Thứ tư 18/03/2026 04:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về điều kiện bảo đảm hiệu quả đối với hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt

Bài viết tập trung phân tích một số điều kiện bảo đảm hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt và đề xuất giải pháp bảo đảm hoạt động này được tiến hành có hiệu quả trên thực tế.

1. Quy định pháp luật về hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt

Trên thế giới, có nhiều quốc gia như Nga, Đức, Pháp, Mỹ, Trung Quốc, Hungary… quy định các biện pháp như: Ghi âm, ghi hình bí mật; thu thập bí mật dữ liệu điện tử; theo dõi, giám sát bí mật; nghe điện thoại bí mật; chặn và ghi âm các cuộc liên lạc viễn thông và internet; sử dụng trinh sát trực tiếp; sử dụng cộng tác viên bí mật; kiểm tra bí mật nơi ở, nơi làm việc… trong hệ thống pháp luật tố tụng hình sự. Những biện pháp này được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự của quốc gia đó hoặc được tách thành bộ luật riêng nhưng những thông tin, tài liệu thu thập được từ các biện pháp này cũng được sử dụng như những nguồn chứng cứ để chứng minh tội phạm. Trong tiến trình hội nhập quốc tế, pháp luật Việt Nam cũng cần có những thay đổi để phù hợp với xu thế chung nhưng vẫn luôn phải bảo đảm các yêu cầu về mặt chính trị. Việt Nam tham gia nhiều công ước quốc tế về đấu tranh phòng, chống tội phạm; trong đó, có những công ước khi tham gia, Việt Nam đã cam kết sẽ luật hóa biện pháp điều tra đặc biệt. Vì vậy, việc đưa quy định về biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt vào Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) là một yêu cầu mang tính khách quan, tất yếu.

Hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt được quy định trong 06 điều luật cụ thể tại Chương XVI về biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt thuộc Phần thứ hai về khởi tố, điều tra vụ án hình sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Việc luật hóa các biện pháp điều tra đặc biệt trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là cần thiết, nhằm cụ thể hóa yêu cầu của Hiến pháp năm 2013: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”; tạo điều kiện cho Cơ quan điều tra chủ động thu thập chứng cứ, xác định đối tượng tình nghi phạm tội trong quá trình điều tra các vụ án phức tạp, có tổ chức, đặc biệt nghiêm trọng.

Hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như sau:

Thứ nhất, các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt (Điều 223): Thời điểm được bắt đầu áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt là sau khi khởi tố vụ án. Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt bao gồm: Ghi âm, ghi hình bí mật; nghe điện thoại bí mật; thu thập bí mật dữ liệu điện tử. Những biện pháp này cho phép ghi nhận hình ảnh với độ phân giải cao, âm thanh chất lượng và những thông tin, tài liệu khác, đồng thời bảo đảm yếu tố bí mật với đối tượng áp dụng và những người không liên quan.

Thứ hai, các trường hợp áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt (Điều 224): Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được áp dụng đối với các trường hợp: Tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền; các tội phạm khác có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Đây là những loại tội phạm có tổ chức chặt chẽ, phương thức, thủ đoạn phạm tội và che dấu tội phạm tinh vi, xảo quyệt, đối tượng phạm tội thường ngoan cố, chống đối đến cùng, thiếu hợp tác với Cơ quan tố tụng dẫn tới các biện pháp điều tra tố tụng thông thường không mang lại hiệu quả hay hiệu quả thấp. Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt cho phép Cơ quan điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ trực tiếp chứng minh tội phạm, qua đó xác định nhanh chóng, chính xác, toàn diện vụ án, chứng minh tội phạm và người phạm tội, truy nguyên tài sản mà người thực hiện phạm tội đã chiếm đoạt hoặc làm thất thoát.

Thứ ba, thẩm quyền, trách nhiệm quyết định và thi hành quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt (Điều 225): Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt liên quan đến quyền bí mật đời tư của cá nhân nên không thể áp dụng tùy tiện, do vậy, quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt phải ghi rõ thông tin cần thiết về đối tượng bị áp dụng, tên biện pháp được áp dụng, thời hạn, địa điểm áp dụng, cơ quan thi hành biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt và các nội dung khác của văn bản tố tụng.

Để bảo đảm thi hành biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt thì Công an nhân dân, Quân đội nhân dân cần thành lập cơ quan chuyên trách tiến hành các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Cơ quan chuyên trách cần được biên chế cán bộ kỹ thuật để bảo đảm về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại đã được kiểm duyệt để ghi âm, ghi hình, nghe điện thoại bí mật, thu thập dữ liệu điện tử bí mật. Những người có thẩm quyền quyết định và thi hành quyết định bao gồm: Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp quân khu trở lên ra quyết định và Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, những người trong cơ quan chuyên trách trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân thi hành quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt phải giữ bí mật. Nếu để lộ những thông tin về việc tiến hành biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt tới đối tượng bị áp dụng trong vụ án sẽ khiến đối tượng cảnh giác, tìm cách đối phó, tạo ra những thông tin sai nhằm đánh lạc hướng cơ quan tố tụng.

Thứ tư, thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt (Điều 226): Thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt là khoảng thời gian tối đa mà pháp luật cho phép để tiến hành biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được quy định không quá 02 tháng kể từ ngày Viện trưởng Viện kiểm sát phê chuẩn. Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt chỉ áp dụng ở giai đoạn điều tra và sau khi khởi tố vụ án nên trong trường hợp vụ án phức tạp đòi hỏi cần thời gian để tiếp tục thu thập tài liệu, chứng cứ thì có thể gia hạn nhưng không quá thời hạn điều tra. Chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, nếu xét thấy cần gia hạn thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng phải có văn bản đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát đã phê chuẩn xem xét, quyết định việc gia hạn.

Thứ năm, sử dụng thông tin, tài liệu thu thập được bằng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt (Điều 227): Thông tin, tài liệu thu thập được từ biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt liên quan tới bí mật đời tư của cá nhân nên cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan thi hành quyết định phải phân tích, đánh giá, chọn lọc những thông tin, tài liệu có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội, truy tìm đồng phạm, ngăn chặn đối tượng bỏ trốn, truy nguyên tài sản người phạm tội chiếm đoạt… và sử dụng làm chứng cứ phục vụ việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Thông tin, tài liệu không liên quan đến vụ án phải tiêu hủy kịp thời; nghiêm cấm việc sử dụng thông tin, tài liệu, chứng cứ thu thập được vào mục đích khác. Mặt khác, thông tin, tài liệu thu thập được bằng việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt có thể dùng làm chứng cứ. Đây là nguồn chứng cứ hết sức quan trọng có giá trị trực tiếp chứng minh tội phạm và được sử dụng để giải quyết vụ án. Để bảo đảm và phát huy vai trò kiểm sát các hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt và có cơ sở đánh giá chính xác biện pháp điều tra tố tụng trong giải quyết vụ án có còn cần thiết phải áp dụng tiếp tục hay không. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định Cơ quan điều tra có trách nhiệm thông báo ngay kết quả việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt cho Viện trưởng Viện kiểm sát đã phê chuẩn.

Thứ sáu, hủy bỏ việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt (Điều 228): Trong trường hợp khi không cần thiết phải tiếp tục áp dụng hay có vi phạm trong việc thi hành biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt hoặc khi có đề nghị bằng văn bản của Thủ trưởng Cơ quan điều tra có thẩm quyền thì Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hủy bỏ biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Đối với những vụ án mà Cơ quan điều tra cấp huyện, Cơ quan điều tra quân sự khu vực thụ lý áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt khi muốn hủy bỏ phải có văn bản đề nghị Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu để Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hủy bỏ.

2. Các điều kiện bảo đảm hiệu quả đối với hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt

Hiện nay, bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình thực hiện hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt còn gặp một số vấn đề khó khăn như: Tiến độ điều tra các vụ án đặc biệt nghiêm trọng được dư luận quan tâm còn chậm; một số vụ án rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng được phát hiện thông qua xác minh từ nguồn đơn thư tố giác của quần chúng và qua thanh tra, kiểm tra; chất lượng hồ sơ tố tụng chưa cao, nhiều vụ án phải trả hồ sơ điều tra bổ sung, điều tra lại nhiều lần, kéo dài trong nhiều năm, đặc biệt, đã từng có vụ án trên 10 năm mà vẫn chưa xét xử được; nhiều bị can, bị cáo bị đình chỉ điều tra hoặc phải thay đổi tội danh trong quá trình truy tố xét xử… Vì vậy, để tiến hành có hiệu quả hoạt động này, các cơ quan có thẩm quyền cần bảo đảm các điều kiện như sau:

Thứ nhất, cần bảo đảm yếu tố bí mật trong quá trình tiến hành hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt. Khi xem xét áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt tại Điều 223 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (ghi âm, ghi hình, nghe điện thoại, thu thập dữ liệu điện tử) đều phải được bảo đảm bí mật. Điều này phân biệt với các biện pháp điều tra tố tụng thông thường khác quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như: Thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử (Điều 107); thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử (Điều 196); hỏi cung bị can, trong đó quy định việc hỏi cung bị can phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh (Điều 183); nhận biết giọng nói (Điều 191). Các biện pháp điều tra thông thường và các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt có thể có cùng một hoạt động nhưng lại khác nhau về cách thức tiến hành, đối tượng tác động, mục đích sử dụng. Đặc biệt, nếu như các biện pháp điều tra thông thường được tiến hành công khai thì các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt phải được tiến hành bí mật.

Các trường hợp áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt bao gồm: Tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tham nhũng, khủng bố, rửa tiền, tội phạm khác có tổ chức thuộc loại đặc biệt nghiêm trọng. Đây đều là những loại tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng với phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, ảnh hưởng đặc biệt lớn đến nền an ninh quốc gia, chế độ chính trị, kinh tế của đất nước. Đa số các đối tượng phạm tội đều cấu kết hình thành băng nhóm, đường dây, gây khó khăn, cản trở cho hoạt động điều tra. Xét thấy trong quá trình tiến hành điều tra làm rõ các vụ án trên, nếu chỉ sử dụng các biện pháp điều tra tố tụng công khai thì không đạt hiệu quả cao, thậm chí nhiều vụ án có thể rơi vào bế tắc, không chứng minh được hành vi phạm tội, đối tượng phạm tội. Vì vậy, cần thiết phải tiến hành các biện pháp điều tra bí mật để thu thập thông tin, tài liệu về hoạt động phạm tội của các đối tượng. Việc luật hóa các biện pháp ghi âm, ghi hình bí mật; nghe điện thoại bí mật; thu thập bí mật dữ liệu điện tử trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là một bước ngoặt lớn trong quá trình đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm nêu trên. Không chỉ vậy, đây cũng là cơ sở, căn cứ pháp lý để Cơ quan điều tra bổ sung vào nguồn chứng cứ chứng minh tội phạm. Quá trình tiến hành các biện pháp điều tra đặc biệt phải được bảo đảm bí mật, không để những người không liên quan biết hoặc tham gia. Vấn đề này đã được quy định tại khoản 4 Điều 225 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Như vậy, số lượng người có liên quan đến việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được giới hạn rất ít.

Khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng nêu: “Thông tin, tài liệu không liên quan đến vụ án phải tiêu hủy kịp thời. Nghiêm cấm sử dụng thông tin, tài liệu, chứng cứ thu thập được vào mục đích khác”. Quy định này thể hiện tính bí mật của các thông tin, tài liệu thu thập được từ việc áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Vì vậy, đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình thực hiện hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt cần nghiêm túc bảo đảm yếu tố bí mật, tránh lộ lọt thông tin, tài liệu, gây ảnh hưởng đến quá trình điều tra vụ án.

Thứ hai, bảo đảm hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt được tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Mọi trình tự, thủ tục khi áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt đã được quy định cụ thể tại các điều 224, 225, 226, 227, 228 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trước hết, chỉ áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt đối với các loại tội phạm quy định tại Điều 224 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đồng thời, quá trình tiến hành cần bảo đảm đúng thẩm quyền, trách nhiệm quyết định và thi hành quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt của các cơ quan và người tiến hành tố tụng có liên quan. Bên cạnh đó, cần chú ý mối quan hệ phối hợp trong việc phê chuẩn quyết định và thực hiện quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát; mối quan hệ phối hợp trong việc tiến hành các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt giữa cơ quan điều tra và cơ quan chuyên trách trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân. Trong quá trình tiến hành hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt cũng cần tuân thủ quy định về thời hạn áp dụng, thời gian gia hạn; các trường hợp và thủ tục hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt và việc sử dụng thông tin, tài liệu thu thập bằng biện pháp này được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015.

Thứ ba, bảo đảm các điều kiện về phương tiện, thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật khi tiến hành hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt. Về bản chất, khi cơ quan chuyên trách tiến hành các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt đều phải sử dụng các phương tiện kỹ thuật như: Thiết bị ghi âm, ghi hình; thiết bị, phần mềm nghe lén điện thoại; thiết bị trích xuất dữ liệu điện tử… Vì vậy, đặt ra yêu cầu cần phải trang bị các phương tiện, thiết bị để phục vụ cho hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt. Đồng thời, thiết bị để lưu trữ các thông tin, tài liệu thu thập được từ việc tiến hành các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt cũng cần được đầu tư, trang bị, bảo đảm lưu trữ được đầy đủ, chính xác. Việc chuẩn bị kỹ lưỡng về phương tiện, thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt sẽ giúp cho hoạt động này được tiến hành khách quan, khoa học, phục vụ thu thập thông tin, tài liệu cho quá trình chứng minh tội phạm đầy đủ, chính xác.

Thứ tư, bảo đảm các điều kiện về mặt con người trong quá trình tiến hành hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt. Yếu tố con người trong quá trình tiến hành hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt được hiểu là những người có thẩm quyền trong hoạt động này, bao gồm: Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh trở lên, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cùng cấp; cán bộ thi hành quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; cán bộ kỹ thuật tiến hành biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Những người tham gia hoạt động tố tụng này đều phải bảo đảm đúng thẩm quyền, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để thực hiện các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Trong quá trình tiến hành, cần tránh việc xảy ra sai sót, lộ lọt thông tin, tài liệu. Lưu ý, biện pháp thu thập bí mật dữ liệu điện tử đòi hỏi cơ quan chuyên trách phải cử cán bộ có trình độ chuyên môn về khoa học kỹ thuật, điện tử viễn thông để có thể thực hiện biện pháp này. Đồng thời, việc thực hiện hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt cần có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan tiến hành tố tụng như: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan chuyên trách thi hành quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Việc bảo đảm yếu tố con người góp phần thực hiện có hiệu quả quá trình tiến hành hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt.

Thứ năm, bảo đảm thực hiện tốt hoạt động kiểm sát điều tra trong quá trình tiến hành biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt ngoài việc có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động điều tra vụ án hình sự thì còn liên quan trực tiếp đến bí mật đời tư cá nhân. Vì vậy, việc bảo đảm hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt chỉ phục vụ quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự là rất cần thiết, tránh việc lợi dụng thực hiện biện pháp này vào mục đích khác. Bảo đảm thực hiện tốt hoạt động kiểm sát trong quá trình tiến hành biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt góp phần giúp hoạt động này diễn ra khách quan, đúng quy định của pháp luật. Hoạt động kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát được thực hiện từ khi cơ quan điều tra ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, gia hạn áp dụng, sử dụng thông tin, tài liệu, kết quả đến khi hủy bỏ áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

TS. Nguyễn Trung Kiên

Đại học Cảnh sát nhân dân

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 392), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: