Thứ tư 29/04/2026 08:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quan hệ lao động và quan hệ dịch vụ về lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019 và mối tương quan với thông lệ quốc tế

Ở Việt Nam, Bộ luật Lao động năm 1994 không định nghĩa về quan hệ lao động, mà chỉ khẳng định quan hệ lao động giữa người lao động hoặc tập thể lao động với người sử dụng lao động được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau.

1. Xác lập quan hệ lao động

Ở Việt Nam, Bộ luật Lao động năm 1994 không định nghĩa về quan hệ lao động, mà chỉ khẳng định quan hệ lao động giữa người lao động hoặc tập thể lao động với người sử dụng lao động được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau. Đến Bộ luật Lao động năm 2012, quan hệ lao động được định nghĩa là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động và người sử dụng lao động (khoản 6 Điều 3).

Bộ luật Lao động năm 2019 gần như giữ nguyên định nghĩa này từ Bộ luật Lao động năm 2012 bằng quy định tại khoản 5 Điều 3, theo đó quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quan hệ lao động bao gồm quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động tập thể. Như vậy, có thể hiểu, quan hệ lao động được xác lập giữa người lao động và người sử dụng lao động với đặc thù sự thuê mướn và trả lương sẽ là những quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật lao động. Đây là sự xác định đầu tiên trong nhận diện quan hệ pháp luật lao động để từ đó có cơ sở lý luận cho việc áp dụng đúng các quy định của pháp luật cho các quan hệ xã hội có liên quan.

Từ định nghĩa này và thực tiễn điều chỉnh của pháp luật đối với nhóm các quan hệ lao động có thể thấy, pháp luật đặc biệt nhấn mạnh đến việc trả lương và khai thác sử dụng lao động trên cơ sở có trả lương như hai yếu tố đặc trưng để nhận biết quan hệ lao động. Đánh giá tổng kết thi hành Bộ luật Lao động năm 2012 cho thấy, các quy định này đã đi vào bản chất của mối quan hệ để xác định quan hệ lao động[1]. Tuy nhiên, trên thực tế, việc sử dụng bản chất để xác định quan hệ lao động lại gặp vướng mắc và khó khăn, do đó người ta sử dụng đến tiêu chí thứ hai đó là chủ thể. Cụ thể là, thực tiễn có xu hướng xem các quan hệ được thiết lập giữa một bên là người sử dụng lao động và bên kia nhằm thực hiện một công việc để được trả tiền là quan hệ lao động[2]. Như vậy, có thể thấy, pháp luật và thực tiễn căn cứ vào các tiêu chí khác nhau để nhận diện quan hệ lao động. Tuy nhiên, cả hai định nghĩa này cùng có điểm chung là quan hệ lao động phát sinh phải liên quan đến việc “sử dụng lao động”, “lao động” được sử dụng ở đây là sức lao động.

Có thể tham khảo định nghĩa quan hệ lao động trong luật một quốc gia điển hình trên thế giới. Ví dụ, pháp luật Cộng hòa Pháp định nghĩa quan hệ lao động là những quan hệ được thiết lập trong khuôn khổ lao động. Một cách chung nhất, đó là những quan hệ được thiết lập giữa một bên là bên cung ứng sức lao động và bên kia là bên là bên trả tiền cho việc cung ứng đó[3]. Như vậy, pháp luật Cộng hòa Pháp quan tâm đến hai yếu tố để xác định quan hệ lao động, đó là có việc cung ứng sức lao động và việc trả tiền cho sức lao động được cung ứng. Định nghĩa này khá gần với pháp luật Việt Nam bằng việc chấp nhận hai yếu tố cấu thành của quan hệ lao động như là hai dấu hiệu nhận dạng cho quan hệ này.

Ở Nhật Bản, pháp luật không đưa ra định nghĩa quan hệ lao động mà chỉ xây dựng các quy định để bảo vệ người lao động ở góc độ chung, bao gồm cả người lao động ở khu vực công và tư.

Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) quan niệm rằng, mối quan hệ việc làm là mối liên kết pháp lý giữa người sử dụng lao động và người lao động. Nó tồn tại khi một người thực hiện công việc hoặc dịch vụ trong những điều kiện nhất định để đổi lấy tiền công[4]. Thông qua mối quan hệ lao động được xác định, các quyền và nghĩa vụ được tạo ra giữa người lao động và người sử dụng lao động. Quan hệ này đã và đang tiếp tục là phương tiện chính để người lao động tiếp cận với các quyền và lợi ích liên quan đến việc làm trong các lĩnh vực của luật lao động và an sinh xã hội. Sự tồn tại của một mối quan hệ lao động là điều kiện quyết định việc áp dụng các quy định của luật lao động và an sinh xã hội dành cho người lao động. Đó là điểm quan trọng và là lý do chính để xác định bản chất và mức độ các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với người lao động. Như vậy, trong cách nhìn nhận của ILO, thì quan hệ lao động có thể được xác lập dưới hình thức nào không quan trọng (hợp đồng lao động hay hợp đồng dịch vụ lao động…) điều đáng quan tâm trong quan hệ này là vấn đề khai thác và sử dụng sức lao động của một chủ thể trên cơ sở có trả tiền.

Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, hầu hết quyền của người lao động được xác lập thông qua quan hệ lao động, nói chính xác là quan hệ lao động là cơ sở pháp lý làm xuất hiện các quyền này, ví dụ tham gia bảo hiểm xã hội là nghĩa vụ và quyền của người lao động được ghi nhận tại Điều 5 Bộ luật Lao động năm 2019, hay quyền được bồi thường thiệt hại trong trường hợp có tai nạn xảy ra liên quan đến việc thực hiện công việc (tai nạn lao động) chỉ có thể phát sinh khi giữa các bên tồn tại quan hệ lao động… Có thể thấy, cách nhìn nhận của ILO về quan hệ lao động khá rộng so với ở Việt Nam hiện nay.

2. Xác lập quan hệ dịch vụ về lao động

Quan hệ dịch vụ về lao động được xác lập thông qua hợp đồng dịch vụ, Điều 513 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ. Điểm nhấn quan trọng trong định nghĩa này đó là pháp luật cho phép áp dụng cả hai hình thức hợp đồng lao động và hợp đồng dịch vụ cho quan hệ lao động đó. Từ đó, có thể hiểu quan hệ lao động và quan hệ dịch vụ về lao động có bản chất giống nhau đó là việc một chủ thể sử dụng, khai thác sức lao động của một chủ thể khác để phục vụ cho mục đích thực hiện công việc của mình trên cơ sở có trả tiền cho việc sử dụng sức lao động đó. Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Lao động năm 2019, thì một chủ thể nếu có nhu cầu cần thực hiện một công việc mà không thể hoặc không muốn sử dụng sức lao động của chính mình có thể lựa chọn việc thuê mướn, sử dụng sức lao động của người khác thông qua hợp đồng lao động hoặc hợp đồng dịch vụ. Quyền lựa chọn này dẫn đến trong thực tiễn thực hiện, chủ thể thuê mướn, sử dụng lao động sẽ tính toán cân nhắc xem việc xác lập quan hệ loại nào là có lợi nhất cho mình.

Chủ thể trong quan hệ dịch vụ về lao động: Quan hệ dịch vụ về lao động có thể được giao kết trực tiếp giữa bên sử dụng dịch vụ (sử dụng lao động) và bên cung ứng dịch vụ (bên lao động trực tiếp). Trong đó, bên cung ứng dịch vụ lao động có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Trong khung cảnh pháp lý ở Việt Nam hiện nay, thì bên cung ứng dịch vụ đa phần là tổ chức (có hoặc không có tư cách pháp nhân). Hai loại hình dịch vụ lao động khá phổ biến ở các thành phố lớn như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội là dịch vụ vệ sỹ (bảo vệ) và dịch vụ vệ sinh (dọn dẹp, chăm sóc nhà cửa).

Các quan hệ có bản chất tương tự quan hệ lao động: Về tổng thể có thể thấy, hai phương thức thoả mãn nhu cầu sử dụng lao động là giao kết hợp đồng lao động và giao kết hợp đồng dịch vụ về lao động. Tuy nhiên, trên thực tế, tại Việt Nam hiện nay còn tồn tại một số loại quan hệ khác có bản chất tương tự, ví dụ quan hệ thuê lại lao động và quan hệ hợp tác thông qua hợp đồng hợp tác trong mô hình hoạt động của chuỗi cung ứng dịch vụ, ví dụ như hoạt động của Công ty công nghệ Grab hiện nay. Với quan hệ cho thuê lại lao động, cơ chế ba bên hình thành bao gồm bên cho thuê lại lao động (doanh nghiệp tuyển dụng lao động và cũng là người sử dụng lao động), bên thuê lại lao động và bên người lao động. Trong quan hệ này, bên khai thác và sử dụng lao động là bên thuê lại lao động chứ không phải là người sử dụng lao động. Như vậy, quan hệ lao động tồn tại song song với quan hệ cho thuê lại lao động và theo đó, nhu cầu sử dụng lao động của bên thuê lại được thoả mãn mà không cần đến quan hệ lao động hay quan hệ dịch vụ về lao động.

Những ưu điểm trong việc xác lập quan hệ dịch vụ về lao động đối với người sử dụng lao động: (i) Người sử dụng lao động nhanh chóng, thuận tiện về thủ tục hành chính do không cần đăng ký hay khai trình về lao động; (ii) Người sử dụng lao động không cần phải thực hiện các nghĩa vụ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người thực hiện công việc; (iii) Người sử dụng lao động tiết kiệm các chi phí quản lý về lao động bởi vì trong các hợp đồng dịch vụ thì người sử dụng dịch vụ chỉ cần quan tâm đến chất lượng và kết quả của dịch vụ mà không cần quan tâm đến quá trình thực hiện công việc theo quy định tại Điều 515 Bộ luật Dân sự năm 2015[5]. Điều này hoàn toàn ngược lại so với quan hệ lao động, bởi vì trong quan hệ lao động, bên sử dụng lao động sẽ có khá nhiều nghĩa vụ được quy định tại Điều 6 Bộ luật Lao động năm 2019.

Bên cạnh những ưu điểm như đã đề cập trên, khi xác lập quan hệ lao động thông qua hợp đồng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ lao động sẽ không có một trong số những quyền rất đặc trưng của bên sử dụng lao động trong hợp đồng lao động, đó là quyền chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, điều hành quá trình làm việc của người lao động. Quyền này là đặc quyền tự động hình thành trong quan hệ lao động, trên cơ sở sự phụ thuộc về mặt pháp lý giữa người lao động đối với người sử dụng lao động.

Dựa trên những ưu điểm và hạn chế của việc giao kết hợp đồng dịch vụ so với giao kết hợp đồng lao động như đã phân tích ở trên, có thể thấy các ưu điểm thể hiện vượt trội hơn so với các hạn chế. Do vậy, trong những trường hợp người sử dụng lao động không quan tâm đến quyền quản lý, điều hành lao động thì sẽ dễ dàng chọn hợp đồng dịch vụ về lao động để giao kết. Tuy nhiên, khi tham gia vào quan hệ lao động thông qua hợp đồng dịch vụ, người lao động không được bảo đảm về quyền được hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Về lâu dài, nếu bộ phận người lao động này ngày càng tăng về số lượng sẽ gây nên tình trạng phân biệt đối xử và thiếu công bằng giữa những người lao động nói chung, điều này có thể dẫn đến các bất ổn cho xã hội.

Tóm lại, quan hệ dịch vụ về lao động, quan hệ cho thuê lại lao động hay quan hệ hợp tác kinh doanh trong mô hình Công ty công nghệ Grab đều có liên quan đến việc khai thác và sử dụng sức lao động của con người. Tuy nhiên, quan hệ từ các mô hình này lại không mang lại cho người lao động quyền được bảo đảm an toàn từ các chế độ bảo hiểm hay an sinh xã hội cần thiết. Trong xu thế phát triển chung của xã hội, mỗi người dân đều có quyền được đảm bảo những tiêu chuẩn sống và đảm bảo sự an toàn cuộc sống tối thiểu. Từ sự cần thiết này, tác giả cho rằng, các công cụ pháp lý của Việt Nam cần có sự thay đổi nhất định để thu hẹp và tiến dần đến triệt tiêu nhóm đối tượng nằm bên ngoài sự bảo đảm an sinh xã hội.

3. Đề xuất mô hình pháp lý về quan hệ lao động và quan hệ dịch vụ lao động bảo đảm sự tương thích với thông lệ quốc tế

Như đã phân tích ở trên, các quan hệ có bản chất là quan hệ lao động hiện tại được điều chỉnh bởi hai lĩnh vực pháp luật: Quan hệ lao động được điều chỉnh bởi pháp luật lao động; quan hệ dịch vụ về lao động hay quan hệ hợp tác được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự. Trong bối cảnh pháp lý hiện tại ở Việt Nam, các chủ thể, tuỳ thuộc vào điều kiện thực tế của mình có thể chọn quan hệ lao động, quan hệ dịch vụ về lao động hoặc quan hệ thuê lại lao động. Điều này có nghĩa là, pháp luật không bắt buộc trong trường hợp nào phải áp dụng quan hệ lao động và ngược lại. Với những lợi ích như đã phân tích trên từ việc xác lập quan hệ dịch vụ về lao động (tình trạng tương tự với quan hệ cho thuê lại lao động và quan hệ hợp), xu hướng lựa chọn loại quan hệ này sẽ dần trở nên phổ biến hơn trên thực tế (chỉ trừ những trường hợp do nhu cầu về quản lý, điều hành, chỉ đạo trực tiếp mà chủ sử dụng lao động buộc phải các lập quan hệ lao động). Đây là một xu hướng không tốt ở góc độ xã hội do sự bảo đảm an sinh xã hội của nhóm lao động này không được thực hiện một cách bắt buộc. Mặt khác, nhóm đối tượng này lại là nhóm có nguy cơ thất nghiệp hay gặp các rủi ro xã hội nhiều nhất. Điều này, đòi hỏi một sự cân nhắc về giải pháp để bảo đảm hai yêu cầu phát triển thị trường lao động là bảo đảm sự đa dạng hoá các hình thức lao động cũng như bảo đảm quyền tự do xác lập hay không xác lập quan hệ lao động, bảo đảm sự ổn định xã hội cho một tương lai lâu dài bằng việc chăm sóc an sinh xã hội tốt hơn cho mỗi đối tượng người dân. Hai yêu cầu đặt ra thoạt nhìn có xu hướng ngược nhau và khó có thể dung hoà. Vì vậy, giải pháp phù hợp được lựa chọn trong việc xây dựng mô hình pháp lý là không dễ dàng. Các quốc gia sẽ phải thực hiện lựa chọn trên cơ sở chọn trọng tâm của giải pháp là con người hay sự phát triển kinh tế. Điển hình, kinh nghiệm lập pháp của Nhật Bản đã lựa chọn giải pháp hướng đến con người với tư cách là trọng tâm của các chính sách. Từ sự lựa chọn đó, pháp luật hướng đến việc bảo vệ người lao động như một chính sách trọng tâm, chẳng hạn như Đạo luật về Tiêu chuẩn lao động (Labor Standards Act) sẽ được thực thi bắt buộc bất kể thỏa thuận nào ngược lại. Ngay cả khi người lao động đồng ý cho việc áp dụng luật khác để điều chỉnh quan hệ lao động giữa họ, thì người này vẫn có thể yêu cầu được bảo đảm các lợi ích của các điều khoản bắt buộc cụ thể trong lĩnh vực mà các dịch vụ lao động được cung cấp bằng cách cho người sử dụng lao động biết rằng họ muốn áp dụng các điều khoản đó. Như vậy, nếu một quan hệ lao động không xác định được luật điều chỉnh, thì luật của khu vực sử dụng dịch vụ lao động được coi là luật áp dụng[6].

Giải pháp của Nhật Bản có thể là kinh nghiệm pháp lý tham khảo cho Việt Nam, theo hướng tách các quy định về tiêu chuẩn lao động (điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, tiền lương, bảo hiểm...) ra thành một đạo luật riêng với mục tiêu luôn bảo đảm quyền lợi của người lao động dù quan hệ lao động đang tồn tại dưới bất kỳ hình thức pháp lý nào (hợp đồng dịch vụ, hợp đồng lao động hay hợp đồng hợp tác). Với thực tiễn là một quốc gia có cơ cấu dân số trẻ, lực lượng lao động hiện tại chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cơ cấu về dân số, việc bảo đảm an sinh xã hội cho toàn bộ lực lượng này là một yêu cầu cấp bách đặt ra trong tổng thể mục tiêu xây dựng một nhà nước văn minh, tiên tiến và nhân văn. Từ yêu cầu này, tác giả đề xuất lựa chọn một trong hai mô hình pháp lý sau:

Thứ nhất, giữ nguyên cơ cấu các quy định cũng như trật tự thực hiện các luật hay các quyền tự do lựa chọn việc xác lập quan hệ lao động, thêm vào đó cần quy định trách nhiệm phải tham gia bảo hiểm xã hội cho các bên trong các quan hệ lao động và quan hệ có bản chất tương tự (đặc biệt là quan hệ dịch vụ lao động hay quan hệ hợp tác). Trách nhiệm tham gia bảo hiểm xã hội chỉ không xuất hiện khi các bên chứng minh được rằng người lao động đã và đang tham gia bảo hiểm tại một đơn vị làm việc nào khác.

Thứ hai, cơ cấu lại tổng thể các quy định của pháp luật lao động và pháp luật dân sự hiện tại bằng việc ban hành một luật riêng về tiêu chuẩn lao động. Trong đó, quy định chi tiết về các quyền mà người lao động cần được bảo đảm như tiêu chuẩn tối thiểu khi họ phải dùng sức lao động của mình để thực hiện một công việc cho người khác đổi lấy tiền công lao động hay tiền dịch vụ...

Tất cả các giải pháp đều có ý nghĩa trong một phạm vi nhất định, tuy nhiên việc mở rộng diện người được hưởng các chế độ an sinh xã hội luôn là điều nên làm ở bất kể quốc gia nào, đặc biệt là ở một quốc gia đang phát triển như Việt Nam.

TS. Đoàn Thị Phương Diệp
Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
ThS. Trịnh Tuấn Anh
Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng


[1] Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2018), Báo cáo tổng kết thi hành Bộ luật Lao động năm 2012, Hà Nội.

[2] Giáo trình Luật Lao động, Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, 2015, tr. 8.

[3] Les relations de travail sont des liens établis dans le cadre du travail. En général, elles désignent les relations entre la prestation de travail (le travailleur) et le capital (l’employeur) au sein du processus productif”
[4] International Labour Organization (2007), “Report of the Subregional Workshop on Labour Law Reform: New Forms of the Employment Relationship”

[5] Điều 515 Bộ luật Lao động năm 2015 quy định nghĩa vụ của bên sử dụng dịch vụ:

“1. Cung cấp cho bên cung ứng dịch vụ thông tin, tài liệu và các phương tiện cần thiết để thực hiện công việc, nếu có thoả thuận hoặc việc thực hiện công việc đòi hỏi.

2. Trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ theo thoả thuận”.

[6] Satoshi NAGAURA, Social Insurance and Labor Consultant, Nagaura Personnel Management Office, Invest Japan Department, Japan External Trade Organization (JETRO), 2012, p. 46.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: