Thứ bảy 24/10/2026 04:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tổ chức, hoạt động của Ủy ban Dân nguyện nước Cộng hòa Liên bang Đức và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Bài viết phân tích, đánh giá quy định pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt động của Ủy ban Dân nguyện của nước Cộng hòa Liên bang Đức, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Ban Dân nguyện ở Việt Nam hiện nay.

1. Tổ chức và hoạt động của Ủy ban Dân nguyện Cộng hòa Liên bang Đức

1.1. Vị trí pháp lý và chức năng của Ủy ban Dân nguyện

- Về vị trí pháp lý: Ủy ban Dân nguyện (UBDN) Đức[1] (Petition Committee) được quy định tại Điều 45c Hiến pháp Đức năm 1948: “Hạ viện chỉ định UBDN để thụ lý các yêu cầu và khiếu nại đến Hạ viện theo Điều 17. Quyền hạn xem xét khiếu nại của Ủy ban được quy định bởi một đạo luật liên bang”[2]. Như vậy, UBDN là một loại ủy ban chuyên trách nằm trong cơ cấu của Nghị viện. Việc hiến định vị trí pháp lý của UBDN chứng tỏ rằng cơ quan này rất được coi trọng, có tính độc lập nhất định trong mối quan hệ với Nghị viện mặc dù là cơ quan thuộc Nghị viện[3].

- Về chức năng: Điều 45c Hiến pháp Đức năm 1948 khẳng định vị trí pháp lý, đồng thời cũng đã quy định chức năng (phương diện hoạt động chủ yếu) của UBDN là tiếp nhận và giải quyết các yêu cầu và khiếu nại của người dân khi được gửi tới Hạ viện. Chức năng của UBDN xuất phát từ trách nhiệm của Nhà nước, cụ thể là Nghị viện về bảo đảm quyền khiếu nại của người dân được quy định tại Điều 17 Hiến pháp Đức năm 1948[4]. UBND trở thành nơi “đo lường” được tâm tư, ý nguyện của người dân đối với các quy định pháp luật, liệu pháp luật đã đạt được mục tiêu đặt ra hay phát sinh những vấn đề mới và do đó cần được xem xét lại một cách nghiêm túc hay không hoặc Ủy ban có thể đưa ra kiến nghị về việc Nghị viện Đức có nên hoạt động tích cực trong một vấn đề cụ thể nào đó để thỏa mãn mong muốn của người dân[5].

Chức năng của UBDN chi phối phạm vi đơn thư khiếu nại mà cơ quan này có thẩm quyền thụ lý. Luật về thẩm quyền của UBDN Đức quy định, đơn kiến nghị gửi đến UBDN là văn bản trong đó yêu cầu hoặc khiếu nại được đưa ra dựa trên nhân danh chính mình, cho bên thứ ba hoặc vì lợi ích chung[6]. Như vậy, các yêu cầu, khiếu nại của người dân mà Ủy ban này tiếp nhận có đặc điểm khác so với những cơ quan giải quyết khiếu nại thông thường ở chỗ, phạm vi nội dung có thể liên quan đến những vấn đề chung của xã hội, của Nhà nước, có thể liên quan đến quan điểm chính trị mà người dân ủng hộ hoặc phản đối[7]...

1.2. Về nhiệm vụ, quyền hạn và quy tắc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Dân nguyện

- Theo Luật về thẩm quyền của UBDN và các đạo luật có liên quan về quyền và thủ tục khiếu nại của Đức, khi nhận được các đơn thư khiếu nại hoặc là những thỉnh nguyện của người dân, UBDN trách nhiệm và quyền hạn[8]: (i) Xây dựng các nguyên tắc xử lý các yêu cầu, khiếu nại và sử dụng chúng làm cơ sở cho quyết định của mình trong mỗi trường hợp[9]. (ii) Khi các yêu cầu nộp hồ sơ, thông tin hoặc tiếp cận cơ sở được gửi trực tiếp tới các cơ quan có thẩm quyền của Liên bang và các cơ quan doanh nghiệp, tổ chức và quỹ liên bang theo luật công, Ủy ban sẽ phải thông báo cho thành viên có liên quan của Chính phủ Liên bang được biết. (iii) Thông báo kịp thời cho thành viên của Chính phủ Liên bang liên quan đến thư khiếu nại về bất kỳ phiên điều trần nào của người khởi kiện, nhân chứng hoặc chuyên gia. (iv) Quyết định giao nhiệm vụ cho thành viên cụ thể của Ủy ban Dân nguyện để giải quyết khiếu nại. Quyết định phải nêu rõ tính chất và phạm vi của các quyền hạn được chuyển giao[10].

- Phạm vi giải quyết khiếu nại, yêu cầu của UBDN gồm[11]: (i) Các kiến nghị thuộc phạm vi lĩnh vực thẩm quyền của Chính phủ Liên bang, các cơ quan liên bang và các tổ chức khác thực hiện các chức năng công cộng; (ii) Giải quyết các kiến nghị liên quan đến các cơ quan hiến định khác của Liên bang theo Hiến pháp Đức; giải quyết các kiến nghị liên quan đến việc thi hành luật liên bang hoặc Luật Cộng đồng châu Âu theo quy định của Hiến pháp Đức; (iii) Giải quyết các kiến nghị liên quan đến thủ tục pháp lý ở cấp liên bang.

- Phương hướng giải quyết khiếu nại, yêu cầu của UBDN[12]: (i) Thông thường, các khiếu nại, yêu cầu đủ điều kiện sẽ được Ban Dịch vụ của Ủy ban nghiên cứu, đề xuất hướng xử lý đơn thư đó. (ii) Trong trường hợp người nộp đơn không đồng ý với hướng giải quyết của Ủy ban Dịch vụ thì Ban sẽ đề xuất gửi khiếu nại đến 02 nghị sỹ thuộc đảng cầm quyền và đảng đối lập. Ngoài ra, mọi nhóm nghị sỹ khác có đại diện trong Ủy ban có thể yêu cầu một báo cáo viên của riêng mình để tham gia giải quyết khiếu nại[13]. Sau khi xem xét nếu hai nghị sỹ không thống nhất được hướng giải quyết và không đồng ý với đề xuất của Ban thư ký thì sẽ được đưa ra phiên họp toàn thể của Ủy ban để thảo luận và biểu quyết thông qua xử lý vụ việc[14].

- Thông báo kết quả giải quyết của Ủy ban: (i) Các đơn đã được giải quyết sẽ được chuyển cho Hạ viện theo danh sách đi kèm với kiến nghị. Sau khi Hạ viện đưa ra quyết định về kiến nghị giải quyết, Chủ tịch Ủy ban sẽ thông báo cho người có khiếu nại, yêu cầu về việc kiến nghị của họ đã được xử lý như thế nào. Trong trường hợp người nộp đơn là một tập thể không có tư cách pháp nhân thì sẽ thông báo đến địa chỉ người đại diện cho nhóm, nếu không có địa chỉ cụ thể thì UBDN sẽ quyết định phương thức thông báo công khai[15]. (ii) Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật, Chủ tịch Hạ viện và Chủ tịch Ủy ban theo thẩm quyền sẽ gửi các kiến nghị của Ủy ban đến các cơ quan có trách nhiệm để tiếp thu, xem xét, đồng thời quy định thời hạn cụ thể để thực hiện các yêu cầu đó. Hầu hết các khuyến nghị này đều được các cơ quan chịu trách nhiệm tiếp thu nghiêm túc.

1.3. Về cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân nguyện

UBDN do Hạ viện thành lập theo quy định của Hiến pháp. Để đáp ứng nhu cầu công việc, UBDN gồm có: Chủ tịch Ủy ban, 01 Phó Chủ tịch Ủy ban và khoảng 30 thành viên thông thường và mỗi thành viên sẽ có một thành viên thay thế tương ứng để có thể thực hiện công việc khi khuyết thành viên thông thường[16]. Trong đó, Chủ tịch Ủy ban được bổ nhiệm trên cơ sở thỏa thuận bởi các nhóm nghị sỹ thành viên. Chủ tịch giữ vai trò là người chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các cuộc họp của Ủy ban. Các bộ phận gồm: Ban Dịch vụ, 04 phòng chuyên môn.

1.4. Về hình thức hoạt động của Ủy ban Dân nguyện

- Thực hiện các cuộc họp của Ủy ban: Các phiên họp của UBDN chủ yếu để giải quyết các công việc liên quan đến chức năng dân nguyện, như đã phân tích, UBDN tiến hành họp để thông qua các phương hướng giải quyết khiếu nại mà Ban Dịch vụ và các thành viên được phân công giải quyết khiếu nại đề xuất. Trong đó, một số cuộc họp của Ủy ban sẽ được công khai, có tính chất tham vấn cộng đồng[17]. Tại cuộc họp, các thành viên của Ủy ban có quyền phát biểu và biểu quyết bằng bỏ phiếu. Bên cạnh đó, còn có một số đại biểu không thuộc thành viên của Ủy ban do Hạ viện chỉ định tham gia cuộc họp các Ủy ban, họ có quyền phát biểu nhưng không có quyền biểu quyết.

- Lập các báo cáo hàng tháng, thường niên: Theo quy định pháp luật Đức, để Nghị viện nắm bắt được thực tiễn hoạt động của UBDN, Ủy ban này phải tiến hành báo cáo về các nội dung đã được giải quyết lên Nghị viện dưới dạng một danh sách cùng với khuyến nghị. Báo cáo phải được nộp hàng tháng. Ngoài ra, UBDN còn đệ trình lên Hạ viện một báo cáo bằng văn bản hàng năm về công việc của mình. Các báo cáo thống kê đầy đủ các số liệu và lĩnh vực hoạt động cụ thể của Ủy ban trong một năm. Các báo cáo sẽ được in, phân phát và đưa vào chương trình nghị sự trong vòng ba tuần, kể từ ngày họp sau khi chúng được phân phát[18].

2. Một số kiến nghị hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Ban Dân nguyện ở Việt Nam

Thứ nhất, hoàn thiện quy định về vị trí pháp lý nhằm phát huy hơn nữa chức năng, vai trò của Ban Dân nguyện.

Cũng giống như Hiến pháp Đức hay hiến pháp của nhiều quốc gia khác, tinh thần của Hiến pháp Việt Nam rất coi trọng vấn đề dân nguyện[19]. Hiện nay, công tác dân nguyện của Quốc hội được đảm nhận chuyên trách bởi Ban Dân nguyện, cơ quan thuộc cơ cấu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, được thành lập theo các nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội[20]. Như vậy, Ban Dân nguyện chưa phải là một Ủy ban của Quốc hội và địa vị pháp lý của Ban Dân nguyện chưa được luật định. Các nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng mới đặt ra khung pháp lý cơ bản mà chưa quy định chi tiết, cụ thể phương thức hoạt động, quy trình thủ tục giải quyết công việc của Ban Dân nguyện…[21].

Theo tác giả, để nâng cao hiệu quả trong công tác dân nguyện của Quốc hội, trước hết, cần sớm quy định trong văn bản Luật về tổ chức và hoạt động của Ban Dân nguyện. Có thể quy định về Ban Dân nguyện là một nội dung trong Luật Tổ chức Quốc hội sửa đổi hoặc có thể ban hành một đạo luật riêng để xác định rõ ràng, đầy đủ cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Ban Dân nguyện. Về lâu dài, Quốc hội cần xem xét để phát triển Ban Dân nguyện trở thành UBDN - cơ quan chuyên trách hoạt động thường xuyên của Quốc hội bởi những lý do sau: (i) Đáp ứng sự đa dạng hóa các loại ủy ban của Quốc hội theo hướng chuyên biệt, chuyên nghiệp, đáp ứng trong phạm vi chức năng cụ thể của Quốc hội, ví dụ: Ủy ban Giám sát, Ủy ban Hiến pháp, UBDN… (ii) Ban Dân nguyện trở thành Ủy ban của Quốc hội sẽ tăng tính chủ động, linh hoạt trong hoạt động của cơ quan này. Có thể tham khảo kinh nghiệm trong xây dựng UBDN của Đức là cơ quan chuyên trách thuộc Nghị viện, do Hạ viện thành lập được chủ động xây dựng nguyên tắc xử lý các khiếu nại, yêu cầu trên cơ sở quy định của pháp luật, trong quá trình giải quyết khiếu nại được quyền chủ động phân loại các vấn đề cần đưa ra Nghị viện để trao đổi góp phần hoàn thiện quy định pháp luật của Nghị viện, vấn đề nào cần gửi Chính phủ liên bang hay gửi đến Hội đồng Liên minh châu Âu… Việc nâng cấp Ban Dân nguyện thành UBDN sẽ làm cơ sở để trao cho cơ quan này nhiều quyền hạn hơn, quy mô tổ chức là một uỷ ban thường trực của Quốc hội cũng đáp ứng tốt hơn nhu cầu công việc của cơ quan này.

Thứ hai, cần nhận thức chức năng giải quyết khiếu nại của Ban Dân nguyện khác với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo khác trong bộ máy nhà nước.

Việc tiếp nhận và giải quyết đơn thư khiếu nại của người dân ở nhiều quốc gia cũng giao cho nhiều cơ quan giải quyết. Tuy nhiên, tính chất tham gia có sự khác nhau. Chẳng hạn, các cơ quan hành chính giải quyết khiếu nại, tố cáo của người dân thường là những vấn đề liên quan trực tiếp đến hành vi, quyết định của mình hoặc trong hệ thống cơ quan mình mà người dân cảm thấy xâm phạm đến quyền lợi ích của họ. Do đó, nội dung khiếu nại, tố cáo thường là những sự việc cụ thể, với cá nhân, tổ chức cụ thể. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan hành chính thực chất là xem xét lại các quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình tác động đến người dân đã hợp lý hay chưa, nếu chưa thỏa đáng thì chủ động khắc phục. Còn Ban Dân nguyện như đã phân tích ở chức năng của UBDN của Đức, phạm vi nội dung khiếu nại, yêu cầu của người nộp đơn có thể liên quan đến cả những vấn đề chung của xã hội, của Nhà nước, đến quan điểm chính trị mà người dân ủng hộ hoặc phản đối… Mục đích giải quyết khiếu nại của Ban Dân nguyện là để thỉnh nguyện, tức là nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, phát huy tốt vai trò đại diện của Quốc hội.

Việc nhận thức được bản chất chức năng giải quyết khiếu nại, yêu cầu của Ban Dân nguyện và phân biệt được với các cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền tương tự là cơ sở quan trọng để phân loại khiếu nại, xác định phạm vi thẩm quyền giải quyết hay chuyển đơn thư khiếu nại cho các cơ quan nhà nước khác.

Thứ ba, hoàn thiện một số quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Ban Dân nguyện.

- Cần quy định rõ quy trình, thủ tục để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Dân nguyện:

+ Quy định rõ hơn về yêu cầu nội dung, hình thức báo cáo hàng tháng của Ban Dân nguyện. Hình thức, yêu cầu nội dung báo cáo cần được quy định rõ ràng, theo quan điểm của một số chuyên gia, báo cáo cần dành ra dung lượng nhất định để trình bày về các vụ việc cụ thể, phức tạp, nhận được nhiều sự quan tâm của dư luận nhưng không được giải quyết trong thời gian dài, việc bổ sung nội dung này không chỉ giúp báo cáo trở nên khách quan, toàn diện, bảo đảm bao quát cả về diện rộng lẫn bề sâu, mà còn có tác động thực tế rất tích cực đến việc giải quyết các vấn đề, vụ việc cụ thể tồn đọng kéo dài[22].

+ Cần có quy định cụ thể về hình thức và nội dung các cuộc họp của Ban Dân nguyện theo hướng người dân dễ tiếp cận và nắm bắt nội dung. Có thể tham khảo kinh nghiệm của Đức, theo đó, hàng năm, Ban Dân nguyện tổ chức 03 - 04 phiên họp công khai về những chủ đề nổi bật dựa trên việc phân loại nội dung và mức độ quan tâm thông qua các khiếu nại mà Ban Dân nguyện nhận được; có thể mời đại diện người có đơn khiếu nại liên quan đến chủ để, đại diện các cơ quan có thẩm quyền liên quan như từ phía các bộ, ngành, chính quyền địa phương…, có thể mời thêm các chuyên gia để cho ý kiến. Các phiên họp này có thể được thông báo công khai trên trang web của Quốc hội và được truyền hình trực tiếp. Nội dung cuộc họp, các hình ảnh số liệu có thể được hệ thống số hóa và người dân quan tâm có thể truy cập được.

+ Cần phải xây dựng một hệ thống dữ liệu thông tin đồng bộ, phân cấp để theo dõi việc xử lý đơn thư được hiệu quả. Theo thông tin của Ban Dân nguyện, có hoạt động tiếp công dân định kỳ, có đưa tin trên trang web nhưng chỉ mang tính chất thông tin chứ không ghi hình trực tiếp và cũng không thống kê thành hồ sơ lưu trữ để người dân có thể tiếp cận được chi tiết nội dung[23]. Nhà nước cần sớm lập trang thông tin riêng của Ban Dân nguyện để đáp ứng yêu cầu này.

Theo quy định pháp luật Đức, quốc gia này có trang web để đăng tải thông tin về các vụ việc được giải quyết bởi UBDN theo hình thức công khai. Những vụ việc công khai thường là những vấn đề có mối quan tâm chung của xã hội. Thông qua trang web, những người khác có thể được tham gia cùng với người làm đơn bằng cách gửi bình luận sẽ cung cấp tên, địa chỉ và địa chỉ email của họ, người dân quan tâm cũng được phép truy cập, đưa ra nhận xét. Thời hạn cho việc này là 04 tuần. Mặt khác, pháp luật cũng quy định những trường hợp không được công khai, giới hạn các bình luận nhận xét trên trang thông tin nếu thấy không hợp pháp, hợp lệ[24]…

- Cần kiện toàn nhân sự cho Ban Dân nguyện theo hướng đủ số lượng và chất lượng: Khối lượng công việc của Ban Dân nguyện ngày càng nhiều trong khi cơ quan tham mưu, giúp việc là Vụ Dân nguyện - bộ phận giúp việc cho Ban Dân nguyện lại đang thiếu biên chế so với yêu cầu nhiệm vụ[25]. Như UBDN của Đức, thành viên lên tới gần 30 người, họ không làm việc trong các Ủy ban khác của Quốc hội, mỗi thành viên đều dự phòng một thành viên thay thế khi cần thiết. Bên cạnh đó, Ủy ban còn có Ban Dịch vụ và các phòng chuyên môn để tiếp nhận và xử lý công việc. Bộ phận Ban Dịch vụ không đơn thuần là giúp việc hành chính mà còn đóng vai trò là bước đầu tiên trong việc giải quyết khiếu nại. Họ có thể đưa ra các hướng đề xuất giải quyết khiếu nại cho Ủy ban. Nếu các đề xuất của họ không được sự tán thành của thành viên Ủy ban thì lúc đó, Ủy ban mới có những hành động tiếp theo để giải quyết khiếu nại. Nếu không thì các định hướng, đề xuất của Ban Dịch vụ về cơ bản chính là đã giải quyết được khiếu nại. Từ kinh nghiệm về tổ chức UBDN của Đức, để bảo đảm hiệu quả hoạt động của Ban Dân nguyện, cần phải tăng số lượng nhân sự của Ban, thành viên của Ban nên là đại biểu hoạt động chuyên trách, không nên tham gia vào các Ủy ban hay các cơ quan khác của Quốc hội như hiện nay. Vụ Dân nguyện cần tăng số lượng và chất lượng nhân sự để có thể tham mưu cho Ban Dân nguyện và giúp Ban xử lý bước đầu các khiếu nại./.

TS. Thái Thị Thu Trang

Trường Đại học Luật Hà Nội

(Ảnh: Internet)

[1]. Có thể dịch tên cơ quan này là Ủy ban Thỉnh nguyện.

[2]. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, “Tuyển tập hiến pháp của một số quốc gia”, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, năm 2012.

[3]. Số lượng ủy ban thường trực có thể khác nhau tùy theo nhiệm kỳ bầu cử này sang nhiệm kỳ bầu cử khác. Ví dụ, vào năm 1949, Nghị viện đầu tiên có tổng cộng 40 ủy ban thường trực, trong khi Nghị viện khóa sáu chỉ có 17 Ủy ban, https://www.bundestag.de/ausschuesse/einleitungstext-20-866418, truy cập ngày 27/02/2023. Hiện nay, Nghị viện Đức có 22 ủy ban thường trực, trong đó có nhiều ủy ban do Nghị viện Đức có quyền thành lập hoặc rút bớt nhưng việc hiến định sẽ khiến cho ủy ban này không thể tùy tiện thay đổi, Nguyễn Chí Dũng, “Mô hình UBDN của Cộng hòa Liên bang Đức”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số tháng 8/2007.

[4]. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tldd.

[5]. https://www-bundestag-de.translate.goog/petitionen?_x_tr_sl=de&_x_tr_tl=en&_x_tr_hl=en&_x_tr_pto=sc, truy cập ngày 27/02/2024.

[6]. Điểm 2.1, khoản 2 Mục IV. Nguyên tắc xử lý khiếu nại, yêu cầu của UBDN, Đạo luật về thẩm quyền của UBDN.

[7]. Các cuộc họp công khai của UBDN có nhiều chủ đề liên quan đến vấn đề chung của Nhà nước và xã hội chẳng hạn: Về hỗ trợ cho phong trào tự do ở Iran (họp ngày 12/12/2022); về tiếp tục vận hành nhà máy điện hạt nhân của Đức (họp ngày09/11/2022)…,https://www-bundestag-de.translate.goog/ausschuesse/a02_Petitionsausschuss/anhoerungen_inhalt-869280?_x_tr_sl=de&_x_tr_tl=en&_x_tr_hl=en&_x_tr_pto=sc, truy cập ngày 27/02/2024.

[8]. Điều 110. Quyền của Ủy ban Dân nguyện, Luật về thủ tục của Nghị viện Đức, https://www.bundestag.de/resource/blob/867822/9237e7d47f800e9458e7509c5595daf9/Rechtsgrundlagen_Englisch-data.pdf, truy cập ngày 27/02/2024.

[9]. Bên cạnh đó, UBDN còn phải tuân thủ các quy định về trình tự, thủ tục xử lý khiếu nại, yêu cầu theo Mục IV. Nguyên tắc UBDN xử lý khiếu nại, https://www.bundestag.de/resource/blob/867822/9237e7d47f800e9458e7509c5595daf9/Rechtsgrundlagen_Englisch-data.pdf, truy cập ngày 27/02/2024.

[10]. Điều 111 Luật về thủ tục của Nghị viện Đức.

[11]. Điều 5 Mục IV. Nguyên tắc UBDN xử lý khiếu nại.

[12]. Các khoản thuộc Điều 7.13 Mục IV. Nguyên tắc UBDN xử lý khiếu nại.

[13]. 7.11. Mục IV. Nguyên tắc UBDN xử lý khiếu nại.

[14]. Trần Hồng Cẩn, “Hoàn thiện tổ chức và hoạt động Ban Dân nguyện thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong bối cảnh Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Hà Nội, năm 2015, tr. 24.

[15]. 9.1 Mục IV. Nguyên tắc UBDN xử lý khiếu nại.

[16]. https://www.bundestag.de/ausschuesse/einleitungstext-20-866418, truy cập ngày 27/02/2024.

[17]. https://www.bundestag.de/ausschuesse/einleitungstext, truy cập ngày 27/02/2024.

[18]. Điều 112. Khuyến nghị và báo cáo của Ủy ban Dân nguyện, Luật về Thủ tục của Nghị viện Đức, https://www-bundestag-de.translate.goog/ausschuesse/a02_Petitionsausschuss/petitionsausschuss_befugnisse-867800?_x_tr_sl=de&_x_tr_tl=en&_x_tr_hl=en&_x_tr_pto=sc, truy cập ngày 28/02/2024.

[19]. Điều 3, khoản 2 Điều 8, Điều 28, Điều 30 Hiến pháp năm 2013.

[20]. Nghị quyết số 370 /2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập Ban Dân nguyện, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 1156/2016/UBTVQH13 ngày 17/3/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Ban Dân nguyện.

[21]. Một số ý kiến chuyên gia cho rằng: “Hiện nay, Ban Dân nguyện chưa được xác định địa vị pháp lý tại văn bản luật nào. Vị trí chức năng của công tác dân nguyện của Quốc hội cũng như Ban chưa thực sự tương xứng với nhiệm vụ, vai trò của cơ quan thực hiện công tác dân nguyện của Quốc hội”, https://quochoi.vn/bandannguyen/tintuc/Pages/tin-hoat-dong.aspx?ItemID=244, truy cập ngày 03/3/2024.

[22]. https://quochoi.vn/bandannguyen/tintuc/Pages/tin-hoat-dong.aspx?ItemID=237.

[23]. https://quochoi.vn/bandannguyen/tintuc/Pages/tin-hoat-dong.aspx?ItemID=244.

[24]. Mục 7.6 Phụ lục Bộ quy tắc: Hướng dẫn Xử lý Đơn khởi kiện Công khai theo Quy tắc 7.1 (4) của Quy tắc Thủ tục, https://www.bundestag.de/resource/blob/867822/9237e7d47f800e9458e7509c5595daf9/Rechtsgrundlagen_Englisch-data.pdf, truy cập ngày 05/3/2024.

[25]. https://quochoi.vn/bandannguyen/tintuc/Pages/tin-hoat-dong.aspx?ItemID=244, truy cập ngày 03/3/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 404), tháng 5/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của một số quốc gia và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của một số quốc gia và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Đấu giá tài sản tự nguyện ngày càng phát triển trở thành phương thức bán tài sản phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Nghiên cứu phân tích pháp luật Pháp, Trung Quốc, một số tiểu bang Hoa Kỳ và Đức về đấu giá tài sản tự nguyện; đồng thời, tham khảo kinh nghiệm của Hàn Quốc về tổ chức hạ tầng đấu giá trực tuyến. Trên cơ sở so sánh quyền định đoạt tài sản, trách nhiệm của chủ thể cung cấp dịch vụ, nghĩa vụ thông tin, điều kiện bán và hậu quả pháp lý của đấu giá, nghiên cứu so sánh với pháp luật Việt Nam và dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)*(dự thảo Luật). Kết quả phân tích, làm rõ những vấn đề về phạm vi áp dụng chế độ đấu giá tự nguyện, chứng minh quyền được bán, quyền thỏa thuận thủ tục, điều kiện về giá, hiệu lực kết quả và trách nhiệm trong môi trường điện tử. Từ đó, nghiên cứu kiến nghị hoàn thiện các quy định tương ứng nhằm bảo đảm quyền định đoạt, tính minh bạch và an toàn pháp lý của hoạt động đấu giá tài sản tự nguyện.
So sánh mô hình tổ chức giám định tư pháp theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Úc

So sánh mô hình tổ chức giám định tư pháp theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Úc

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu cải cách tư pháp ngày càng cao, pháp luật về giám định tư pháp tại Việt Nam, dù đang từng bước hoàn thiện, nhưng vẫn bộc lộ những hạn chế. Nghiên cứu phân tích, tổng hợp, hệ thống và so sánh mô hình tổ chức giám định tư pháp theo pháp luật Úc và pháp luật Việt Nam nhằm làm rõ sự khác biệt giữa mô hình quản lý hành chính tập trung, chặt chẽ của Việt Nam so với cơ chế phân quyền, chuyên môn hóa cao, gắn với thị trường dịch vụ mở của Úc. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật về giám định tư pháp tại Việt Nam.
Đối thoại Biển lần thứ 15: Từ cam kết BBNJ đến hành động vì quản trị biển công bằng, hiệu quả

Đối thoại Biển lần thứ 15: Từ cam kết BBNJ đến hành động vì quản trị biển công bằng, hiệu quả

Ngày 18/9/2026, tại Hà Nội, Đối thoại Biển lần thứ 15 với chủ đề "Từ thỏa thuận đến hành động: Triển khai Hiệp định BBNJ vì quản trị biển công bằng, hiệu quả" diễn ra với sự tham dự của đại diện các cơ quan, tổ chức quốc tế, cơ quan Trung ương, các chuyên gia, nhà khoa học. Các đại biểu tập trung trao đổi về việc chuyển hóa các cam kết của Hiệp định về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển ở các vùng nằm ngoài quyền tài phán quốc gia (Hiệp định BBNJ) thành pháp luật, cơ chế hợp tác và hành động cụ thể ở cấp quốc gia, khu vực và quốc tế.
Kinh nghiệm áp dụng thông luật của Tòa án Trung tâm Tài chính quốc tế Dubai và khuyến nghị đối với Việt Nam

Kinh nghiệm áp dụng thông luật của Tòa án Trung tâm Tài chính quốc tế Dubai và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Nghiên cứu cho thấy, Tòa án thuộc Trung tâm Tài chính quốc tế Dubai là mô hình tài phán đặc thù, thiết kế nhằm giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại trong môi trường đầu tư quốc tế. Đặc điểm nổi bật của Tòa án thuộc Trung tâm Tài chính quốc tế Dubai là vận hành theo hệ thống thông luật, sử dụng tiếng Anh và tồn tại song song với hệ thống tư pháp chung của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Mô hình này thể hiện rõ cách kết hợp giữa luật thành văn, án lệ và các nguyên tắc thông luật trong hoạt động xét xử. So sánh với Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế năm 2025 của Việt Nam, có thể thấy, Việt Nam chưa xây dựng một khu tài phán thông luật hoàn chỉnh, mà mới tiếp nhận từng phần, một số kỹ thuật tố tụng và cơ chế chọn luật mang ảnh hưởng thông luật. Vì vậy, nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Tòa án thuộc Trung tâm Tài chính quốc tế Dubai giúp Việt Nam hoàn thiện quy tắc tố tụng, tăng tính dự đoán xét xử và nâng cao sức hút thể chế, nhưng cần vận dụng thận trọng, phù hợp với chủ quyền tư pháp và trật tự công.
Pháp luật một số quốc gia về trả lương bằng tài sản mã hóa và kinh nghiệm đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia về trả lương bằng tài sản mã hóa và kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ số và tài sản mã hóa đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đánh giá khả năng áp dụng loại tài sản này trong quan hệ lao động, đặc biệt, trong phương thức trả lương. Nghiên cứu phân tích, so sánh pháp luật của Trung Quốc, Hoa Kỳ, El Salvador và Việt Nam, từ đó, gợi mở một số kinh nghiệm đối với Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hài hòa giữa đổi mới công nghệ và bảo vệ người lao động trong kỷ nguyên số.
Bảo đảm các nguyên tắc của việc làm thỏa đáng trong điều kiện mới

Bảo đảm các nguyên tắc của việc làm thỏa đáng trong điều kiện mới

Trên cơ sở tham vấn ba bên (đại diện Chính phủ, người sử dụng lao động và người lao động từ 187 quốc gia thành viên ILO) và hai lần thảo luận tại Hội nghị Lao động Quốc tế, ngày 12/6/2026, ILO đã thông qua Công ước số 193 về việc làm thỏa đáng trong nền kinh tế nền tảng. Công ước số 193 được thông qua với 406/450 phiếu đồng thuận (hơn 90%).
Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật - Kinh nghiệm từ Trung Quốc và gợi mở đối với Việt Nam

Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật - Kinh nghiệm từ Trung Quốc và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút các nguồn lực xã hội vào thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Hoàn thiện cơ chế xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là yêu cầu đặt ra trong quá trình sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 nhằm huy động hiệu quả nguồn lực xã hội và đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW[I]. Trên cơ sở phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)[II] (dự thảo Luật) và tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc, nghiên cứu nhận diện những bất cập trong cơ chế xã hội hóa, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện.
Pháp luật về khai thác quỹ đất nhằm tạo vốn phát triển kết cấu hạ tầng giao thông - Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở đối với Việt Nam

Pháp luật về khai thác quỹ đất nhằm tạo vốn phát triển kết cấu hạ tầng giao thông - Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho hạ tầng giao thông tại Việt Nam vượt khả năng ngân sách, khai thác quỹ đất trở thành giải pháp quan trọng. Nghiên cứu phân tích, đánh giá cơ sở pháp lý và kinh nghiệm quốc tế về thu hồi giá trị gia tăng từ đất gắn với hạ tầng qua các mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD), tái điều chỉnh đất đai và kết hợp hạ tầng - bất động sản. Kết quả cho thấy, pháp luật Việt Nam còn hạn chế về cơ chế phân chia địa tô chênh lệch, tiêu chí vùng phụ cận và tính đồng bộ pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứ đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả khai thác quỹ đất phục vụ phát triển hạ tầng giao thông.
Xây dựng tài liệu tập huấn thiết thực trong công tác tổ chức thi hành pháp luật

Xây dựng tài liệu tập huấn thiết thực trong công tác tổ chức thi hành pháp luật

Trong khuôn khổ Dự án tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam giai đoạn II - Hợp phần hỗ trợ các cơ quan nhà nước (Dự án EU JULE II), chiều ngày 12/5, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam tổ chức cuộc họp kỹ thuật góp ý đối với dự thảo tài liệu tập huấn thử về công tác tổ chức thi hành pháp luật. Bà Nguyễn Thị Minh Phương, Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp và bà Nguyễn Thị Thanh Hải, Cố vấn trưởng Dự án EU JULE đồng chủ trì cuộc họp.
Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Tín ngưỡng và tôn giáo là yếu tố cấu thành cơ bản trong đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi cá nhân, gồm các lễ nghi truyền thống và tập tục. Từ góc độ pháp lý, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận là quyền cơ bản của con người được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của các quốc gia. Bài viết nghiên cứu, phân tích, so sánh khung pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một số quốc gia trong hệ thống dân luật và cách thức quản trị sự đa dạng tôn giáo của các quốc gia này. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và quản lý hoạt động của các tôn giáo tại Việt Nam nhằm hài hòa và thúc đẩy công bằng xã hội.
Pháp luật Đức về trợ giúp người chưa thành niên trong tố tụng hình sự - Một số kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam

Pháp luật Đức về trợ giúp người chưa thành niên trong tố tụng hình sự - Một số kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam

Trên thực tế, hệ thống tư pháp người chưa thành niên ở Liên minh châu Âu nói chung và ở Đức nói riêng đã phát triển mạng lưới dịch vụ xã hội chuyên trách, với sự tham gia của các nhà tâm lý học, bác sĩ tâm thần, trung gian hòa giải, nhân viên xã hội hoặc cán bộ quản chế. Tại Cộng hòa Liên bang Đức, nhiệm vụ này gọi là trợ giúp thanh thiếu niên trong tố tụng hình sự, do các chuyên gia thực hiện bằng cách cung cấp thông tin cho thẩm phán Tòa án thanh thiếu niên và hỗ trợ người chưa thành niên và gia đình họ trước, trong và sau quá trình tố tụng hình sự.
Quy định của Liên minh châu Âu về bảo vệ khách hàng trong thị trường tài sản mã hóa và đề xuất cho Việt Nam

Quy định của Liên minh châu Âu về bảo vệ khách hàng trong thị trường tài sản mã hóa và đề xuất cho Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa phát triển nhanh, tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với khách hàng, việc xây dựng cơ chế bảo vệ người tham gia trở nên cấp thiết. Bài viết phân tích Quy định chung về thị trường tài sản mã hóa (MiCA) của Liên minh châu Âu trong bảo vệ khách hàng thông qua các nghĩa vụ đối với tổ chức cung cấp dịch vụ và yêu cầu minh bạch thông tin, đặc biệt trong sách trắng, tạo nền tảng an toàn cho thị trường. Qua phân tích, bài viết nhận diện những hạn chế trong cơ chế hiện hành tại Việt Nam, từ đó, đề xuất hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và bảo vệ quyền lợi người tham gia, đồng thời, thúc đẩy sự phát triển an toàn, bền vững của thị trường tài sản mã hóa trong nước.
Cam kết xóa bỏ phân biệt đối xử trong lao động tại các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị cho Việt Nam

Cam kết xóa bỏ phân biệt đối xử trong lao động tại các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị cho Việt Nam

Tóm tắt: Thời gian qua, Việt Nam ký kết một số hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu, Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam - Vương quốc Anh và Bắc Ireland... Các hiệp định này đều đặt ra yêu cầu xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử trong lĩnh vực lao động thông qua thực thi đầy đủ nguyên tắc lao động cơ bản của Tổ chức Lao động Quốc tế. Mặc dù Việt Nam đã nội luật hóa nhiều cam kết quốc tế, tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế nhất định, có thể chưa đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực lao động quốc tế mà các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đặt ra. Từ thực tế đó, bài viết phân tích mức độ tương thích giữa pháp luật Việt Nam và các nguyên tắc của Tổ chức Lao động Quốc tế về không phân biệt đối xử, xác định những bất cập còn tồn tại, đồng thời, nghiên cứu kinh nghiệm một số quốc gia để đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế Việt Nam đã tham gia.
Bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng trong thương mại điện tử - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng trong thương mại điện tử - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ và trở thành trụ cột của nền kinh tế số, vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng đặt ra ngày càng cấp thiết, đặc biệt, sau khi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 có hiệu lực thi hành. Trên cơ sở phân tích các quy định hiện hành và so sánh, tham chiếu các chuẩn mực pháp lý tiêu biểu của Liên minh châu Âu, Singapore và Nhật Bản, bài viết đánh giá thực trạng, chỉ ra những hạn chế về tính minh bạch, cơ chế bảo vệ quyền riêng tư và trách nhiệm của doanh nghiệp trong xử lý dữ liệu cá nhân và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử, nhằm tăng cường hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định tình trạng việc làm của tài xế xe công nghệ theo Dự luật số 5 của Hội đồng bang California (2019), Đề xuất số 22 (2020) và khuyến nghị đối với Việt Nam

Xác định tình trạng việc làm của tài xế xe công nghệ theo Dự luật số 5 của Hội đồng bang California (2019), Đề xuất số 22 (2020) và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế chia sẻ, đặc biệt, dưới hình thức thị trường lao động nền tảng còn gọi là kinh tế việc làm tự do, đặt ra nhiều thách thức pháp lý trên phạm vi toàn cầu. Trong đó, xác định tình trạng việc làm của người lao động trong nền kinh tế này là vấn đề trung tâm, còn nhiều tranh luận cả về lý luận và thực tiễn. Nhóm lao động phổ biến và điển hình nhất cần được xác định tình trạng việc làm là tài xế xe công nghệ. Năm 2019, Hội đồng bang California, Hoa Kỳ ban hành Dự luật số 5 nhằm giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, chỉ sau một năm, Đề xuất số 22 đã được thông qua, loại trừ tài xế xe công nghệ ra khỏi phạm vi áp dụng của AB 5 và xác lập họ như một dạng lao động thứ ba với cơ chế điều chỉnh riêng. Bài viết phân tích nội dung của AB 5 và Proposition 22, từ đó, đề xuất một số khuyến nghị, chính sách đối với Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: