Chủ nhật 16/08/2026 05:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết vụ án hình sự đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới

Tóm tắt: Bài viết này phân tích thực trạng và một số hạn chế trong việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết vụ án hình sự đã được sửa đổi, bổ sung và quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, từ đó, đề xuất một số giải pháp khắc phục những hạn chế đó.

Tóm tắt: Bài viết này phân tích thực trạng và một số hạn chế trong việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết vụ án hình sự đã được sửa đổi, bổ sung và quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, từ đó, đề xuất một số giải pháp khắc phục những hạn chế đó.

Abstract: This article analyzes the current situation and some limitations in the application of summary procedures in the settlement of criminal cases which have been amended, supplemented and prescribed in the Criminal Procedure Code of 2015, since then, proposes some solutions to overcome those limitations.

1. Dẫn nhập

Thủ tục rút gọn (TTRG) là một thủ tục đặc biệt được quy định trong tố tụng hình sự (TTHS) để rút ngắn về thời hạn tố tụng, giản lược một số khâu, một số thủ tục TTHS nhất định nhưng vẫn bảo đảm những nguyên tắc cơ bản của TTHS, do cơ quan có thẩm quyền áp dụng đối với người bị buộc tội nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng và bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng.

Quán triệt Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã được ban hành, kịp thời khắc phục cơ bản những bất cập trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, trong đó, TTRG được hoàn thiện nhằm mục đích:

- Kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và bảo vệ tốt hơn nữa quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội.

- Giúp các cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) có thẩm quyền giải quyết nhanh chóng, kịp thời nhiều vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch của người phạm tội rõ ràng.

- Giúp cho cơ quan THTT không lãng phí thời gian, nhân lực và vật lực.

- Giúp cơ quan có thẩm quyền giảm bớt được khó khăn trong việc tổ chức tạm giữ, tạm giam.

2. Thực trạng và một số hạn chế trong quá trình áp dụng thủ tục rút gọn

2.1. Thực trạng áp dụng thủ tục rút gọn

Từ đầu năm 2020, đất nước ta đã trải qua nhiều đợt bùng phát dịch bệnh Covid-19 trên phạm vi toàn quốc. Để phòng, chống dịch bệnh, Nhà nước ta phải thực hiện nhiều biện pháp và tăng cường nhiều lực lượng chống dịch. Bên cạnh sự đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân và toàn nhân dân trong việc chấp hành giãn cách xã hội để chống dịch, nhiều đối tượng cũng lợi dụng tình hình này để tăng cường hoạt động tội phạm như: Tội phạm ma túy; chống người thi hành công vụ; buôn lậu, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới; lừa đảo; đầu cơ các mặt hàng thiết yếu, y tế, lương thực, thực phẩm để trục lợi; đưa tin không đúng sự thật trên không gian mạng về dịch bệnh; tội phạm liên quan đến chiếm đoạt tài sản (giết người, cướp tài sản, cướp giật, cưỡng đoạt, lừa đảo, trộm cắp tài sản...) diễn biến phức tạp, nhất là liên quan đến nhóm đối tượng nghiện ma túy, “tín dụng đen”, cờ bạc, nợ nần[1]... Đặc biệt, trong thời gian giãn cách xã hội và làm việc trực tuyến, tội phạm trên không gian mạng, nhất là đánh bạc, lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã gia tăng đáng kể; một số hành vi như trốn, chống đối, không chấp hành quy định cách ly, giãn cách xã hội, không khai báo, khai báo y tế gian dối... có dấu hiệu tội phạm, vi phạm pháp luật cần được xác minh, điều tra và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Đứng trước diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm, ngày 06/4/2020, Bộ Công an đã ra Công điện số 03/CĐ-BCA-V01 gửi Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ và Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc tăng cường phòng ngừa, xử lý tội phạm, vi phạm pháp luật liên quan đến phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Trong đó, cơ quan cảnh sát điều tra các cấp phối hợp với Viện kiểm sát, Tòa án cùng cấp lựa chọn một số vụ án điểm thực hiện thủ tục rút gọn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự để kịp thời đưa ra truy tố, xét xử nghiêm minh trước pháp luật nhằm răn đe vi phạm.

Ngày 30/3/2020, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có Công văn số 45/TANDTC-PC về việc xét xử tội phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh Covid-19, trong đó, yêu cầu Tòa án các cấp chủ động phối hợp với cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cùng cấp để áp dụng thủ tục rút gọn đối với vụ án có đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định tại Điều 456 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Công an, Công an các đơn vị, địa phương đã chủ động phối hợp với Viện kiểm sát, Tòa án nhằm tăng cường áp dụng TTRG để điều tra vụ án nói chung và liên quan đến vi phạm phòng, chống dịch Covid-19 nói riêng, qua đó, nhiều vụ án đã được nhanh chóng điều tra, xử lý, bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật. Chẳng hạn: Vụ Đào Xuân Anh chống người thi hành công vụ ở huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh - từ khi xảy ra vụ việc đến khi đưa ra xét xử công khai là 06 ngày[2]; vụ Phan Văn Thống chống người thi hành công vụ ở huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên - từ khi xảy ra vụ việc đến ngày mở phiên tòa xét xử là 05 ngày; vụ Phạm Văn Hiếu chống người thi hành công vụ ở huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên được giải quyết trong 06 ngày; vụ Trần Minh Luận chống người thi hành công vụ ở huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên được giải quyết trong 10 ngày; vụ Nguyễn Tấn Thạch chống người thi hành công vụ ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên được giải quyết trong 14 ngày[3]; vụ Ninh Văn Đức chống người thi hành công vụ ở quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội được giải quyết trong 24 ngày[4]…

Qua các vụ án đã được áp dụng TTRG cho thấy: Các cơ quan THTT đã nỗ lực khắc phục những khó khăn trong điều kiện phòng, chống dịch bệnh Covid-19 để tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và áp dụng TTRG nói riêng, từ đó, đã đẩy nhanh tiến độ xử lý vụ án hình sự, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của đất nước; các vụ án áp dụng TTRG đã bảo đảm quy định của pháp luật.

2.2. Một số hạn chế trong quá trình áp dụng thủ tục rút gọn

Bên cạnh kết quả đã đạt được, việc áp dụng TTRG vẫn còn một số hạn chế nhất định đó là: Quy định của pháp luật vẫn còn chung chung gây khó khăn cho cơ quan và người THTT khi áp dụng. Mặc dù tên gọi là “thủ tục rút gọn”, tuy nhiên, trừ thời gian rút gọn còn hầu hết các thủ tục tố tụng hiện nay vẫn áp dụng theo thủ tục chung; số vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn không nhiều[5]; sự phối kết hợp giữa các cơ quan THTT đôi lúc chưa nhịp nhàng…

Các hạn chế trong việc áp dụng TTRG xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: (i) Pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể để điều tra, truy tố, xét xử theo TTRG; (ii) Một bộ phận cơ quan và người THTT nhận thức chưa đầy đủ về mục đích và ý nghĩa việc quy định TTRG trong Bộ luật Tố tụng hình sự nên có tâm lý ngại áp dụng TTRG; (iii) Các hoạt động bổ trợ cho quá trình giải quyết vụ án chưa được phối hợp chặt chẽ; (iv) Chưa có quy chế phối hợp giữa Bộ Công an, Viện kiểm sát, Tòa án về áp dụng TTRG.

3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục rút gọn trong thời gian tới

Để TTRG có thể áp dụng rộng rãi, phổ biến hơn nữa trong thời gian tới, tác giả đề xuất một số giải pháp sau:

Một là, cần có hướng dẫn cụ thể hơn về áp dụng TTRG. Thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam để điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là 20 ngày, do đó, nếu các thủ tục tố tụng diễn ra đồng bộ, khoa học thì việc kết thúc điều tra trong vòng 20 ngày không gặp nhiều khó khăn (thực tế như vụ án đã nêu ở trên thì từ khi vụ án xảy ra đến khi Viện kiểm sát truy tố là 03 ngày, Viện kiểm sát truy tố và Tòa án quyết định đưa ra xét xử trong cùng 01 ngày, 02 ngày sau đưa ra xét xử công khai, tổng thời gian giải quyết vụ án gói gọn trong 06 ngày). Tuy nhiên, trên thực tế, khi tiến hành thủ tục tố tụng để thu thập chứng cứ lại gặp rất nhiều khó khăn và tốn nhiều thời gian, ví dụ như việc chờ kết quả giám định tài sản nhanh nhất cũng một tuần, có khi kéo dài cả tháng; việc xác minh hoặc chờ kết quả trả lời tiền án, tiền sự của bị can nếu là người trong địa phương thì trong tuần, nhưng nếu là người địa phương khác thì mất cả tháng hoặc lâu hơn.

Hai là, cần rà soát các tội được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xác định cụ thể các tội danh có thể áp dụng TTRG, nhằm kịp thời đấu tranh với các loại tội phạm. Công văn số 45/TANDTC-PC ngày 30/3/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc xét xử tội phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh Covid-19 xác định 09 tội danh có thể áp dụng TTRG, đó là: Tội làm nhục người khác (Điều 155); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174); Tội buôn lậu (Điều 188); Tội đầu cơ (Điều 196); Tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm cho người (Điều 240); Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 288); Tội vi phạm quy định về an toàn ở nơi đông người (Điều 295); Tội chống người thi hành công vụ (Điều 330); Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 360). Tuy nhiên, do việc thu thập tài liệu chứng cứ và chứng minh tội phạm rất phức tạp và cần nhiều thời gian nên trong 09 tội danh ở trên, cho đến hiện nay, các cơ quan THTT mới chỉ áp dụng TTRG cho tội chống người thi hành công vụ. Việc xác định các tội danh có thể áp dụng TTRG là cố gắng rất lớn của cơ quan THTT trung ương. Tuy nhiên, để có thể áp dụng TTRG một cách rộng rãi và phổ biến hơn, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan ban, ngành liên quan cần phối hợp rà soát một cách toàn diện các tội được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xác định tội phạm cụ thể có thể áp dụng TTRG.

Ba là, cần sớm xây dựng quy chế phối hợp giữa Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan hữu quan trong việc áp dụng TTRG. Mặc dù, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định thẩm quyền áp dụng cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án ở các giai đoạn tố tụng điều tra, truy tố, xét xử. Tuy nhiên, do tính chất phức tạp của giải quyết vụ án, thời gian tố tụng rất ngắn và các thủ tục tố tụng phức tạp trong thu thập chứng cứ, nên thực tế muốn xét xử một vụ án theo TTRG, trước tiên phải xuất phát từ cơ quan điều tra, rồi đến sự kiểm sát các hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát, sau đó mới đến Tòa án xét xử. Hơn nữa, đây là một thủ tục đặc biệt nên cần có quy chế phối hợp giữa Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan ban, ngành liên quan. Từ đó, có sự thống nhất hướng dẫn các thủ tục từ khi Cơ quan điều tra áp dụng cho đến khi tổ chức xét xử, từ đó làm cho TTRG phổ biến hơn.

Bốn là, tăng cường điều tra viên, cán bộ điều tra cho Cơ quan Cảnh sát điều tra công an cấp huyện. Thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/ĐUCA ngày 26/6/2017 của Đảng ủy Công an Trung ương về kiện toàn tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, công an các địa phương đã từng bước tăng cường kiện toàn cho lực lượng công an cấp huyện, công an cấp xã. Tuy nhiên, tình hình tội phạm ngày càng gia tăng nên số lượng vụ án của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an cấp huyện cũng tăng lên. Thực tế cho thấy, Điều tra viên, cán bộ điều tra vừa thụ lý vụ án theo TTRG, vừa tiến hành điều tra các vụ án khác, bên cạnh đó còn phải thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn khác của đơn vị, trong khi điều tra vụ án theo TTRG với thời gian gói gọn trong 20 ngày, điều tra viên, cán bộ điều tra cần phải chuyên tâm, khẩn trương tiến hành các hoạt động tố tụng. Do đó, việc Cơ quan Cảnh sát điều tra công an cấp huyện được tăng cường điều tra viên, cán bộ điều tra sẽ giảm áp lực điều tra án, từ đó điều tra viên, cán bộ điều tra mới có thể chuyên tâm cho điều tra vụ án theo TTRG.

Năm là, lãnh đạo cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án cần chỉ đạo các bộ phận chức năng trong báo cáo tháng, báo cáo quý, báo cáo năm cần xây dựng mục về công tác giải quyết vụ án theo TTRG, trong đó, nhận xét rõ về kết quả đạt được, chưa đạt được, nguyên nhân của việc chưa hoặc ít áp dụng TTRG. Đây chính là một hình thức kiểm tra, giám sát cụ thể nhất trong việc giải quyết các vụ án theo TTRG, qua đó sẽ kịp thời phát hiện những khó khăn, hạn chế trong quá trình giải quyết vụ án, từ đó có giải pháp cụ thể để khắc phục, và áp dụng TTRG phổ biến hơn. Một hình thức khác mà các cơ quan THTT cũng nên nghiên cứu triển khai áp dụng là: “Cơ quan có thẩm quyền hàng năm nên biên tập và xuất bản tuyển tập những vụ án đã áp dụng TTRG trên phạm vi cả nước để điều tra viên, cán bộ điều tra và những người THTT khác nghiên cứu, học hỏi và biết vận dụng”[6], đây là cách làm rất đơn giản vừa là tài liệu nghiên cứu vận dụng, vừa là cách tuyên truyền, phổ biến pháp luật hiệu quả.

Sáu là, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án cần phải xây dựng những tiêu chí liên quan đến số vụ áp dụng, số vụ không áp dụng TTRG để đưa vào tiêu chí xét thi đua hàng năm của mỗi cơ quan, đơn vị.

Có thể nhận thấy, qua thời gian áp dụng TTRG theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 vào quá trình giải quyết vụ án hình sự đã chứng minh tính ưu việt của TTRG như: Thời gian rút ngắn, thủ tục thuận lợi hơn... Tuy nhiên, bên cạnh những ưu việt đó, thì TTRG cũng còn những hạn chế nhất định khi áp dụng trong thực tiễn. Do vậy, trong thời gian tới, để TTRG có thể áp dụng một cách rộng rãi, đáp ứng yêu cầu của quá trình cải cách tư pháp thì việc khắc phục những hạn chế nêu trên là yêu cầu tất yếu.

Bảy là, nâng cao nhận thức của điều tra viên, cán bộ điều tra và những người THTT khác. Thực tế, còn một số điều tra viên, cán bộ điều tra cho rằng, việc áp dụng TTRG luôn bị sức ép do thời gian điều tra ngắn, trong khi các thủ tục tố tụng cũng tiến hành gần như vụ án được áp dụng theo thủ tục chung; trong thực tế, việc không áp dụng TTRG cũng không sao, vì có rất nhiều lý do để không áp dụng như vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, vụ án rơi vào ngày nghỉ lễ... nên cứ giải quyết vụ án theo thủ tục chung để có thời gian điều tra vụ án dài hơn. Cũng có ý kiến cho rằng, thời gian điều tra vụ án theo thủ tục chung dài như thế vẫn còn có trường hợp oan sai xảy ra, trong khi thời gian điều tra vụ án theo TTRG quá ngắn nên có thể bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội.

TS. Bùi Đức Hứa
Đại học Cảnh sát nhân dân


[1]. Công điện số 03/CĐ-BCA-V01 ngày 06/4/2020, Bộ Công an gửi Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ và Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc tăng cường phòng ngừa, xử lý tội phạm, vi phạm pháp luật liên quan phòng, chống dịch bệnh Covid-19.

[2]. http://www.vksquangninh.gov.vn/tin-ho-t-d-ng-xd-nganh/cac-doan-th/3195-vien-kiem-sat-nhan-dan-huyen-tien-yen-phoi-hop-xet-xu-luu-dong-so-hoa-ho-so-truyen-hinh-truc-tuyen-vu-an-chong-nguoi-thi-hanh-cong-vu-tai-chot-kiem-soat-dich-covid-19.

[3]. https://vkspy.gov.vn/vksnd-tinh-phu-yen—chu-dong-phoi-hop-ap-dung-thu-tuc-rut-gon-giai-quyet-nhanh-cac-toi-pham-lien-quan-den-phong-chong-dich-covid-19-82_26636.html.

[4]. https://vnexpress.net/ke-gay-su-tai-chot-phong-dich-bi-phat-mot-nam-tu-4359689.html.

[5]. http://www.vksquangninh.gov.vn/tin-ho-t-d-ng-xd-nganh/cac-doan-th/3195-vien-kiem-sat-nhan-dan-huyen-tien-yen-phoi-hop-xet-xu-luu-dong-so-hoa-ho-so-truyen-hinh-truc-tuyen-vu-an-chong-nguoi-thi-hanh-cong-vu-tai-chot-kiem-soat-dich-covid-19.

[6]. Bùi Đức Hứa, “Thủ tục rút gọn trong điều tra vụ án hình sự”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.

Theo dõi chúng tôi trên: