Thứ bảy 19/09/2026 10:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về tính hợp pháp của chứng cứ được thu thập bởi người bào chữa

Tóm tắt: Bài viết phân tích quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa trong mối liên hệ với tính hợp pháp của chứng cứ và một số kiến nghị hoàn thiện.

Tóm tắt: Bài viết phân tích quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa trong mối liên hệ với tính hợp pháp của chứng cứ và một số kiến nghị hoàn thiện.

Abstract: The paper analyzes the right of collecting evidence of defense counsel relating to the legality of evidence and some improvement recommendations.

1. Người bào chữa và quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa trong tố tụng hình sự

1.1. Quyền bào chữa và quyền có người bào chữa

Quyền bào chữa là một trong các quyền cơ bản của con người, là một thành tố của quyền được xét xử công bằng, được pháp luật quốc tế và pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới công nhận. Quyền bào chữa là một quyền đối lập với quyền buộc tội của bên công tố.

Tại Việt Nam, quyền bào chữa được ghi nhận tại khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” và tại khoản 7 Điều 103 Hiến pháp năm 2013: “Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm”.

Để thể chế hóa nguyên tắc về bảo đảm quyền bào chữa tại Hiến pháp năm 2013, Điều 16 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này. Đồng thời, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng đã quy định chế định người bào chữa thành một chương độc lập (Chương V) nhằm đề cao địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố tụng hình sự, bảo đảm “khi nào và ở đâu có việc buộc tội, thì ở đó quyền bào chữa phải được thực hiện và tôn trọng”[1]. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 còn sửa đổi thời điểm tham gia của người bào chữa nhằm bảo đảm quyền tiếp cận sự hỗ trợ sớm nhất của người bào chữa. Theo đó, Điều 74 quy định “người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can”. Có thể thấy, quy định này không chỉ tạo điều kiện cho người bị buộc tội nhận được sự hỗ trợ sớm hơn từ phía người bào chữa, mà còn giúp người bào chữa thuận lợi hơn trong quá trình tham gia tố tụng, chủ động thực hiện các nhiệm vụ của mình nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội, bị can, bị cáo, trong đó, có việc thu thập chứng cứ. Bên cạnh đó, việc người bào chữa tham gia tố tụng ngay từ giai đoạn khởi tố bị can cũng góp phần cùng các cơ quan tiến hành tố tụng xác định sự thật của vụ án, sự khách quan của vụ việc, thậm chí là thiết lập thêm một kênh để giám sát quá trình tiến hành tố tụng đối với các cơ quan tư pháp[2].

Đối với quyền có người bào chữa, đây là một quyền mang tính chất lựa chọn. Có nghĩa là, người bị buộc tội có thể lựa chọn giữa việc tự bào chữa, hoặc nhờ người khác bào chữa. Trong trường hợp người bị buộc tội không đủ khả năng để thuê dịch vụ từ luật sư sẽ buộc phải tự mình bào chữa. Tuy nhiên, với chính sách nhân đạo của Nhà nước Việt Nam, khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có quy định trong hai trường hợp cụ thể mà Nhà nước chỉ định người bào chữa và chi trả chi phí bào chữa cho người bị buộc tội, gồm: (i) Bị can, bị cáo bị xét xử về tội mà khung hình phạt cao nhất là 20 năm tù, chung thân hoặc tử hình; (ii) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất, về tinh thần, hoặc người dưới 18 tuổi. Đồng thời, Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng ghi nhận nguyên tắc tranh tụng trong xét xử nhằm giúp quyền bào chữa có thể được thực hiện tốt hơn. Theo đó, trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, điều tra viên, kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.

1.2. Quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định cụ thể về quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa. Theo đó, khoản 1 Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định ba quyền của người bào chữa liên quan đến chứng cứ: (i) Quyền thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; (ii) Quyền kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá và (iii) Quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản. Có thể nói, quyền thu thập chứng cứ, quyền kiểm tra, đánh giá chứng cứ và quyền đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ là ba quyền rất quan trọng của người bào chữa, thể hiện vai trò, vị thế của người bào chữa trong quá trình tiến hành tố tụng.

Để thực hiện quyền thu thập chứng cứ, người bào chữa có thể thông qua hai biện pháp mà Bộ luật Tố tụng hình sự cho phép, gồm: (i) Gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; (ii) Đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa[3]. Khi thu thập chứng cứ, tùy giai đoạn tố tụng, người bào chữa phải kịp thời thông báo cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để đưa vào hồ sơ vụ án. Trong trường hợp người bào chữa không thể thu thập được chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa thì họ có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập. Bộ luật Tố tụng hình sự cũng quy định, khi tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án do người bào chữa cung cấp, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản giao nhận và kiểm tra, đánh giá theo quy định của Điều 133 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015[4].

Trong quá trình xét xử vụ án hình sự, Tòa án có nghĩa vụ phải tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án do cá nhân, tổ chức, cơ quan cung cấp, bao gồm cả chứng cứ được thu thập của người bào chữa. Ngay sau khi tiếp nhận các chứng cứ, tài liệu, đồ vật này, Tòa án phải chuyển cho Viện kiểm sát cùng cấp để tiến hành kiểm tra, đánh giá. Viện kiểm sát có nghĩa vụ phải xem xét và chuyển lại cho Tòa án để đưa vào hồ sơ vụ án trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật[5].

Có thể nói, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có quy định mới hết sức tiến bộ khi trao cho người bào chữa quyền thu thập chứng cứ và buộc cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ tiếp nhận các tài liệu, chứng cứ này. Việc trao cho người bào chữa quyền thu thập chứng cứ là một bước tiến nhằm nâng cao vị thế của người bào chữa trở nên ngang bằng với bên buộc tội, đảm bảo quyền bào chữa được thực hiện trên thực tiễn.

2. Chứng cứ

Chế định chứng cứ là một trong những chế định quan trọng nhất của Bộ luật Tố tụng hình sự, xuyên suốt quá trình tố tụng. Việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ liên quan đến toàn bộ người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng và những người có liên quan. Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.

Trong khoa học pháp lý, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng chứng cứ có ba thuộc tính cơ bản, gồm tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp: (i) Tính khách quan có nghĩa là chứng cứ phải là cái gì có thật, phải là những sự vật, sự việc đang tồn tại hoặc đã/đang xảy ra, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người do tưởng tượng hoặc giả mạo. Việc đảm bảo tính khách quan sẽ giúp chứng cứ nói lên được các thông tin thật về các vấn đề phải chứng minh trong vụ án, đảm bảo người tiến hành tố tụng nhận được thông tin chính xác về vụ án, từ đó đưa ra được nhận định và phán quyết chính xác. (ii) Tính liên quan được hiểu là chứng cứ phải có ý nghĩa chứng minh các vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự. Tính liên quan đảm bảo các tài liệu, đồ vật được thu thập liên quan và có ý nghĩa trong vụ án, tránh việc các cơ quan tiến hành tố tụng lãng phí thời gian và công sức cho việc thu thập các tài liệu, chứng cứ không liên quan đến vụ án hoặc liên quan đến vụ án nhưng không liên quan đến các vấn đề cần phải chứng minh. (iii) Tính hợp pháp được đảm bảo khi chứng cứ được thu thập theo trình tự do BLTTHS quy định. Tính hợp pháp của chứng cứ là một đảm bảo cho thuộc tính khách quan của chứng cứ, đảm bảo cho sự chính trực và tuân thủ pháp luật của hệ thống tố tụng khi nó buộc mọi chứng cứ chỉ hợp pháp nếu được thu thập theo những trình tự, phương thức mà luật pháp cho phép. Do đó, khi thỏa mãn được các thuộc tính này, tài liệu đồ vật sẽ được công nhận là “chứng cứ” và được cơ quan tiến hành tố tụng dùng làm căn cứ xác định sự thật khách quan của vụ án. Nếu thiếu một trong ba thuộc tính này thì tài liệu, đồ vật sẽ bị coi là không phải là chứng cứ vì không có giá trị chứng minh trong vụ án hình sự.

3. Trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ của người bào chữa và vấn đề xác định tính hợp pháp của các loại chứng cứ này

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, người bào chữa đã có quyền tự mình thu thập chứng cứ bằng hai phương thức: (i) Gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; (ii) Đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa[6]. Từ hai phương thức trên, mặc dù khoản 1 Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về 07 nguồn của chứng cứ[7], nhưng người bào chữa chỉ có thể thu thập được các nguồn chứng cứ bao gồm: (i) Lời khai, lời trình bày; (ii) Vật chứng; (iii) Dữ liệu điện tử và (iv) Tài liệu, đồ vật khác.

So sánh giữa khoản 1 và khoản 2 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về việc thu thập chứng cứ của cơ quan tiến hành tố tụng và người bào chữa, có thể thấy tại khoản 1 thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ “theo quy định của Bộ luật này”, còn tại khoản 2 thì người bào chữa có quyền thực hiện hai phương thức thu thập chứng cứ nói trên nhưng lại không bị ràng buộc bởi “theo quy định của Bộ luật này”. Có thể suy ra, các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ chỉ áp dụng trong trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ chứ không phải áp dụng cho trường hợp người bào chữa thu thập chứng cứ. Như vậy, một vấn đề phát sinh là mặc dù hiện nay pháp luật cho phép người bào chữa có quyền thu thập bốn loại nguồn chứng cứ trên, nhưng lại không quy định cụ thể về trình tự, thủ tục để thu thập các loại chứng cứ này.

Theo quy định, nếu cơ quan tiến hành tố tụng muốn thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ là lời khai, lời trình bày phải tuân thủ chặt chẽ quy định tại Điều 183 và Điều 184 khi hỏi cung bị can; các điều 186, 187 và 188 đối với trường hợp lấy lời khai người bị hại và người làm chứng về các vấn đề như hình thức biên bản, cách thức lấy lời khai, thời gian, địa điểm, việc giải thích quyền và nghĩa vụ trước khi lấy lời khai. Còn trong trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng muốn thu thập tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử thì phải thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 105, Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về các vấn đề như hình thức biên bản, việc mô tả vật chứng, tài liệu, đồ vật, việc niêm phong, sao lưu, bảo quản.

Đối với hoạt động thu thập chứng cứ của người bào chữa, do Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không có quy định cụ thể nên trên thực tế, đa số người bào chữa cũng thường cố gắng áp dụng các quy định tại các điều 105, 107, 183, 184, 186, 187, 188 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để thu thập chứng cứ thông qua các hình thức biên bản trao đổi, biên bản làm việc hoặc yêu cầu người cho lời khai viết bản tự trình bày, biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài liệu, đồ vật, có thể có kèm theo ghi âm hoặc ghi hình. Tuy nhiên, việc thực hiện các hoạt động này trên thực tế có sự khác biệt rất lớn trong từng trường hợp tùy theo nhận thức của mỗi người bào chữa về vấn đề áp dụng pháp luật bởi các điều luật trên vốn không được quy định cho hoạt động thu thập chứng cứ của người bào chữa.

Việc không quy định rõ ràng trình tự, thủ tục về hoạt động thu thập chứng cứ của người bào chữa dẫn đến một “khiếm khuyết” pháp lý nghiêm trọng trong quá trình đánh giá chứng cứ là không có căn cứ để đánh giá tính hợp pháp của chứng cứ được thu thập bởi người bào chữa. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì tính hợp pháp của chứng cứ là “thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định” và “những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự”[8]. Như vậy, tính hợp pháp của chứng cứ chính là sự tuân thủ trình tự, thủ tục khi thu thập chứng cứ. Vấn đề được đặt ra là, nếu không có quy định về trình tự, thủ tục trong hoạt động thu thập chứng cứ của người bào chữa, thì sẽ không có cơ sở pháp lý rõ ràng để xác định tính hợp pháp của các chứng cứ đó. Sự không rõ ràng đó có thể dẫn đến các hệ quả tiêu cực như:

- Dễ dẫn đến sự tùy tiện trong việc thu thập chứng cứ của người bào chữa và sự tùy tiện trong việc xác định tính hợp pháp của các chứng cứ đó của Hội đồng xét xử. Từ đó, dẫn đến việc áp dụng pháp luật tố tụng hình sự không thống nhất trong phạm vi cả nước, là một yếu tố thách thức đến tính công bằng của nền tư pháp hình sự Việt Nam. Mặt khác, sự chặt chẽ trong thủ tục, trình tự thu thập chứng cứ là sự đảm bảo cho tính khách quan của chứng cứ, nhằm hạn chế khả năng chứng cứ bị can thiệp một cách chủ quan từ người thu thập. Do đó, sự tùy tiện trong việc thủ tục, trình tự thu thập chứng cứ cũng có thể sẽ dẫn đến khả năng gây tổn hại đến tính khách quan của chứng cứ, khiến đường lối giải quyết vụ án có thể bị sai lầm do dựa trên các chứng cứ không khách quan.

- Dẫn đến sự mất cân bằng giữa hai phía buộc tội và gỡ tội. Trong khi phía buộc tội là cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có hành lang pháp lý là trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định trong hoạt động thu thập chứng cứ thì phía người bào chữa lại không có quy định nào về trình tự, thủ tục khi thu thập chứng cứ. Sự mất cân bằng về quyền và nghĩa vụ trong hai bên trong quá trình thu thập chứng cứ là không phù hợp với tinh thần của phiên tòa hình sự tranh tụng, khi mà sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội là nền tảng và là đặc trưng cơ bản nhất của tố tụng tranh trụng[9]. Chất lượng tranh tụng của một mô hình tố tụng phụ thuộc rất nhiều vào quyền của cả phía công tố và phía bào chữa trong việc bình đẳng với nhau khi thu thập, trình bày và kiểm tra chứng cứ[10]. Sự mất cân bằng giữa hai bên buộc tội và gỡ tội trong việc tuân thủ trình tự, thủ tục khi thu thập chứng cứ đã xâm phạm phần nào đến nguyên tắc tranh trụng trong xét xử được đảm bảo.

4. Kiến nghị

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 giao việc thu thập chứng cứ cho người bào chữa, quy định này đã khắc phục tình trạng “độc quyền” của cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình thu thập chứng cứ, thậm chí tránh tình trạng cơ quan tiến hành tố tụng gây khó dễ, có thể chấp nhận hay không chấp nhận khi người bào chữa tự mình thu thập chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự[11]. Quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa là một quyền mới trong tố tụng hình sự, có vai trò quan trọng trong việc gia tăng địa vị tố tụng của người bào chữa[12], từ đó, có được vị trí cân bằng hơn với kiểm sát viên trong quá trình tố tụng và thiết lập nên một phiên tòa công bằng giữa bên buộc tội với bên gỡ tội.

Tuy nhiên, việc không quy định rõ trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ của người bào chữa có khả năng dẫn đến sự tùy tiện trong việc đánh giá tính hợp pháp của chứng cứ do người bào chữa thu thập, gây ra tình trạng bất bình đẳng giữa hai bên buộc tội và gỡ tội trong phiên tòa hình sự tranh tụng. Tác giả cho rằng, các nhà lập pháp cần nghiên cứu, xem xét bổ sung trình tự, thủ tục người bào chữa thu thập chứng cứ vào quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Theo đó, các trình tự, thủ tục người bào chữa thu thập các loại chứng cứ cũng phải được thực hiện tương tự như trình tự, thủ tục mà cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập chứng cứ đối với loại chứng cứ tương ứng. Cụ thể, trình tự thu thập lời khai của bị can mà họ nhận bào chữa nên tương tự quy định tại Điều 183 và Điều 184; còn đối đối với trường hợp lấy lời khai bị hại và người làm chứng thì cần quy định tương tự các điều 186, 187 và 188 về các vấn đề như hình thức biên bản, cách thức lấy lời khai, thời gian, địa điểm, việc giải thích quyền và nghĩa vụ trước khi lấy lời khai. Còn trong trường hợp thu thập tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử thì phải thực hiện theo trình tự, thủ tục tương tự quy định tại Điều 105, Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về các vấn đề như hình thức biên bản, việc mô tả vật chứng, tài liệu, đồ vật, việc niêm phong, sao lưu, bảo quản.

Bổ sung các quy định về trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ của người bào chữa sẽ góp phần thống nhất áp dụng pháp luật trong việc thu thập chứng cứ và việc đánh giá tính hợp pháp của các chứng cứ được thu thập bởi người bào chữa, đồng thời, đảm bảo tốt hơn tính khách quan của chứng cứ và nguyên tắc tranh tụng trong xét xử.

ThS. Võ Minh Kỳ

Viện Kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ

ThS. Nguyễn Phương Anh

Vụ Pháp luật hình sự - hành chính, Bộ Tư pháp





[1]. Phan Trung Hoài, “Bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự”, trong Những nội dung mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nguyễn Hòa Bình (chủ biên), Hà Nội, Nxb. Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 179 - 204.

[2]. Xem thêm: Bộ Công an (Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp), Tài liệu hội thảo “Tham gia ý kiến dự thảo thông tư của Bộ trưởng Bộ Công an quy định trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân trong việc bảo đảm thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 liên quan đến quyền bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp”, Hà Nội, 1/2016, tr. 2.

[3]. Khoản 2 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[4]. Khoản 2, khoản 3 Điều 81 và khoản 4 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[5]. Điều 253 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[6]. Khoản 2 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[7]. Các nguồn của chứng cứ bao gồm: Vật chứng; lời khai, lời trình bày; dữ liệu điện tử; kết luận giám định, định giá tài sản; biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác; các tài liệu, đồ vật khác.

[8]. Điều 86 và khoản 2 điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[9]. Xem thêm: Võ Minh Kỳ và Võ Hồng Phượng, “Quyền có người bào chữa và quyền im lặng trong phiên tòa tranh tụng”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4 (360), 2018, tr. 9-14.

[10]. Scott Ciment, “How the 2015 Criminal Procedure Code Changes Vietnam’s Criminal Justice Legal Framework”, Vietnam Law and Legal Forum Magazine, 1 July 2016, http://vietnamlawmagazine.vn/how-the-2015-criminal-procedure-code-changes-vietnams-criminal-justice-legal-framework-5420.html, truy cập ngày 25/01/2019.

[11]. Đỗ Ngọc Quang, “Chứng minh và chứng cứ”, trong Những nội dung mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nguyễn Hòa Bình (chủ biên), Hà Nội, Nxb. Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 205 - 217.

[12]. Phan Trung Hoài, Những điểm mới về chế định bào chữa trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hà Nội, Nxb. Chính trị quốc gia, 2016, tr. 252.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: