Thứ bảy 24/10/2026 00:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “tinh, gọn, mạnh”, tiến lên hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2024) và 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2024 là dịp để chúng ta ôn lại lịch sử hào hùng của dân tộc, bản chất, truyền thống tốt đẹp, những chiến công oanh liệt của Quân đội và nhân dân ta; qua đó, khơi dậy niềm tự hào, tự tôn dân tộc, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý chí tự lực, tự cường, vượt qua mọi khó khăn, thử thách.

1. Quân đội nhân dân Việt Nam - 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành

1.1. Lịch sử, ý nghĩa Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam

Ngay từ khi ra đời (ngày 03/02/1930), Đảng ta đã khẳng định con đường đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc là dùng bạo lực cách mạng để giành chính quyền và yêu cầu phải “tổ chức ra quân đội công nông”[1] để làm nòng cốt cho toàn dân tiến hành đấu tranh cách mạng trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên. Luận cương chính trị của Đảng (tháng 10/1930) xác định nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng tư sản dân quyền, trong đó chỉ rõ phải: “Lập quân đội công nông”[2].

Trong phong trào cách mạng 1930 - 1931, đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh, từ lực lượng khởi nghĩa của công nông, Đội tự vệ công nông (Tự vệ Đỏ) đã ra đời. Đó là tiền đề đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Tiếp theo đó, hàng loạt tổ chức vũ trang lần lượt được thành lập như: Đội du kích Bắc Sơn (1940), các đội du kích ở Nam Kỳ (1940), Cứu quốc quân (1941)…

Ngày 22/12/1944, tại khu rừng giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm Nà Sang, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập theo Chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh. Đồng chí Võ Nguyên Giáp được Trung ương Đảng và Lãnh tụ Hồ Chí Minh ủy nhiệm tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy, tuyên bố thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, gồm 34 người, biên chế thành 03 tiểu đội do đồng chí Hoàng Sâm làm Đội trưởng, đồng chí Xích Thắng làm Chính trị viên, có chi bộ Đảng lãnh đạo. Từ đó, ngày 22/12/1944 được lấy làm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tháng 4/1945, Hội nghị quân sự Cách mạng Bắc Kỳ của Đảng đã quyết định hợp nhất các tổ chức vũ trang cách mạng trên cả nước thành Việt Nam giải phóng quân. Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Việt Nam giải phóng quân đã cùng lực lượng vũ trang các địa phương và Nhân dân tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn quốc. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam giải phóng quân được đổi tên thành Vệ quốc đoàn, rồi Quân đội quốc gia Việt Nam (1946), từ năm 1950 được gọi là Quân đội nhân dân Việt Nam.

1.2. Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng vũ trang phát triển mạnh mẽ, cùng Nhân dân ta nhất tề đứng lên, quyết chiến đấu với quân xâm lược. Từ năm 1945 - 1975, Quân đội ta đã liên tiếp giành thắng lợi trong 02 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc thắng lợi, các đơn vị Quân đội đóng quân trên các vùng mới được giải phóng đã phối hợp với Ủy ban Quân quản các cấp khẩn trương xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng cơ sở, xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang địa phương; tổ chức cải tạo binh lính cảnh sát của bộ máy chính quyền cũ, trấn áp các phần tử và tổ chức phản động… Đồng thời, các đơn vị đã tích cực tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế, tham gia xây dựng nhiều công trình trọng điểm trên mọi miền đất nước.

Sau đại thắng mùa Xuân 1975, Quân đội ta lại phải tiến hành cuộc chiến tranh chính nghĩa bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và cùng quân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt. Trước hành động xâm lược của quân Pôn Pốt và đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, Quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia đã thực hiện cuộc phản công, tiến công mạnh mẽ, đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt, giải phóng thủ đô Phnôm Pênh vào ngày 07/01/1979, tiến tới giải phóng toàn bộ đất nước Campuchia. Trong 10 năm (1979 - 1989), Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam đã phát huy tinh thần quốc tế trong sáng, cùng quân dân Campuchia truy quét tàn quân Pôn Pốt, củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang, hồi sinh đất nước.

Cũng đầu năm 1979, quân và dân ta phải chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc. Cuộc chiến đấu diễn ra trong thời gian ngắn (17/02 - 06/3/1979), nhưng trên thực tế, tình hình biên giới phía Bắc căng thẳng kéo dài đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX. Trong cuộc chiến đấu này, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, lãnh thổ của Tổ quốc.

Thắng lợi của quân và dân ta trong chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc có ý nghĩa lịch sử rất to lớn, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, tạo môi trường hòa bình để phát triển đất nước.

Trong những năm 1980 - 1986, Quân đội ta đã đẩy mạnh công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, giáo dục - đào tạo, xây dựng nền nếp chính quy; tích cực tham gia xây dựng kinh tế, xã hội. Toàn quân đã tổ chức hàng trăm cuộc diễn tập tác chiến hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn với nhiều binh khí kỹ thuật hiện đại trên các địa bàn chiến lược, góp phần rèn luyện, nâng cao khả năng tổ chức chỉ huy của cán bộ và trình độ sẵn sàng chiến đấu của bộ đội.

Từ sau Đại hội lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đến nay, Quân đội cùng toàn dân tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Quân đội luôn thực hiện tốt chức năng đội quân sẵn sàng chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất, đóng góp xứng đáng vào thành tựu chung của đất nước.

1.3. Truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam

Trải qua 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành, Quân đội ta đã xây đắp nên truyền thống rất vẻ vang, được khái quát cô đọng trong lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”[3]. Truyền thống ấy được biểu hiện sinh động, cụ thể trên 09 nội dung chủ yếu: (i) trung thành vô hạn với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; (ii) quyết chiến, quyết thắng, biết đánh và biết thắng; (iii) gắn bó máu thịt với Nhân dân, quân với dân một ý chí; (iv) đoàn kết nội bộ; cán bộ, chiến sĩ bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, thương yêu, giúp đỡ nhau, trên dưới đồng lòng, thống nhất ý chí và hành động; (v) kỷ luật tự giác, nghiêm minh; (vi) độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, cần, kiệm xây dựng Quân đội, xây dựng đất nước, tôn trọng và bảo vệ của công; (vii) lối sống trong sạch, lành mạnh, có văn hóa, trung thực, khiêm tốn, giản dị, lạc quan; (viii) luôn luôn nêu cao tinh thần ham học hỏi, cầu tiến bộ, ứng xử chuẩn mực, tinh tế; (ix) đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung, chí nghĩa, chí tình.

2. Quốc phòng toàn dân là nền quốc phòng mang tính chất “vì dân, do dân, của dân”

Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán khẳng định, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, trong đó, lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt. Nền quốc phòng của Việt Nam là nền quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ và mang bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Việt Nam xây dựng sức mạnh quân sự, quốc phòng dựa trên sức mạnh tổng hợp của cả nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với sức mạnh của lực lượng và thế trận an ninh nhân dân. Đảng, Nhà nước ta chủ trương phát triển kinh tế, xã hội gắn với tăng cường khả năng quốc phòng, an ninh, phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng, an ninh với hoạt động đối ngoại thành một thể thống nhất để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, nhất là các cuộc khởi nghĩa, các cuộc chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc do Nhân dân ta tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bất kỳ giai đoạn nào, phải đương đầu với kẻ thù hung bạo đến đâu, nếu cổ vũ, động viên, quy tụ được sức mạnh toàn dân thì dân tộc ta đều giành thắng lợi vĩ đại, bảo đảm sự bền vững của độc lập, tự do, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.

Xuất phát từ vai trò của công tác tuyên truyền, cổ vũ, động viên toàn dân tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, đồng thời thể theo nguyện vọng của quân và dân cả nước, ngày 17/10/1989, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VI đã ra Chỉ thị số 381-CT/TW quyết định lấy ngày 22/12 - Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam là Ngày hội Quốc phòng toàn dân. Ngày 22/12/1989, lần đầu Ngày hội Quốc phòng toàn dân được tổ chức tại tất cả các địa phương trong cả nước. Từ đó đến nay, ngày 22/12 đã trở thành ngày hội lớn của toàn dân tộc với các hoạt động hướng vào chủ đề quốc phòng và Quân đội.

Lấy ngày 22/12 là Ngày hội Quốc phòng toàn dân là sự kế thừa truyền thống toàn dân đánh giặc giữ nước của dân tộc ta qua các giai đoạn lịch sử; là chủ trương lớn, quan trọng của Đảng, Nhà nước; tiếp tục khẳng định quan điểm toàn dân tham gia xây dựng, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, trong đó, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Đây thực sự là ngày hội của truyền thống dựng nước và giữ nước, ngày hội tôn vinh và nhân lên hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, một nét độc đáo của văn hóa dân tộc Việt Nam trong thời đại mới. Ngoài ra, Ngày hội Quốc phòng toàn dân còn là dịp để giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; từ đó nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn dân trong tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh gắn với thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, đồng thời, cổ vũ, động viên toàn dân chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh trên từng địa phương, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hùng mạnh trong tình hình mới.

3. Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Tình hình quốc tế trong những năm tới dự báo sẽ có nhiều biến động khó lường. Nhiều điểm nóng, xung đột tiếp tục tồn tại, có nguy cơ lan rộng. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc. Sự xuất hiện của các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự hiện đại, nhiều hình thái chiến tranh mới làm thay đổi môi trường chiến lược. Các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gay gắt, tác động tiêu cực đến sự tồn tại, phát triển bền vững của các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Bên cạnh đó, ở trong nước, mặc dù đạt được nhiều thành tựu về kinh tế - xã hội, kinh tế vĩ mô bảo đảm ổn định nhưng chưa thật sự vững chắc; bốn nguy cơ Đảng ta xác định vẫn còn hiện hữu; những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tình trạng tham nhũng chưa được đẩy lùi; sự xuống cấp của một số giá trị văn hóa và đạo đức, những mâu thuẫn, bức xúc trong xã hội còn diễn biến phức tạp; các thế lực thù địch, phản động tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội với âm mưu, thủ đoạn ngày càng công khai, trực diện và tinh vi hơn.

Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh gọn, mạnh mẽ, hiện đại, đủ sức đáp ứng mọi yêu cầu bảo vệ đất nước trong mọi tình huống trở nên vô cùng quan trọng. Để làm được điều này, cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, phát huy những bài học kinh nghiệm quý báu trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc, trong lịch sử xây dựng, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam, chúng ta tiếp tục giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân và sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân; khơi dậy và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, ý chí tự lực, tự cường, truyền thống văn hóa tốt đẹp, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, tăng cường xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và “thế trận lòng dân” vững chắc. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn xã hội đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng; chú trọng tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về đối tác, đối tượng của cách mạng Việt Nam, đường lối, quan điểm của Đảng, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, bồi dưỡng ý thức trách nhiệm, tinh thần cảnh giác cách mạng trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

Thứ ba, chú trọng xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng, nâng cao tính bền vững và khả năng huy động đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng trong các tình huống. Xây dựng khu vực phòng thủ các cấp vững chắc, tạo thế bố trí phòng thủ liên hoàn trên từng địa bàn và phạm vi cả nước. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại theo đúng quan điểm chỉ đạo: “Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”.

Thứ tư, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Điều chỉnh tổ chức Quân đội theo hướng tinh, gọn, mạnh, gắn với bố trí lại lực lượng và nâng cao chất lượng thu hút, đào tạo nhân tài, nguồn nhân lực chất lượng cao trong Quân đội. Giữ vững và phát huy truyền thống vẻ vang của Quân đội, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” và nghệ thuật quân sự Việt Nam; thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”; sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, ứng phó các mối đe dọa an ninh phi truyền thống; nâng cao năng lực phòng, chống chiến tranh không gian mạng, chiến tranh thông tin. Đồng thời, quan tâm, chăm lo thực hiện tốt chính sách đối với Quân đội và chính sách hậu phương Quân đội.

Thứ năm, tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo tinh thần Kết luận số 53-KL/TW ngày 28/4/2023 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 2662-NQ/QUTW ngày 26/2/2024 của Quân ủy Trung ương về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Quán triệt và thực hiện tốt phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả” trong hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, kiên định chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam trong quan hệ quốc tế (không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế). Từ đó, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, tăng cường lòng tin chiến lược, giữ vững môi trường hòa bình, hợp tác, cùng phát triển, góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”.

Thùy Dung

Ảnh: Internet

(Bài viết sử dụng Đề cương tuyên truyền Kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2024) và 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2024) theo Hướng dẫn số 160-HD/BTGTW ngày 25/7/2024 của Ban Tuyên giáo Trung ương).


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 4.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Sđd, tr. 95.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 14, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 435.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Mở rộng chính sách phát triển nhà ở cho thuê đáp ứng nhu cầu của người dân

Mở rộng chính sách phát triển nhà ở cho thuê đáp ứng nhu cầu của người dân

Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) hướng tới hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển các loại hình nhà ở, trong đó bổ sung chương riêng về nhà ở cho thuê, đẩy mạnh phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng cường kiểm soát việc thụ hưởng chính sách nhà ở. Những nội dung này được kỳ vọng góp phần giải quyết nhu cầu chỗ ở của người dân, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực nhà ở.
Xây dựng và thực thi pháp luật là "đột phá của đột phá" trong hoàn thiện hệ sinh thái thể chế phát triển đất nước

Xây dựng và thực thi pháp luật là "đột phá của đột phá" trong hoàn thiện hệ sinh thái thể chế phát triển đất nước

Đến năm 2030, Việt Nam có hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi với cơ chế tổ chức thực hiện nghiêm minh, nhất quán, bảo đảm cơ sở pháp lý cho hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính quyền 03 cấp, mở đường cho kiến tạo phát triển.
Bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp khi mở rộng nguồn vốn cho công ty luật

Bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp khi mở rộng nguồn vốn cho công ty luật

Trong các phiên thảo luận tổ tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, trao đổi về dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật), một số đại biểu cho rằng, việc mở rộng khả năng huy động vốn có thể tạo điều kiện phát triển các tổ chức hành nghề luật sư có quy mô lớn, chuyên nghiệp, nhưng cần có cơ chế kiểm soát phù hợp để bảo vệ tính độc lập nghề nghiệp, quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, đồng thời bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Hoàn thiện quy định về miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư đối với trợ giúp viên pháp lý

Hoàn thiện quy định về miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư đối với trợ giúp viên pháp lý

Trong chương trình làm việc tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, góp ý dự án Luật Luật sư (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội đề nghị tiếp tục rà soát quy định về miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư đối với trợ giúp viên pháp lý. Theo đó, ý kiến tập trung vào việc xác định tiêu chí miễn, giảm phù hợp với trình độ chuyên môn, quá trình công tác và kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời bảo đảm tính thống nhất giữa các quy định pháp luật, tạo điều kiện phát huy nguồn nhân lực có kinh nghiệm để thực hiện dịch vụ pháp lý.
Nâng tỷ lệ đặt trước, bổ sung chế tài đủ mạnh đối với hành vi “bỏ cọc” trong đấu giá tài sản

Nâng tỷ lệ đặt trước, bổ sung chế tài đủ mạnh đối với hành vi “bỏ cọc” trong đấu giá tài sản

Đây là những điểm mới đáng chú ý trong phần trình bày về Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) tại phiên họp sáng ngày 19/10, Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI. Việc điều chỉnh là cần thiết nhằm tạo lập chế tài đủ mạnh để ngăn chặn triệt để tình trạng “cò mồi”, trả giá cao rồi “bỏ cọc”, gây nhiễu loạn thị trường.
Dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi): Hướng tới môi trường gia đình an toàn cho trẻ em

Dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi): Hướng tới môi trường gia đình an toàn cho trẻ em

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, sáng 19/10, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình tóm tắt về dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi); Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu trình bày báo cáo thẩm tra tóm tắt về dự án Luật.
Dự án Luật Luật sư (sửa đổi): Phát triển thị trường dịch vụ pháp lý minh bạch

Dự án Luật Luật sư (sửa đổi): Phát triển thị trường dịch vụ pháp lý minh bạch

Trong khuôn khổ Chương trình Kỳ họp thứ 2, sáng ngày 19/10, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày tờ trình về dự án Luật Luật sư (sửa đổi) với nhiều nội dung quan trọng, trong đó, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính gắn với chuyển đổi số, tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp trong việc tiếp cận dịch vụ pháp lý.
Nâng cao chất lượng triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Nâng cao chất lượng triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chiều ngày 16/10, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng chủ trì cuộc họp giao ban Ban Chỉ đạo Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Tư pháp phiên họp thứ XVIII. Cùng dự có Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh và Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy Bộ Nguyễn Quang Thái.
Phát huy vai trò công chứng trong bảo đảm an toàn pháp lý thời kỳ số

Phát huy vai trò công chứng trong bảo đảm an toàn pháp lý thời kỳ số

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc phát huy vai trò của công chứng trong phòng ngừa tranh chấp, bảo vệ quyền tài sản và bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch là yêu cầu quan trọng, góp phần xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và trợ lý ảo trong phổ biến, giáo dục pháp luật

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và trợ lý ảo trong phổ biến, giáo dục pháp luật

Ngày 14/10, Bộ Tư pháp tổ chức họp Tổ soạn thảo mở rộng xây dựng dự thảo Nghị định quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (dự thảo Nghị định). Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc, Tổ trưởng Tổ soạn thảo chủ trì cuộc họp.
Bộ Tư pháp tăng cường phối hợp triển khai Dự án EU JULE II

Bộ Tư pháp tăng cường phối hợp triển khai Dự án EU JULE II

Trong 02 ngày 13, 14/10/2026, tại thành phố Hải Phòng, Bộ Tư pháp và Ban Quản lý Dự án chuyên trách, phối hợp với Phái đoàn Liên minh châu Âu (EU) tại Việt Nam, Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp quốc (UNICEF) tại Việt Nam tổ chức Hội nghị triển khai các hoạt động của Dự án “Tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam - Giai đoạn II” (EU JULE II) năm 2026. Hội nghị là dịp rà soát tiến độ thực hiện Kế hoạch hoạt động năm 2026, chia sẻ kinh nghiệm, tháo gỡ khó khăn trong tổ chức thực hiện và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị tham gia Dự án EU JULE II.
Để người dân, doanh nghiệp thuận lợi trong tiếp cận, sử dụng dịch vụ công trực tuyến

Để người dân, doanh nghiệp thuận lợi trong tiếp cận, sử dụng dịch vụ công trực tuyến

Ngày 30/9/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 13/2026/TT-BTP hướng dẫn thi hành một số nội dung về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia (Thông tư số 13/2026/TT-BTP). Thông tư góp phần hỗ trợ, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, người dân tiếp cận, thực hiện thủ tục hành chính, sử dụng dịch vụ công trực tuyến.
Nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở trong tình hình mới

Hiện, Bộ Tư pháp đang tập trung xây dựng dự thảo Nghị định hướng dẫn một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở. Đây là cơ sở để rà soát, phân định, xử lý các nội dung có liên quan tại Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT-CP-UBTWMTTQVN ngày 18/11/2014 của Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn phối hợp thực hiện một số quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở, bảo đảm phù hợp với Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026, yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy, chuyển đổi số, qua đó tạo sự ổn định, minh bạch của hệ thống pháp luật và thuận lợi cho cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân và hòa giải viên ở cơ sở trong quá trình tra cứu, thực hiện, nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở trong tình hình mới.
Phê duyệt “Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật”

Phê duyệt “Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật”

“Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật” được phê duyệt tại Quyết định số 1949/QĐ-TTg ngày 08/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ (Đề án) nhằm mục tiêu xây dựng hạ tầng dữ liệu pháp luật quốc gia thống nhất, dùng chung, tạo nền tảng ứng dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, góp phần đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, hướng tới xây dựng nền quản trị pháp luật thông minh.
Hoàn thiện kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp

Hoàn thiện kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp

Chiều ngày 09/10, Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp) Nguyễn Quốc Hoàn và Phó Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp) Đỗ Thị Thanh Hương đồng chủ trì Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Báo cáo kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp (dự thảo Báo cáo). Tham dự Hội thảo có đại diện một số cơ quan có liên quan, các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp cùng các chuyên gia, nhà khoa học.

Theo dõi chúng tôi trên: