![]() |
| Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tặng Huân chương lao động hạng ba cho Cục Quản lý THADS và Phòng Nghiệp vụ 2, THADS Thành phố Hồ Chí Minh trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. |
1. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tăng cường thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế
Những năm gần đây, cùng với việc lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, Đảng luôn quan tâm lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, gắn với công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng. Cùng với chủ trương chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng, công tác thu hồi tài sản tham nhũng ngày càng được nhận thức rõ hơn và được xác định là nhiệm vụ quan trọng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đặt ra định hướng chiến lược phòng, chống tham nhũng với tư duy đột phá: phòng ngừa là chính, là cơ bản; xử lý là quan trọng, là đột phá.
Ngày 02/6/2021, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 04-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế (Chỉ thị số 04-CT/TW). Chỉ thị số 04-CT/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, lần đầu tiên Ban Bí thư ban hành chỉ thị riêng về công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế. Đây là cơ sở để các bộ, ngành, cơ quan THADS triển khai thực hiện, nâng cao hiệu quả công tác thu hồi tài sản. Ngày 01/4/2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới. Theo đó, quan điểm của Đảng là ưu tiên thu hồi tối đa tài sản, khuyến khích chủ động khắc phục hậu quả.
Có thể thấy, dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự đồng lòng ủng hộ của Nhân dân, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng nói chung và công tác thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế nói riêng thời gian qua đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhất là trong công tác THADS, tạo dấu ấn rõ nét trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
2. Nhiệm vụ của Hệ thống Thi hành án dân sự và các phương thức, cơ chế thu hồi tài sản trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và thu hồi tài sản
2.1. Nhiệm vụ của Hệ thống Thi hành án dân sự trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và thu hồi tài sản
Thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế là quá trình trải qua nhiều khâu từ thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử và THADS, mỗi khâu là một “mắt xích”, trong đó, THADS giữ vị trí quan trọng, là một trong những tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
THADS là hoạt động do Nhà nước tổ chức thực hiện, là khâu cuối của quá trình tố tụng, có vị trí, ý nghĩa quan trọng góp phần bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật, phục vụ Nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương và ổn định; khơi thông nguồn lực tài chính, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh. THADS và các giai đoạn tố tụng trước đó có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Việc thi hành án nhanh chóng, kịp thời có tác động tích cực trở lại đối với hoạt động tố tụng, góp phần nâng cao hiệu quả chung.
Thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế được xem là nhiệm vụ quan trọng, xuyên suốt trong quá trình thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Mỗi cơ quan từ thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, THADS đều có trách nhiệm chung, đó là phải thu hồi tối đa tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế. Nhiệm vụ, kết quả hoạt động của cơ quan này là tiền đề cho cơ quan thực hiện nhiệm vụ tiếp theo. Hiệu quả của công tác thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế phụ thuộc rất lớn vào kết quả truy tìm, xác minh, áp dụng các biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản của các cơ quan tiến hành tố tụng trước đó. Việc kịp thời áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tất cả các khâu của quá trình tố tụng sẽ hạn chế việc chuyển nhượng, che giấu tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án.
2.2. Phương thức, cơ chế thu hồi tài sản
Pháp luật Việt Nam quy định tương đối đầy đủ về các biện pháp, trình tự, thủ tục thu hồi tài sản có liên quan đến hành vi tham nhũng, án kinh tế thông qua 02 cơ chế chủ yếu sau:
Một là, thu hồi tài sản theo quyết định hành chính của người có thẩm quyền trong hoạt động thanh tra khi có đủ căn cứ kết luận tiền, tài sản bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép hoặc bị thất thoát do hành vi vi phạm pháp luật gây ra theo quy định của pháp luật thanh tra.
Hai là, thu hồi tài sản liên quan đến tội phạm tham nhũng, kinh tế theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án. Các cơ quan tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sẽ áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án thu hồi tài sản như phong tỏa tài khoản, kê biên tài sản. Đến giai đoạn THADS, cơ quan THADS tiếp tục xử lý tài sản đã phong tỏa, kê biên của người phải thi hành án để thu hồi cho Nhà nước; đồng thời, tích cực phối hợp với các cơ quan có liên quan xác minh, truy tìm thêm tài sản của người phải thi hành án để thi hành (nếu có).
Đây là cơ chế thu hồi tài sản tham nhũng chủ yếu ở Việt Nam hiện nay, được thực hiện thông qua cơ quan THADS. Việc thu hồi theo cơ chế này phù hợp với pháp luật tố tụng hình sự về trách nhiệm chứng minh tội phạm và yêu cầu bảo đảm quyền con người theo quy định của Hiến pháp năm 2013 sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15: “người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.
3. Thực trạng công tác hoàn thiện thể chế và kết quả thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế
3.1. Những đột phá về thể chế liên quan đến công tác thu hồi tài sản
Thực hiện chủ trương của Đảng tại Chỉ thị số 04-CT/TW, công tác lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế đã được Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ và Đảng ủy các bộ, ngành, án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại một số tỉnh, thành phố, bảo đảm sớm đưa các dự án vào triển khai, hạn chế lãng phí nguồn lực đất đai. tỉnh ủy, thành ủy quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện cho công tác này. Trong đó, một số cơ chế đặc thù đã được đề xuất và cấp có thẩm quyền thông qua bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc thu hồi kịp thời và tối đa tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt. Cụ thể:
Một là, thể chế hóa Kết luận số 87-KL/TW ngày 13/7/2024 của Bộ Chính trị về Đề án “Xây dựng cơ chế xử lý vật chứng, tài sản bị tạm giữ, kê biên, phong tỏa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, vụ việc”, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 164/2024/QH15 ngày 28/11/2024 về thí điểm xử lý vật chứng, tài sản trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử một số vụ việc, vụ án hình sự, tạo cơ sở pháp lý để xử lý sớm vật chứng, tài sản trong các vụ án, vụ việc, bảo đảm khơi thông nguồn lực phát triển kinh tế, xã hội, tránh thất thoát, lãng phí nguồn lực cũng như kinh phí bảo quản vật chứng, tài sản kéo dài.
Hai là, thể chế hóa Kết luận số 77-KL/TW ngày 02/5/2024 của Bộ Chính trị về Đề án “Phương án tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án, đất đai trong các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại một số tỉnh, thành phố”, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 170/2024/QH15 ngày 30/11/2024 về cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại một số tỉnh, thành phố, bảo đảm sớm đưa các dự án vào triển khai, hạn chế lãng phí nguồn lực đất đai.
Ba là, nhiều đạo luật được Quốc hội thông qua như Luật Thanh tra năm 2022; Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022; Luật Giá năm 2023; Luật Đấu giá tài sản năm 2016 (sửa đổi, bổ sung các năm 2023, 2024); Luật Đất đai năm 2024, Luật sửa đổi, bổ sung Luật THADS năm 2014… Ngày 05/12/2025, Quốc hội đã thông qua Luật THADS năm 2025, trong đó có sửa đổi, bổ sung các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án phù hợp với đặc thù các vụ án tham nhũng, kinh tế, đặc biệt, các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo. Các đạo luật này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thu hồi kịp thời, tối đa tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế.
3.2. Kết quả đạt được trong thực tiễn tổ chức thi hành án tham nhũng, kinh tế
Cùng với đột phá về thể chế pháp luật, công tác lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp đã tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thu hồi tài sản, nhất là các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo được Cục Quản lý THADS tham mưu và chủ động đề ra nhiều giải pháp quan trọng.
Thứ nhất, tham mưu Bộ Tư pháp ban hành các nghị quyết, kế hoạch, văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo chuyên đề công tác thu hồi tài sản; trực tiếp nghe báo cáo và chỉ đạo tiến độ thu hồi tài sản trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương theo dõi, chỉ đạo; có biện pháp kiểm tra, giám sát kịp thời phát hiện chấn chỉnh, xem xét xử lý trách nhiệm đối với tập thể, cá nhân phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong tổ chức thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt. Đặc biệt, Cục Quản lý THADS tham mưu Bộ Tư pháp đề xuất, báo cáo Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về tổ chức thi hành án, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án liên quan đến Tập đoàn Vạn Thịnh Phát.
Thứ hai, để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thu hồi tài sản, nhất là các vụ đại án, Cục Quản lý THADS đã tham mưu Bộ Tư pháp lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động thi hành án thu hồi tài sản, trong đó: phối hợp với Bộ Công an triển khai thông báo thi hành án qua ứng dụng VneID, giải quyết khó khăn, vướng mắc trong thực hiện thông báo thi hành án đối với các vụ án có hàng nghìn, chục nghìn bị hại; xây dựng và triển khai phần mềm thụ lý ra quyết định thi hành án, thanh toán tiền thi hành án... Từ đó, việc thi hành án các vụ án lớn đã đạt được kết quả tích cực. Điển hình, THADS Thành phố Hồ Chí Minh chủ động xây dựng phần mềm thanh toán tiền thi hành án, phần mềm có tính năng phân chia tiền tự động theo tỷ lệ được nhận của từng bị hại, đồng thời, thanh toán được đồng loạt cho các bị hại qua một lệnh chuyển khoản thanh toán vào tài khoản ngân hàng của người được thi hành án.
Thứ ba, công tác phối hợp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thu hồi tài sản được tăng cường và ngày càng hiệu quả, trong đó, Cục Quản lý THADS tham mưu Đảng ủy Bộ Tư pháp đề nghị Bí thư tỉnh ủy, thành ủy, Trưởng Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực quan tâm chỉ đạo thu hồi tài sản tham nhũng, kinh tế[1]; trong từng vụ việc cụ thể, Bộ Tư pháp trực tiếp có văn bản hoặc làm việc trực tiếp với các bộ, ngành, địa phương có liên quan để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thi hành án thu hồi tài sản, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức thi hành đạt kết quả.
Với những giải pháp quyết liệt, đồng bộ trên, cùng với thể chế pháp luật được hoàn thiện, kết quả thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế giai đoạn 2021 - 2025 đã đạt được những kết quả quan trọng, trong đó: kết quả thu hồi tài sản trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế ở giai đoạn THADS đạt 90.081 tỷ đồng; tăng hơn 47.759 tỷ đồng so với giai đoạn trước[2].
3.3. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác thu hồi tài sản còn một số khó khăn, vướng mắc ảnh hưởng đến công tác thu hồi tài sản như: (i) các vụ việc có số lượng tài sản phải xử lý rất lớn (hàng chục, hàng trăm, thậm chí hàng nghìn tài sản), nằm rải rác ở nhiều tỉnh, thành phố trên phạm vi toàn quốc; (ii) tình trạng pháp lý của tài sản kê biên để bảo đảm thi hành án thường rất phức tạp, cơ quan THADS phải mất nhiều thời gian để xác minh, làm rõ tình trạng pháp lý, hiện trạng của tài sản và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trước khi đưa tài sản ra xử lý; (iii) nhiều vụ án lớn có số lượng người bị hại đặc biệt lớn, chưa có tiền lệ, cơ quan THADS gặp nhiều khó khăn, thách thức trong tổ chức thi hành án (như vụ Vạn Thịnh Phát trên 43.000 bị hại; vụ FLC trên 28.000 bị hại; vụ Tân Hoàng Minh trên 6.000 bị hại).
Những khó khăn, vướng mắc trên xuất phát từ các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, về nguyên nhân khách quan.
(i) Thể chế pháp luật chưa có cơ chế tổng thể về thu hồi tài sản. Quy định liên quan đến thu hồi tài sản hiện phân tán trong nhiều luật (hình sự, tố tụng hình sự, THADS, phòng, chống tham nhũng, dân sự...), chưa có khung pháp lý thống nhất, xuyên suốt, bao quát toàn bộ quá trình từ phát hiện, kê biên, phong tỏa đến xử lý và thi hành án. Một số quy định về truy tìm, kê biên, phong tỏa, định giá và quản lý tài sản còn thiếu cụ thể, chưa dự liệu hết tình huống phức tạp trong các vụ án tham nhũng, kinh tế. Tài sản kê biên chưa rõ tính pháp lý hoặc quyền sở hữu, dẫn đến tranh chấp, phải giải quyết thêm bằng thủ tục dân sự, kéo dài quá trình thi hành án và giảm giá trị tài sản. Việc kết nối, chia sẻ thông tin tài sản, tài khoản, đất đai, chứng khoán giữa các cơ quan chức năng còn hạn chế, làm giảm khả năng truy tìm và phong tỏa kịp thời.
(ii) Phương thức tẩu tán, che giấu và chuyển hóa tài sản ngày càng tinh vi (qua người thân, doanh nghiệp “sân sau”, chứng khoán, bất động sản, ngoại tệ hoặc ra nước ngoài). Hợp tác quốc tế trong truy tìm và thu hồi tài sản còn hạn chế, do thiếu hiệp định song phương, khác biệt pháp luật, quy trình tương trợ tư pháp phức tạp, kéo dài. Hệ thống quản lý tài chính, ngân hàng, đất đai, chứng khoán trong nước chưa liên thông dữ liệu, tạo “kẽ hở” hợp thức hóa tài sản bất minh, khó xác minh và thu hồi.
Thứ hai, về nguyên nhân chủ quan.
(i) Chưa hình thành cơ chế phối hợp liên ngành và chia sẻ dữ liệu trong xác định, truy tìm, kiểm tra quyền sở hữu, tình trạng pháp lý của tài sản.
(ii) Một số cán bộ có tâm lý e ngại, sợ sai, thiếu quyết đoán khi áp dụng biện pháp cưỡng chế, phong tỏa, kê biên tài sản.
4. Kinh nghiệm thu hồi tài sản ở một số quốc gia trên thế giới và giá trị tham khảo đối với Việt Nam
Mỗi quốc gia có những cách thức thu hồi tài sản tham nhũng khác nhau nhưng nhìn chung, hiện có 04 phương thức phổ biến, gồm:
Thứ nhất, thu hồi tài sản thông qua hình thức kết án (truy tố hình sự).
Đây là biện pháp thu hồi tài sản phổ biến nhất và được hầu hết các quốc gia sử dụng. Theo đó, để thu hồi tài sản tham nhũng, cơ quan thực thi pháp luật sẽ bám sát một vụ án hình sự và việc thu hồi được tiến hành sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Biện pháp này thường được thực hiện thông qua 04 bước là điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Yêu cầu của biện pháp này là các cơ quan thực thi pháp luật phải thu thập chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội tham nhũng, truy tìm và bảo quản tài sản. Khi có đủ bằng chứng để chứng minh một người đã thực hiện tội phạm tham nhũng thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành truy tố. Tùy vào pháp luật của mỗi nước mà nội dung của bản án, quyết định của Tòa án có thể bao gồm phần tịch thu tài sản hoặc sau khi bị kết án, Tòa án có thể ra lệnh tịch thu tài sản. Tài sản bị tịch thu gồm các công cụ, số tiền thu được và các lợi ích khác có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến tội phạm. Ví dụ, thời điểm áp dụng các biện pháp kê biên, phong tỏa tài sản: đây là vấn đề quyết định hiệu quả ngăn chặn việc tẩu tán tài sản và thu hồi hiệu quả tài sản tham nhũng. Luật về Tài sản tội phạm và Luật về Tội phạm có tổ chức nghiêm trọng và cảnh sát năm 2005 của Anh đã trao quyền phong tỏa, tạm giữ tài sản và tiền mặt ngay khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Ngoài ra, nhằm hạn chế nguy cơ xâm phạm các quyền cơ bản con người, các biện pháp điều tra đặc biệt được pháp luật quy định với những điều kiện rất chặt chẽ, căn cứ vào tính chất, mức độ và tình tiết thực tế trong từng giai đoạn tiến hành tố tụng. Đây cũng là cách tiếp cận của Trung Quốc.
Thứ hai, thu hồi tài sản không qua hình thức kết án (kết tội).
Hạn chế của biện pháp thu hồi tài sản tham nhũng thông qua kết án là có thể tồn tại những rào cản cản trở việc kết án hình sự và tịch thu tài sản, như: không đủ bằng chứng, thiếu thời hạn (thời hiệu) hay thủ phạm đã chết, bỏ trốn, được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc được tuyên trắng án do không đủ chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội tham nhũng. Thậm chí có thể xảy ra trường hợp, trong cùng một vụ việc, cơ quan tài phán của nước này xem là tội phạm, nhưng cơ quan tài phán của nước khác lại không xem là tội phạm, dẫn đến không thể thu hồi tài sản tham nhũng ở nước ngoài. Ngoài ra, biện pháp này chỉ thu hồi được tài sản có nguồn gốc hoặc sử dụng để phạm tội, còn đối với những tài sản thuộc các bên thứ ba không thể thu hồi được bằng hình thức kết án. Do đó, biện pháp thu hồi tài sản không qua hình thức kết tội có thể giúp khắc phục nhược điểm của biện pháp thu hồi tài sản thông qua hình thức kết án. Ví dụ, ở Anh, nếu các cơ quan chức năng quyết định thu hồi tài sản, thì trước hết phải tiến hành tịch thu tài sản thông qua các thủ tục hình sự. Nếu tịch thu thông qua các thủ tục hình sự không thành (do người phạm tội thoát án hình sự), các nhà chức trách có thể chuyển sang thu hồi tài sản không thông qua hình thức kết án (thu hồi tài sản được mua trực tiếp bằng tiền phạm tội), tiếp theo là đánh thuế thu nhập phạm tội; còn việc thu hồi các công cụ phạm tội có thể được thực hiện ở bất kỳ giai đoạn nào của tố tụng hình sự. Trường hợp của Ferdinand Marcos và Imelda Marcos (Hoa Kỳ) là điển hình về trường hợp tịch thu tiền mặt không thông qua hình thức kết án.
Thứ ba, thu hồi tài sản thông qua thủ tục hành chính.
Thu hồi tài sản thông qua thủ tục hành chính thường liên quan đến cơ chế tắt để tịch thu tài sản được sử dụng hoặc liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội đã bị thu giữ trong quá trình điều tra. Quá trình này có hiệu quả khi tài sản bị tịch thu có thể được di chuyển và thực hiện dưới sự kiểm soát của Nhà nước. Việc thu hồi được thực hiện bởi một Điều tra viên hoặc cơ quan có thẩm quyền, như đơn vị cảnh sát hoặc cơ quan thực thi pháp luật được chỉ định. Quá trình tịch thu sẽ xảy ra sau khi thông báo về rủi ro đã được gửi đến chủ sở hữu hoặc người đang sở hữu tài sản và đã ban hành thông báo công khai về khả năng tịch thu này. Thụy Sỹ là điển hình về việc sử dụng biện pháp thu hồi tài sản bằng thủ tục hành chính. Theo đó, ngày 01/10/2010, Quốc hội Thụy Sỹ đã thông qua Đạo luật trả lại tài sản bất hợp pháp, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hồi số tiền thu được do tham nhũng trong các tình huống mà tình trạng nguồn gốc của tài sản không thể tiến hành thủ tục hình sự đáp ứng các yêu cầu của Luật Tương trợ quốc tế của Thụy Sỹ. Đạo luật trả lại tài sản bất hợp pháp quy định việc đóng băng, tịch thu và hoàn trả tài sản do những người có quan hệ chính trị nước ngoài và cộng sự của họ nắm giữ ở Thụy Sỹ trên cơ sở quyết định của Tòa án hành chính Liên bang. Theo Điều 6 Đạo luật trả lại tài sản bất hợp pháp, Tòa án có thể giả định nguồn gốc bất hợp pháp của những tài sản này khi “tài sản của người có quyền định đoạt tài sản đã tăng lên bất thường có liên quan đến việc thực thi chức vụ công của người có liên quan đến chính trị và mức độ tham nhũng ở quốc gia xuất xứ hoặc xung quanh người có liên quan đến chính trị được đề cập trong nhiệm kỳ của họ đã được thừa nhận là cao”. Nhờ áp dụng hiệu quả phương thức này, hiện nay, Thụy Sỹ được đánh giá là một trong những quốc gia ít tham nhũng nhất trong các nước thuộc Liên minh châu Âu và thế giới.
Thứ tư, thu hồi tài sản thông qua thủ tục dân sự.
Theo đó, chủ thể bị thiệt hại từ hành vi tham nhũng (thể nhân, pháp nhân hoặc Nhà nước), thông qua một vụ kiện dân sự tại Tòa án trong nước hoặc nước ngoài để xác lập quyền sở hữu đối với tài sản được cho là do phạm tội mà có (đòi lại tài sản) và/hoặc kiện đòi bồi thường thiệt hại, đền bù. Biện pháp thu hồi tài sản thông qua thủ tục dân sự dựa trên nguyên tắc có thiệt hại thực tế thì nguyên đơn có quyền yêu cầu bồi thường, là biện pháp buộc người có hành vi vi phạm pháp luật phải bồi thường cho người bị thiệt hại nếu chứng minh được thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật gây ra. Trường hợp cựu Tổng thống Zambia Chiluba là điển hình về việc thu hồi tài sản tham nhũng thông qua thủ tục dân sự đối với tài sản mà ông Chiluba và cộng sự có được từ hành vi tham ô theo Điều 17 Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC).
Từ những phân tích trên cho thấy, Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả THADS liên quan đến thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng như sau:
Một là, công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế ở Việt Nam chỉ đặt ra khi có bản án kết tội có hiệu lực của Tòa án. Do đó, việc nghiên cứu, rà soát, bổ sung hoàn thiện phương án thu hồi tài sản dựa trên truy tố hình sự, đồng thời, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong tổ chức thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật để thu hồi tài sản trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế là cần thiết và hợp lý, nhất là tăng cường trách nhiệm, phối hợp trong xác minh, truy tìm, truy thu, kê biên, phong tỏa tài sản tham nhũng hoặc tài sản do trao đổi, mua bán tài sản tham nhũng mà có.
Hai là, sử dụng tổng hợp và linh hoạt các biện pháp khác nhau (thu hồi tài sản thông qua hình thức kết án; thu hồi tài sản không qua hình thức kết tội; thu hồi tài sản thông qua thủ tục hành chính; thu hồi tài sản thông qua thủ tục dân sự) để thu hồi tài sản tham nhũng, kinh tế; căn cứ ưu điểm và nhược điểm của từng biện pháp, nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu hồi tài sản tham nhũng, từ đó, nâng cao chất lượng công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Ba là, về các biện pháp thu hồi tài sản thông qua thủ tục dân sự, thủ tục hành chính hoặc không qua thủ tục kết án, cần thời gian để nghiên cứu và hoàn thiện tổng thể các quy định về: trách nhiệm chứng minh vi phạm; hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản và thực hiện nghiêm trách nhiệm kê khai tài sản của cán bộ, công chức; thực hiện triệt để cơ chế không sử dụng tiền mặt đối với các giao dịch có giá trị lớn... Việt Nam nên nên giao cho các cơ quan có thẩm quyền, nghiên cứu đề xuất áp dụng khi có đủ điều kiện.
5. Các yêu cầu đặt ra và giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế
5.1. Các yêu cầu đặt ra
Trong bối cảnh Đảng và Nhà nước triển khai nhiều chủ trương, chính sách mang tính đột phá nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội nhanh, mạnh, bền vững, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, đặc biệt là đột phá trong khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cùng với đó, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được tăng cường quyết liệt, nhiều vụ án lớn, phức tạp đang được xử lý. Trong bối cảnh đó, công tác thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế có những thuận lợi và thách thức mới.
Thứ nhất, về thuận lợi.
(i) Sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt của Đảng và Nhà nước. Công tác thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế tiếp tục nhận được sự lãnh đạo sát sao và quyết liệt từ các cấp ủy Đảng, chính quyền, cùng sự phối hợp đồng bộ của hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương. Đây là yếu tố quan trọng tạo động lực và bảo đảm hiệu quả triển khai công tác thu hồi tài sản.
(ii) Hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện. Các quy định liên quan đến phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đặc biệt, về thu hồi tài sản tiếp tục được hoàn thiện và bổ sung, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho công tác thu hồi tài sản hiệu quả, bền vững.
(iii) Tổ chức bộ máy và nguồn lực được củng cố, kiện toàn. Mô hình tổ chức các cơ quan THADS được sắp xếp, tinh, gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả. Đầu tư về nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số giúp nâng cao năng lực quản lý, điều hành và thực thi công tác thu hồi tài sản.
Thứ hai, về khó khăn, thách thức.
(i) Hạn chế trong thể chế, pháp luật. Mặc dù hệ thống pháp luật được hoàn thiện, song vẫn tồn tại những khoảng trống về thẩm quyền, trách nhiệm, trình tự, thủ tục thu hồi tài sản, đặc biệt, trong các vụ án tham nhũng, kinh tế phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ và hiệu quả thu hồi tài sản trên thực tế.
(ii) Tội phạm ngày càng tinh vi, phức tạp. Các hành vi tham nhũng, kinh tế có phương thức tẩu tán, hợp pháp hóa tài sản ngày càng tinh vi, sử dụng người thân, doanh nghiệp “sân sau”, đầu tư tài chính, bất động sản, ngoại tệ hoặc chuyển ra nước ngoài. Tài sản liên quan đa dạng, giá trị lớn, tính chất pháp lý chưa rõ ràng, gây khó khăn trong định giá, kê biên, xử lý và thi hành án.
(iii) Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, nguồn nhân lực công nghệ chuyên môn cao ở một số lĩnh vực còn hạn chế chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công tác thu hồi tài sản.
5.2. Giải pháp hoàn thiện
Một là, hoàn thiện cơ chế và tổ chức thực hiện nghiêm quy định về kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn là biện pháp vừa phòng ngừa tham nhũng, vừa giúp phát hiện, xử lý những cá nhân có hành vi tham nhũng và thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt… Để phát hiện, ngăn chặn những hành vi trái pháp luật liên quan đến thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, cần có các quy định cho phép theo dõi biến động của mọi tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở mọi thời điểm (kể cả việc tăng, giảm tài sản, thu nhập). Kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn nhằm tạo cơ sở quan trọng cho việc minh bạch hóa thu nhập và tài sản của người có chức vụ, quyền hạn, đồng thời là giải pháp quan trọng nhằm phòng ngừa, phát hiện tham nhũng, góp phần nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản cho Nhà nước.
Hai là, nghiên cứu, hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp để tăng hiệu quả chế tài xử lý tham nhũng. Việc điều tra, chứng minh tài sản bất minh để buộc tội người có hành vi tham nhũng và để thu hồi tài sản tham nhũng ở bất cứ quốc gia nào đều rất khó khăn và mất thời gian, dẫn đến nhiều vụ việc tham nhũng bị bỏ lọt hoặc tài sản tham nhũng không thu hồi được. Do vậy, kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia cho thấy, việc hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp là giải pháp quan trọng để đấu tranh hiệu quả đối với tội phạm tham nhũng. Thực chất, hình sự hóa hành vi này là đảo ngược trách nhiệm chứng minh, nghĩa là trách nhiệm chứng minh tài sản có bất minh hay không được chuyển từ các cơ quan tố tụng sang người nắm giữ tài sản. Nếu cán bộ, công chức có chức vụ quyền hạn không chứng minh được tài sản của mình là hợp pháp thì tài sản đó là tài sản tham nhũng.
Ba là, nghiên cứu, xây dựng cơ chế tịch thu, thu hồi tài sản thông qua khởi kiện dân sự. Hiện, các quốc gia sử dụng 04 phương thức cơ bản để thu hồi tài sản tham nhũng: thu hồi tài sản dựa trên truy tố hình sự; thu hồi tài sản không dựa trên bản án hình sự; thu hồi tài sản thông qua quyết định hành chính; khởi kiện dân sự để thu hồi tài sản. Trong đó, phương thức thu hồi tài sản dựa trên quy trình khởi kiện dân sự được Công ước Liên hợp quốc về phòng, chống tham nhũng (United National Convention Againt Coruption - UNCAC) khuyến nghị các quốc gia nghiên cứu để áp dụng: “Mỗi quốc gia thành viên, căn cứ vào pháp luật quốc gia sẽ tiến hành các biện pháp cần thiết cho phép quốc gia thành viên khác khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án để xác định quyền hay quyền sở hữu đối với tài sản có được qua việc thực hiện các tội được quy định trong Công ước này” (Điều 53(a)). Đồng thời, sáng kiến thu hồi tài sản bị đánh cắp (StAR) do Ngân hàng Thế giới và Cơ quan Phòng, chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc đã đưa ra các hướng dẫn chi tiết và thực tiễn cho việc nghiên cứu, vận dụng phương thức này.
Việc khởi kiện dân sự để tịch thu, thu hồi tài sản do phạm tội mà có, được thực hiện thông qua các hình thức chủ yếu như: khởi kiện khẳng định quyền sở hữu; khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại; khởi kiện dựa trên tính vô hiệu của hợp đồng hoặc vi phạm hợp đồng; khởi kiện căn cứ trên hành vi làm giàu bất hợp pháp hoặc làm giàu không công bằng.
Để thực hiện được nội dung này, cần nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) theo hướng: sửa đổi, bổ sung quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức được giao quản lý tài sản thuộc sở hữu nhà nước trong việc khởi kiện vụ án dân sự để đòi lại những tài sản thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nhưng bị hành vi tham nhũng xâm phạm; trong trường hợp cơ quan, tổ chức sở hữu tài sản nhà nước bị tham nhũng không khởi kiện vụ án, cho phép bên thứ ba khởi kiện vụ án dân sự đòi lại tài sản hoặc bồi thường thiệt hại tài sản này.
Bốn là, tăng cường ký kết, tham gia các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương về thu hồi tài sản tham nhũng, nhất là cơ chế tương trợ tư pháp về hình sự giữa các quốc gia trong phong tỏa, thu hồi tài sản của người phạm tội đã tẩu tán ở nước ngoài.
Năm là, tăng cường phối hợp trong công tác THADS và công tác thu hồi tài sản. Chủ động phối hợp chặt chẽ với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các bộ, ban, ngành, các tỉnh ủy, thành ủy, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố để nâng cao hiệu quả công tác thu hồi tài sản.
Công tác thu hồi tài sản tham nhũng, kinh tế là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, then chốt của công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Thời gian qua, Cục Quản lý THADS đã góp phần quan trọng vào việc tham mưu, đề xuất các chủ trương, chính sách lớn của Đảng, tháo gỡ vướng mắc pháp lý, thúc đẩy hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả tổ chức THADS, đặc biệt, trong các vụ án trọng điểm. Trước yêu cầu ngày càng cao của tình hình mới, Cục Quản lý THADS tiếp tục phát huy vai trò, trách nhiệm, đẩy mạnh phối hợp toàn diện, hiệu quả trên mọi phương diện, từ tham mưu, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra cho đến truyền thông và phòng ngừa tiêu cực. Qua đó, tạo chuyển biến rõ nét trong thực tiễn thu hồi tài sản, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ngày càng trong sạch, vững mạnh
Ban Pháp chế và Nghiệp vụ thi hành án dân sự, Cục Quản lý Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp
[1]. Công văn số 494-CV/BCSĐ ngày 21/4/2023 của Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp gửi đồng chí Bí thư tỉnh ủy, thành ủy - Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực cấp tỉnh về quan tâm chỉ đạo thu hồi tài sản tham nhũng, kinh tế.
[2]. Giai đoạn 2016 - 2020, cơ quan THADS đã thi hành xong số tiền trên 42.322 tỷ đồng (năm 2016, thi hành xong 236 tỷ đồng; năm 2017, thi hành xong 7.260 tỷ đồng; năm 2018, thi hành xong 2.758 tỷ đồng; năm 2019, thi hành xong 16.651 tỷ đồng; năm 2020, thi hành xong 15.417 tỷ đồng).
(Nguồn: Ấn phẩm “80 năm Thi hành án dân sự Việt Nam - Vẻ vang truyền thống, vững bước tương lai”, xuất bản năm 2026)