hệ thống THADS được thiết lập theo ngành dọc, quản lý tập trung, thống nhất từ trung ương đến địa phương với 08 đơn vị thuộc Tổng cục, 63 Cục THADS ở cấp tỉnh, 693 Chi cục THADS ở cấp huyện và gần 10.000 công chức, viên chức, người lao động trong toàn hệ thống. Cùng với đó, Hệ thống THADS trong Quân đội cũng được kiện toàn với Cục Thi hành án, Phòng Thi hành án quân khu và tương đương.
GIAI ĐOẠN TỪ NGÀY 01/7/2025 ĐẾN NAY: TÁI CƠ CẤU BỘ MÁY, BỨT PHÁ THỂ CHẾ VÀ THỰC THI SỨ MỆNH TRONG KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC
Thực hiện các chủ trương của Đảng[1] về tinh, gọn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, Hệ thống THADS đứng trước yêu cầu phải tiếp tục tái cơ cấu toàn diện nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Đặc biệt, triển khai Đề án tiếp tục sắp xếp, tinh gọn bộ máy Hệ thống THADS bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả, Tổng cục THADS được sắp xếp, tổ chức lại thành Cục Quản lý THADS thuộc Bộ Tư pháp; 63 Cục THADS tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và 693 Chi cục THADS cấp huyện được sắp xếp, tổ chức lại thành 34 THADS tỉnh, thành phố, trong đó có 355 phòng THADS khu vực. Như vậy, kể từ ngày 01/7/2025, Hệ thống THADS gồm: (i) ở trung ương có Cục Quản lý THADS là cơ quan quản lý THADS thuộc Bộ Tư pháp; (ii) ở địa phương có 01 cấp: THADS ở tỉnh, thành phố.
Việc tổ chức lại Hệ thống THADS theo mô hình một cấp ở địa phương đánh dấu bước chuyển quan trọng trong bối cảnh cả nước đang thực hiện mạnh mẽ chủ trương tinh, gọn bộ máy và tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức và xây dựng nền hành chính hiện đại. Mô hình mới này tạo điều kiện để tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực; phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong quản lý, điều hành và tổ chức thi hành án. Tính thống nhất, thông suốt trong chỉ đạo nghiệp vụ được nâng cao, góp phần rút ngắn quy trình xử lý công việc, nâng cao chất lượng giải quyết án và khả năng xử lý các vụ việc lớn, phức tạp, liên quan đến nhiều địa bàn.
Một trong những điểm nhấn nổi bật của giai đoạn này là đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin, số hóa hồ sơ, xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử trong Hệ thống THADS. Cơ sở dữ liệu THADS được hình thành trên cơ sở nền tảng số trong lĩnh vực THADS, được chính thức vận hành thống nhất trên toàn quốc từ ngày 20/01/2026 với 04 phân hệ cốt lõi: tổ chức thi hành án; tiếp công dân, tiếp nhận đơn thư và quản lý giải quyết khiếu nại tố cáo; hỗ trợ ra quyết định thi hành án; biên lai điện tử, bước đầu đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ[2] và Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW ngày 19/6/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về thúc đẩy chuyển đổi số liên thông, đồng bộ, nhanh, hiệu quả đáp ứng yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Trong năm 2026, cơ sở dữ liệu THADS kết nối và chia sẻ dữ liệu với nhiều cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành liên quan như ứng dụng VNeID hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp; Trung tâm Dữ liệu quốc gia (C12 - Bộ Công an) từ ngày 31/3/2026 với các bản án, quyết định đã ban hành quyết định thi hành án; đồng thời đã liên thông với trục văn bản Chính phủ tới các cơ quan nhà nước.
Bên cạnh đó, chuyển đổi số cũng đang làm thay đổi căn bản phương thức quản lý, điều hành trong toàn hệ thống. Từ mô hình quản lý hành chính truyền thống, Hệ thống THADS từng bước chuyển sang mô hình quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu, tăng kết nối, chia sẻ thông tin và nâng cao khả năng giám sát, kiểm tra, đánh giá hiệu quả công việc thông qua Trung tâm điều hành thông minh (IOC).
Trước yêu cầu mới của tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, công tác hoàn thiện thể chế về THADS trong giai đoạn này tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, mang tính chiến lược. Ngày 05/12/2025, tại Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật THADS số 106/2025/QH15, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Đây là bước phát triển mới, có ý nghĩa chiến lược đối với Hệ thống THADS, thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước trong việc tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tháo gỡ các “điểm nghẽn” của thực tiễn, đồng thời, tạo hành lang pháp lý hiện đại, đồng bộ và khả thi hơn cho hoạt động THADS trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Cùng với hoàn thiện pháp luật, cơ chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan THADS với Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổ chức tín dụng, cơ quan đăng ký tài sản và chính quyền địa phương được quan tâm và tăng cường thực hiện. Cơ chế phối hợp ngày càng chặt chẽ, hiệu quả hơn góp phần tháo gỡ nhiều vụ việc phức tạp, kéo dài nhiều năm, hạn chế tình trạng đùn đẩy trách nhiệm hoặc thiếu đồng bộ trong tổ chức thực hiện.
Trong giai đoạn này, Cục Quản lý THADS đã tập trung chỉ đạo quyết liệt công tác thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế; nâng cao hiệu quả thi hành án liên quan đến tín dụng, ngân hàng; giải quyết nhiều vụ việc phức tạp, kéo dài, được dư luận xã hội quan tâm. Kết quả thi hành án về việc và tiền hằng năm cơ bản đạt và vượt chỉ tiêu được Quốc hội, Chính phủ giao, đóng góp tích cực vào công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
[1]. Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
[2]. Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
(Nguồn: Ấn phẩm “80 năm Thi hành án dân sự Việt Nam - Vẻ vang truyền thống, vững bước tương lai”, xuất bản năm 2026)