Thứ năm 08/10/2026 08:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quan hệ lao động và quan hệ dịch vụ về lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019 và mối tương quan với thông lệ quốc tế

Ở Việt Nam, Bộ luật Lao động năm 1994 không định nghĩa về quan hệ lao động, mà chỉ khẳng định quan hệ lao động giữa người lao động hoặc tập thể lao động với người sử dụng lao động được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau.

1. Xác lập quan hệ lao động

Ở Việt Nam, Bộ luật Lao động năm 1994 không định nghĩa về quan hệ lao động, mà chỉ khẳng định quan hệ lao động giữa người lao động hoặc tập thể lao động với người sử dụng lao động được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau. Đến Bộ luật Lao động năm 2012, quan hệ lao động được định nghĩa là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động và người sử dụng lao động (khoản 6 Điều 3).

Bộ luật Lao động năm 2019 gần như giữ nguyên định nghĩa này từ Bộ luật Lao động năm 2012 bằng quy định tại khoản 5 Điều 3, theo đó quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quan hệ lao động bao gồm quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động tập thể. Như vậy, có thể hiểu, quan hệ lao động được xác lập giữa người lao động và người sử dụng lao động với đặc thù sự thuê mướn và trả lương sẽ là những quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật lao động. Đây là sự xác định đầu tiên trong nhận diện quan hệ pháp luật lao động để từ đó có cơ sở lý luận cho việc áp dụng đúng các quy định của pháp luật cho các quan hệ xã hội có liên quan.

Từ định nghĩa này và thực tiễn điều chỉnh của pháp luật đối với nhóm các quan hệ lao động có thể thấy, pháp luật đặc biệt nhấn mạnh đến việc trả lương và khai thác sử dụng lao động trên cơ sở có trả lương như hai yếu tố đặc trưng để nhận biết quan hệ lao động. Đánh giá tổng kết thi hành Bộ luật Lao động năm 2012 cho thấy, các quy định này đã đi vào bản chất của mối quan hệ để xác định quan hệ lao động[1]. Tuy nhiên, trên thực tế, việc sử dụng bản chất để xác định quan hệ lao động lại gặp vướng mắc và khó khăn, do đó người ta sử dụng đến tiêu chí thứ hai đó là chủ thể. Cụ thể là, thực tiễn có xu hướng xem các quan hệ được thiết lập giữa một bên là người sử dụng lao động và bên kia nhằm thực hiện một công việc để được trả tiền là quan hệ lao động[2]. Như vậy, có thể thấy, pháp luật và thực tiễn căn cứ vào các tiêu chí khác nhau để nhận diện quan hệ lao động. Tuy nhiên, cả hai định nghĩa này cùng có điểm chung là quan hệ lao động phát sinh phải liên quan đến việc “sử dụng lao động”, “lao động” được sử dụng ở đây là sức lao động.

Có thể tham khảo định nghĩa quan hệ lao động trong luật một quốc gia điển hình trên thế giới. Ví dụ, pháp luật Cộng hòa Pháp định nghĩa quan hệ lao động là những quan hệ được thiết lập trong khuôn khổ lao động. Một cách chung nhất, đó là những quan hệ được thiết lập giữa một bên là bên cung ứng sức lao động và bên kia là bên là bên trả tiền cho việc cung ứng đó[3]. Như vậy, pháp luật Cộng hòa Pháp quan tâm đến hai yếu tố để xác định quan hệ lao động, đó là có việc cung ứng sức lao động và việc trả tiền cho sức lao động được cung ứng. Định nghĩa này khá gần với pháp luật Việt Nam bằng việc chấp nhận hai yếu tố cấu thành của quan hệ lao động như là hai dấu hiệu nhận dạng cho quan hệ này.

Ở Nhật Bản, pháp luật không đưa ra định nghĩa quan hệ lao động mà chỉ xây dựng các quy định để bảo vệ người lao động ở góc độ chung, bao gồm cả người lao động ở khu vực công và tư.

Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) quan niệm rằng, mối quan hệ việc làm là mối liên kết pháp lý giữa người sử dụng lao động và người lao động. Nó tồn tại khi một người thực hiện công việc hoặc dịch vụ trong những điều kiện nhất định để đổi lấy tiền công[4]. Thông qua mối quan hệ lao động được xác định, các quyền và nghĩa vụ được tạo ra giữa người lao động và người sử dụng lao động. Quan hệ này đã và đang tiếp tục là phương tiện chính để người lao động tiếp cận với các quyền và lợi ích liên quan đến việc làm trong các lĩnh vực của luật lao động và an sinh xã hội. Sự tồn tại của một mối quan hệ lao động là điều kiện quyết định việc áp dụng các quy định của luật lao động và an sinh xã hội dành cho người lao động. Đó là điểm quan trọng và là lý do chính để xác định bản chất và mức độ các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với người lao động. Như vậy, trong cách nhìn nhận của ILO, thì quan hệ lao động có thể được xác lập dưới hình thức nào không quan trọng (hợp đồng lao động hay hợp đồng dịch vụ lao động…) điều đáng quan tâm trong quan hệ này là vấn đề khai thác và sử dụng sức lao động của một chủ thể trên cơ sở có trả tiền.

Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, hầu hết quyền của người lao động được xác lập thông qua quan hệ lao động, nói chính xác là quan hệ lao động là cơ sở pháp lý làm xuất hiện các quyền này, ví dụ tham gia bảo hiểm xã hội là nghĩa vụ và quyền của người lao động được ghi nhận tại Điều 5 Bộ luật Lao động năm 2019, hay quyền được bồi thường thiệt hại trong trường hợp có tai nạn xảy ra liên quan đến việc thực hiện công việc (tai nạn lao động) chỉ có thể phát sinh khi giữa các bên tồn tại quan hệ lao động… Có thể thấy, cách nhìn nhận của ILO về quan hệ lao động khá rộng so với ở Việt Nam hiện nay.

2. Xác lập quan hệ dịch vụ về lao động

Quan hệ dịch vụ về lao động được xác lập thông qua hợp đồng dịch vụ, Điều 513 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ. Điểm nhấn quan trọng trong định nghĩa này đó là pháp luật cho phép áp dụng cả hai hình thức hợp đồng lao động và hợp đồng dịch vụ cho quan hệ lao động đó. Từ đó, có thể hiểu quan hệ lao động và quan hệ dịch vụ về lao động có bản chất giống nhau đó là việc một chủ thể sử dụng, khai thác sức lao động của một chủ thể khác để phục vụ cho mục đích thực hiện công việc của mình trên cơ sở có trả tiền cho việc sử dụng sức lao động đó. Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Lao động năm 2019, thì một chủ thể nếu có nhu cầu cần thực hiện một công việc mà không thể hoặc không muốn sử dụng sức lao động của chính mình có thể lựa chọn việc thuê mướn, sử dụng sức lao động của người khác thông qua hợp đồng lao động hoặc hợp đồng dịch vụ. Quyền lựa chọn này dẫn đến trong thực tiễn thực hiện, chủ thể thuê mướn, sử dụng lao động sẽ tính toán cân nhắc xem việc xác lập quan hệ loại nào là có lợi nhất cho mình.

Chủ thể trong quan hệ dịch vụ về lao động: Quan hệ dịch vụ về lao động có thể được giao kết trực tiếp giữa bên sử dụng dịch vụ (sử dụng lao động) và bên cung ứng dịch vụ (bên lao động trực tiếp). Trong đó, bên cung ứng dịch vụ lao động có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Trong khung cảnh pháp lý ở Việt Nam hiện nay, thì bên cung ứng dịch vụ đa phần là tổ chức (có hoặc không có tư cách pháp nhân). Hai loại hình dịch vụ lao động khá phổ biến ở các thành phố lớn như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội là dịch vụ vệ sỹ (bảo vệ) và dịch vụ vệ sinh (dọn dẹp, chăm sóc nhà cửa).

Các quan hệ có bản chất tương tự quan hệ lao động: Về tổng thể có thể thấy, hai phương thức thoả mãn nhu cầu sử dụng lao động là giao kết hợp đồng lao động và giao kết hợp đồng dịch vụ về lao động. Tuy nhiên, trên thực tế, tại Việt Nam hiện nay còn tồn tại một số loại quan hệ khác có bản chất tương tự, ví dụ quan hệ thuê lại lao động và quan hệ hợp tác thông qua hợp đồng hợp tác trong mô hình hoạt động của chuỗi cung ứng dịch vụ, ví dụ như hoạt động của Công ty công nghệ Grab hiện nay. Với quan hệ cho thuê lại lao động, cơ chế ba bên hình thành bao gồm bên cho thuê lại lao động (doanh nghiệp tuyển dụng lao động và cũng là người sử dụng lao động), bên thuê lại lao động và bên người lao động. Trong quan hệ này, bên khai thác và sử dụng lao động là bên thuê lại lao động chứ không phải là người sử dụng lao động. Như vậy, quan hệ lao động tồn tại song song với quan hệ cho thuê lại lao động và theo đó, nhu cầu sử dụng lao động của bên thuê lại được thoả mãn mà không cần đến quan hệ lao động hay quan hệ dịch vụ về lao động.

Những ưu điểm trong việc xác lập quan hệ dịch vụ về lao động đối với người sử dụng lao động: (i) Người sử dụng lao động nhanh chóng, thuận tiện về thủ tục hành chính do không cần đăng ký hay khai trình về lao động; (ii) Người sử dụng lao động không cần phải thực hiện các nghĩa vụ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người thực hiện công việc; (iii) Người sử dụng lao động tiết kiệm các chi phí quản lý về lao động bởi vì trong các hợp đồng dịch vụ thì người sử dụng dịch vụ chỉ cần quan tâm đến chất lượng và kết quả của dịch vụ mà không cần quan tâm đến quá trình thực hiện công việc theo quy định tại Điều 515 Bộ luật Dân sự năm 2015[5]. Điều này hoàn toàn ngược lại so với quan hệ lao động, bởi vì trong quan hệ lao động, bên sử dụng lao động sẽ có khá nhiều nghĩa vụ được quy định tại Điều 6 Bộ luật Lao động năm 2019.

Bên cạnh những ưu điểm như đã đề cập trên, khi xác lập quan hệ lao động thông qua hợp đồng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ lao động sẽ không có một trong số những quyền rất đặc trưng của bên sử dụng lao động trong hợp đồng lao động, đó là quyền chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, điều hành quá trình làm việc của người lao động. Quyền này là đặc quyền tự động hình thành trong quan hệ lao động, trên cơ sở sự phụ thuộc về mặt pháp lý giữa người lao động đối với người sử dụng lao động.

Dựa trên những ưu điểm và hạn chế của việc giao kết hợp đồng dịch vụ so với giao kết hợp đồng lao động như đã phân tích ở trên, có thể thấy các ưu điểm thể hiện vượt trội hơn so với các hạn chế. Do vậy, trong những trường hợp người sử dụng lao động không quan tâm đến quyền quản lý, điều hành lao động thì sẽ dễ dàng chọn hợp đồng dịch vụ về lao động để giao kết. Tuy nhiên, khi tham gia vào quan hệ lao động thông qua hợp đồng dịch vụ, người lao động không được bảo đảm về quyền được hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Về lâu dài, nếu bộ phận người lao động này ngày càng tăng về số lượng sẽ gây nên tình trạng phân biệt đối xử và thiếu công bằng giữa những người lao động nói chung, điều này có thể dẫn đến các bất ổn cho xã hội.

Tóm lại, quan hệ dịch vụ về lao động, quan hệ cho thuê lại lao động hay quan hệ hợp tác kinh doanh trong mô hình Công ty công nghệ Grab đều có liên quan đến việc khai thác và sử dụng sức lao động của con người. Tuy nhiên, quan hệ từ các mô hình này lại không mang lại cho người lao động quyền được bảo đảm an toàn từ các chế độ bảo hiểm hay an sinh xã hội cần thiết. Trong xu thế phát triển chung của xã hội, mỗi người dân đều có quyền được đảm bảo những tiêu chuẩn sống và đảm bảo sự an toàn cuộc sống tối thiểu. Từ sự cần thiết này, tác giả cho rằng, các công cụ pháp lý của Việt Nam cần có sự thay đổi nhất định để thu hẹp và tiến dần đến triệt tiêu nhóm đối tượng nằm bên ngoài sự bảo đảm an sinh xã hội.

3. Đề xuất mô hình pháp lý về quan hệ lao động và quan hệ dịch vụ lao động bảo đảm sự tương thích với thông lệ quốc tế

Như đã phân tích ở trên, các quan hệ có bản chất là quan hệ lao động hiện tại được điều chỉnh bởi hai lĩnh vực pháp luật: Quan hệ lao động được điều chỉnh bởi pháp luật lao động; quan hệ dịch vụ về lao động hay quan hệ hợp tác được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự. Trong bối cảnh pháp lý hiện tại ở Việt Nam, các chủ thể, tuỳ thuộc vào điều kiện thực tế của mình có thể chọn quan hệ lao động, quan hệ dịch vụ về lao động hoặc quan hệ thuê lại lao động. Điều này có nghĩa là, pháp luật không bắt buộc trong trường hợp nào phải áp dụng quan hệ lao động và ngược lại. Với những lợi ích như đã phân tích trên từ việc xác lập quan hệ dịch vụ về lao động (tình trạng tương tự với quan hệ cho thuê lại lao động và quan hệ hợp), xu hướng lựa chọn loại quan hệ này sẽ dần trở nên phổ biến hơn trên thực tế (chỉ trừ những trường hợp do nhu cầu về quản lý, điều hành, chỉ đạo trực tiếp mà chủ sử dụng lao động buộc phải các lập quan hệ lao động). Đây là một xu hướng không tốt ở góc độ xã hội do sự bảo đảm an sinh xã hội của nhóm lao động này không được thực hiện một cách bắt buộc. Mặt khác, nhóm đối tượng này lại là nhóm có nguy cơ thất nghiệp hay gặp các rủi ro xã hội nhiều nhất. Điều này, đòi hỏi một sự cân nhắc về giải pháp để bảo đảm hai yêu cầu phát triển thị trường lao động là bảo đảm sự đa dạng hoá các hình thức lao động cũng như bảo đảm quyền tự do xác lập hay không xác lập quan hệ lao động, bảo đảm sự ổn định xã hội cho một tương lai lâu dài bằng việc chăm sóc an sinh xã hội tốt hơn cho mỗi đối tượng người dân. Hai yêu cầu đặt ra thoạt nhìn có xu hướng ngược nhau và khó có thể dung hoà. Vì vậy, giải pháp phù hợp được lựa chọn trong việc xây dựng mô hình pháp lý là không dễ dàng. Các quốc gia sẽ phải thực hiện lựa chọn trên cơ sở chọn trọng tâm của giải pháp là con người hay sự phát triển kinh tế. Điển hình, kinh nghiệm lập pháp của Nhật Bản đã lựa chọn giải pháp hướng đến con người với tư cách là trọng tâm của các chính sách. Từ sự lựa chọn đó, pháp luật hướng đến việc bảo vệ người lao động như một chính sách trọng tâm, chẳng hạn như Đạo luật về Tiêu chuẩn lao động (Labor Standards Act) sẽ được thực thi bắt buộc bất kể thỏa thuận nào ngược lại. Ngay cả khi người lao động đồng ý cho việc áp dụng luật khác để điều chỉnh quan hệ lao động giữa họ, thì người này vẫn có thể yêu cầu được bảo đảm các lợi ích của các điều khoản bắt buộc cụ thể trong lĩnh vực mà các dịch vụ lao động được cung cấp bằng cách cho người sử dụng lao động biết rằng họ muốn áp dụng các điều khoản đó. Như vậy, nếu một quan hệ lao động không xác định được luật điều chỉnh, thì luật của khu vực sử dụng dịch vụ lao động được coi là luật áp dụng[6].

Giải pháp của Nhật Bản có thể là kinh nghiệm pháp lý tham khảo cho Việt Nam, theo hướng tách các quy định về tiêu chuẩn lao động (điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, tiền lương, bảo hiểm...) ra thành một đạo luật riêng với mục tiêu luôn bảo đảm quyền lợi của người lao động dù quan hệ lao động đang tồn tại dưới bất kỳ hình thức pháp lý nào (hợp đồng dịch vụ, hợp đồng lao động hay hợp đồng hợp tác). Với thực tiễn là một quốc gia có cơ cấu dân số trẻ, lực lượng lao động hiện tại chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cơ cấu về dân số, việc bảo đảm an sinh xã hội cho toàn bộ lực lượng này là một yêu cầu cấp bách đặt ra trong tổng thể mục tiêu xây dựng một nhà nước văn minh, tiên tiến và nhân văn. Từ yêu cầu này, tác giả đề xuất lựa chọn một trong hai mô hình pháp lý sau:

Thứ nhất, giữ nguyên cơ cấu các quy định cũng như trật tự thực hiện các luật hay các quyền tự do lựa chọn việc xác lập quan hệ lao động, thêm vào đó cần quy định trách nhiệm phải tham gia bảo hiểm xã hội cho các bên trong các quan hệ lao động và quan hệ có bản chất tương tự (đặc biệt là quan hệ dịch vụ lao động hay quan hệ hợp tác). Trách nhiệm tham gia bảo hiểm xã hội chỉ không xuất hiện khi các bên chứng minh được rằng người lao động đã và đang tham gia bảo hiểm tại một đơn vị làm việc nào khác.

Thứ hai, cơ cấu lại tổng thể các quy định của pháp luật lao động và pháp luật dân sự hiện tại bằng việc ban hành một luật riêng về tiêu chuẩn lao động. Trong đó, quy định chi tiết về các quyền mà người lao động cần được bảo đảm như tiêu chuẩn tối thiểu khi họ phải dùng sức lao động của mình để thực hiện một công việc cho người khác đổi lấy tiền công lao động hay tiền dịch vụ...

Tất cả các giải pháp đều có ý nghĩa trong một phạm vi nhất định, tuy nhiên việc mở rộng diện người được hưởng các chế độ an sinh xã hội luôn là điều nên làm ở bất kể quốc gia nào, đặc biệt là ở một quốc gia đang phát triển như Việt Nam.

TS. Đoàn Thị Phương Diệp
Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
ThS. Trịnh Tuấn Anh
Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng


[1] Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2018), Báo cáo tổng kết thi hành Bộ luật Lao động năm 2012, Hà Nội.

[2] Giáo trình Luật Lao động, Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, 2015, tr. 8.

[3] Les relations de travail sont des liens établis dans le cadre du travail. En général, elles désignent les relations entre la prestation de travail (le travailleur) et le capital (l’employeur) au sein du processus productif”
[4] International Labour Organization (2007), “Report of the Subregional Workshop on Labour Law Reform: New Forms of the Employment Relationship”

[5] Điều 515 Bộ luật Lao động năm 2015 quy định nghĩa vụ của bên sử dụng dịch vụ:

“1. Cung cấp cho bên cung ứng dịch vụ thông tin, tài liệu và các phương tiện cần thiết để thực hiện công việc, nếu có thoả thuận hoặc việc thực hiện công việc đòi hỏi.

2. Trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ theo thoả thuận”.

[6] Satoshi NAGAURA, Social Insurance and Labor Consultant, Nagaura Personnel Management Office, Invest Japan Department, Japan External Trade Organization (JETRO), 2012, p. 46.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: