Thứ năm 08/10/2026 15:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ quyền tác giả trong thương mại điện tử - Thực trạng và giải pháp

Sự phát triển mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp 4.0 với trụ cột là internet kết nối vạn vật đã tạo nên diện mạo và cách thức vận hành mới của nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, đó là nền kinh tế số với (thương mại điện tử) TMĐT là xu thế tất yếu. Trong những năm qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện cơ chế, hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền tác giả (QTG) nhằm bảo đảm quyền lợi cho các chủ thể liên quan, hạn chế các tranh chấp cũng như thiết lập một hệ thống bảo hộ QTG trên nền tảng TMĐT hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật đã bộc lộ một số điểm thiếu sót, chưa thống nhất trong các quy định hiện hành dẫn đến khó khăn, vướng mắc trong việc đánh giá, kết luận về hành vi xâm phạm và xử lý vi phạm. Trong khi đó, theo đánh giá của các cơ quan chức năng, TMĐT tại Việt Nam đang có sự bứt phá mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng trung bình trong những năm qua là từ 25% - 30%/năm[1]. Song hành với tốc độ phát triển của TMĐT, tình trạng xâm phạm QTG trên nền tảng TMĐT ở nước ta đang có xu hướng mở rộng về phạm vi, gia tăng về số lượng và nghiêm trọng về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi. Chính vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng các quy định về bảo vệ QTG trong TMĐT tại Việt Nam là cần thiết để từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo vệ QTG trên nền tảng TMĐT.

1. Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền tác giả trong thương mại điện tử tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý cho sự phát triển của TMĐT đã được hoàn thiện đáng kể, đáng chú ý là việc ban hành Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính phủ về TMĐT (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 08/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 của Chính phủ sửa đổi một số nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương) và Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng. Đặc biệt, các nội dung liên quan đến xác định phạm vi bảo hộ và bảo vệ QTG nói chung và bảo vệ QTG trong TMĐT nói riêng đã được quy định khá chi tiết trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019 (Luật Sở hữu trí tuệ); Điều 225 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội xâm phạm QTG, quyền liên quan và các văn bản dưới luật như: Nghị định số 22/2018/NĐ-CP ngày 23/02/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 về QTG, quyền liên quan (Nghị định số 22/2018/NĐ-CP); Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ; Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về QTG, quyền liên quan, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 28/2017/NĐ-CP ngày 20/3/2017 của Chính phủ (Nghị định số 131/2013/NĐ-CP); Thông tư liên tịch số 07/2012/TTLT-BTTTT-BVHTTDL ngày 19/6/2012 của Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trong việc bảo hộ QTG và quyền liên quan trên môi trường mạng internet và mạng viễn thông (Thông tư liên tịch số 07/2012/TTLT-BTTTT-BVHTTDL).

Pháp luật Việt Nam hiện hành đã có quy định nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến hành vi khai thác tác phẩm mới trong TMĐT, cụ thể, khoản 2 Điều 21 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP quy định, quyền sao chép tác phẩm là quyền của chủ sở hữu QTG độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra bản sao tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo ra bản sao dưới hình thức điện tử. Bên cạnh đó, quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng được hiểu là quyền của chủ sở hữu QTG độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc đưa tác phẩm hoặc bản sao tác phẩm đến công chúng mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do chính họ lựa chọn (khoản 4 Điều 21 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP).

Đồng thời, các khoản 10, 12, 13, 14 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ quy định các hành vi xâm phạm QTG trong TMĐT bao gồm: (i) Nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu QTG; (ii) Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu QTG thực hiện để bảo vệ QTG đối với tác phẩm của mình; (iii) Cố ý xóa, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm; (iv) Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu QTG thực hiện để bảo vệ QTG đối với tác phẩm của mình.

Tuy nhiên, các quy định hiện hành chưa có sự phân biệt giữa các bản sao điện tử cố định và các bản sao tạm thời trong quá trình truyền đưa, trình duyệt nội dung cũng như chưa có án lệ và hướng dẫn liên quan tới hành vi xem trực tuyến hay liên kết website TMĐT. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chưa giới hạn trách nhiệm đối với việc vô hiệu hóa và tạo điều kiện cho việc vô hiệu hóa DRM (Digital Rights Management - Quản lý bản quyền nội dung số) như một dạng trách nhiệm đối với hành vi tạo điều kiện cho việc xâm phạm các độc quyền của chủ sở hữu QTG. Ngoài ra, Việt Nam cũng chưa có quy định về ngoại lệ đối với việc vô hiệu hóa các biện pháp kỹ thuật nhằm đảm bảo thực thi các hành vi sử dụng hợp lý được phép theo quy định của luật và chưa có quy định về ngoại lệ đối với hành vi cung cấp các thiết bị có khả năng can thiệp vào DRM nhưng có mục đích hợp pháp là chủ yếu.

Hơn nữa, Nghị định số 131/2013/NĐ-CP đã có nhiều thay đổi tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi QTG trong môi trường TMĐT như đưa ra nguyên tắc xác định mức xử phạt hành chính đối với xâm phạm QTG dựa trên hành vi xâm phạm chứ không phải là giá trị hàng hóa bị xâm phạm QTG; quy định cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi xâm phạm còn bị buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả như: Buộc sửa lại đúng tên tác giả, tên tác phẩm; buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm xâm phạm QTG dưới hình thức điện tử, trên môi trường internet và kỹ thuật số (Điều 3). Đặc biệt, Điều 20 Nghị định số 131/2013/NĐ-CP quy định mức phạt đối với hành vi xâm phạm quyền áp dụng biện pháp công nghệ để tự bảo vệ QTG dưới ba dạng (xóa bỏ thông tin quản lý quyền, vô hiệu hóa biện pháp kỹ thuật và cung cấp thiết bị hoặc tạo điều kiện cho việc can thiệp và vô hiệu hóa DRM) với hai biện pháp khắc phục hậu quả là buộc tái xuất và buộc tiêu hủy tang vật vi phạm. Tuy nhiên, Nghị định này chưa đề cập tới khả năng miễn trách nhiệm đối với các hành vi vô hiệu hóa.

Liên quan đến cơ chế trách nhiệm giới hạn đối với xâm phạm QTG của các ISP (Internet Service Provider - Nhà cung cấp dịch vụ internet), Luật Công nghệ thông tin năm 2006 đã có cách tiếp cận theo chiều ngang - điều chỉnh trách nhiệm của các trung gian trực tuyến trên mọi lĩnh vực như xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, thông tin mang nội dung xấu... Mặt khác, Luật Công nghệ thông tin năm 2006 đã sử dụng cách phân loại và quy định điều kiện miễn trách nhiệm theo các chức năng chính: Truyền đưa thông tin số (Điều 16), lưu trữ tạm thời thông tin số (Điều 17), cho thuê chỗ lưu trữ thông tin số (Điều 18) và công cụ tìm kiếm thông tin số (Điều 19). Theo Luật Công nghệ thông tin năm 2006, các ISP cũng không phải chịu trách nhiệm theo dõi, giám sát thông tin, điều tra các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trong quá trình truyền đưa hoặc lưu trữ thông tin số của tổ chức, cá nhân khác, hay cung cấp thông tin về khách hàng, trừ trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu (Điều 20). Tuy nhiên, cho dù có quy định về cơ chế thông báo và dỡ bỏ liên quan đến điều kiện miễn trách nhiệm của các ISP cho thuê chỗ lưu trữ và các công cụ tìm kiếm thông tin, thì theo Luật Công nghệ thông tin năm 2006, các ISP này chỉ phải dỡ bỏ các nội dung xâm phạm QTG trong trường hợp tự mình phát hiện hoặc bị bắt buộc theo lệnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi đề cập tới việc các ISP sẽ dỡ bỏ thông tin khi tự mình phát hiện, quy định này chủ yếu dựa vào sự hợp tác của ISP nhưng không có ràng buộc cho sự hợp tác này, thiếu quy định về hiểu biết thực tế và suy đoán đối với ISP. Ngoài ra, việc không có quy định nào làm căn cứ để chủ sở hữu QTG có thể gửi thông báo khuyến cáo ISP về hành vi xâm phạm QTG và thủ tục pháp lý để ISP dỡ bỏ các nội dung xâm phạm sau khi nhận được thông báo đó đã làm hạn chế đáng kể việc thực thi quyền của các chủ thể QTG tại Việt Nam.

Với nỗ lực đưa ra một quy định “theo chiều dọc” điều chỉnh trách nhiệm của các ISP liên quan đến QTG, Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Thông tư liên tịch số 07/2012/TTLT-BTTTT-BVHTTDL. Khi xét tới các đối tượng áp dụng là các ISP, Thông tư liên tịch này đã có một bước tiến khi đề cập đến các ISP kiểu mới như các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến và các doanh nghiệp viễn thông. Tuy nhiên, Thông tư liên tịch số 07/2012/TTLT-BTTTT-BVHTTDL về cơ bản chỉ quy định trách nhiệm của ISP (Điều 5) và quy định này không có gì mới so với Luật Công nghệ thông tin và Luật Sở hữu trí tuệ. Thông tư liên tịch này đã không quy định trách nhiệm đối với từng loại ISP theo chức năng hay hoạt động mà ISP thực hiện trong khi cơ chế trách nhiệm đối với các ISP thực hiện các chức năng riêng biệt chắc chắn là không giống nhau do vai trò của chúng trong việc phổ biến nội dung của bên thứ ba là khác nhau. Chính việc không phân loại này đã dẫn đến một số điều khoản của Thông tư liên tịch số 07/2012/TTLT-BTTTT-BVHTTDL không có khả năng áp dụng, ví dụ như trách nhiệm “lưu trữ nội dung thông tin số trong hệ thống cung cấp dịch vụ của mình chỉ mang tính chất trung chuyển, tạm thời, tự động, có thời hạn, đủ để đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của việc truyền tải nội dung” quy định tại khoản 1 Điều 5 chắc chắn không thể áp dụng với ISP lưu trữ thông tin số; tương tự, trách nhiệm dỡ bỏ và xóa nội dung thông tin số khi nhận được yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền theo khoản 3 Điều 5 cũng không áp dụng cho các doanh nghiệp truyền đưa đơn thuần hay cung cấp dịch vụ truy cập internet.

2. Một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền tác giả trên nền tảng thương mại điện tử

Việc nâng cao hiệu quả bảo hộ QTG trong TMĐT là yêu cầu rất khó khăn, là thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như các cơ quan thực thi. Tuy nhiên, đây là nhiệm vụ tất yếu Việt Nam phải thực hiện trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền định hướng xã hội chủ nghĩa, cũng như để phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng. Các giải pháp được nêu sau đây góp phần giải quyết những khó khăn, thách thức đó.

Thứ nhất, cần sớm ban hành một văn bản quy phạm pháp luật riêng về bảo hộ quyền tác giả trong thương mại điện tử

Hiện nay, các quy định về bảo vệ QTG trong TMĐT được quy định chung trong Luật Sở hữu trí tuệ và nhiều văn bản chuyên ngành khác như Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và các văn bản về TMĐT. Điều này dẫn đến thực trạng khó tra cứu và áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật, đặc biệt là những quy định mang tính đặc thù về bảo vệ QTG trong TMĐT. Do đó, học tập kinh nghiệm của một số quốc gia, trong đó có Hoa Kỳ, Việt Nam cần ban hành các quy định riêng, thống nhất về bảo hộ QTG trong TMĐT, không chỉ là vấn đề hình thức và kỹ thuật mà còn thể hiện được tính đặc thù, tính khác biệt trong việc bảo hộ QTG giữa môi trường truyền thống và trong TMĐT. Điều này là phù hợp với xu hướng chung của thế giới về lĩnh vực này.

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung một số quy định mang tính đặc thù về bảo hộ quyền tác giả trong thương mại điện tử của Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản liên quan khác

- Bổ sung quy định về quyền sao chép tạm thời, có sự phân biệt giữa các bản sao điện tử cố định và các bản sao tạm thời trong quá trình truyền đưa, trình duyệt nội dung. Về phương diện công nghệ, trong môi trường kỹ thuật số, mọi đối tượng của QTG đều có thể định hình bằng tệp dữ liệu sao cho dựa vào đó đối tượng có thể được nhận biết, sao chép, truyền đạt đến công chúng. Việc truyền dữ liệu trong môi trường kỹ thuật số hiện nay được thực hiện bởi công nghệ “nối chuyền gói”, sử dụng bộ giao thức internet TCP/IP. Hệ quả của việc sử dụng công nghệ trên là bản sao tạm thời của dữ liệu luôn phải được tạo ra tại bộ nhớ của máy tính (RAM) ở nút trung gian trên mạng hoặc bộ nhớ động của thiết bị thực hiện chức năng tương tự như vậy trong quy trình truyền dữ liệu[2].

Vấn đề đặt ra là, bản sao tạm thời trong môi trường kỹ thuật số có được xem là đối tượng được bảo hộ QTG hay không? Học tập kinh nghiệm của một số quốc gia, để xác định bản sao tạm thời nào là đối tượng được bảo hộ QTG, pháp luật Việt Nam nên quy định căn cứ vào thời gian tồn tại của dữ liệu trong RAM. Nếu thời gian tồn tại trong RAM quá ngắn, bản sao chỉ được xem là mang tính chuyển tiếp và khi tắt nguồn máy tính, bản sao tạm thời đó sẽ mất đi hoàn toàn thì sẽ không phải là đối tượng được bảo hộ QTG, đồng nghĩa với việc các chủ thể tạo ra bản sao tạm thời trong tình huống này không xâm phạm QTG.

- Bổ sung các biện pháp chế tài mang tính đặc thù để áp dụng đối với hành vi xâm phạm QTG trong TMĐT, cụ thể, việc áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại và biện pháp xử phạt đối với các hành vi xâm phạm QTG trong TMĐT cần thể hiện tính đặc thù so với môi trường truyền thống bởi sự khó khăn trong việc thu thập chứng cứ cũng như thiệt hại do hành vi xâm phạm trong TMĐT mang lại thiệt hại nghiêm trọng hơn cho chủ thể quyền. Ngoài ra, cơ sở để đánh giá mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh đối với lĩnh vực QTG trong TMĐT cũng đặc biệt khó khăn vì việc sử dụng tác phẩm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như tâm lý của công chúng, khả năng thẩm thấu nghệ thuật… Do vậy, cách thức xác định thiệt hại cũng như cách tính mức độ bồi thường thiệt hại cũng phải thể hiện rõ sự khác biệt sao cho tương ứng với những thiệt hại về vật chất và tinh thần mà chủ thể quyền có thể bị mất do hành vi xâm phạm QTG mang lại. Tương tự, biện pháp xử phạt phải cụ thể đối với từng hành vi xâm phạm QTG trong TMĐT và đủ mạnh không chỉ nhằm để trừng trị mà còn có tính chất răn đe các chủ thể thực hiện các hành vi này.

- Bổ sung quy định giới hạn trách nhiệm đối với việc vô hiệu hóa và tạo điều kiện cho việc vô hiệu hóa các DRM như một dạng trách nhiệm đối với hành vi tạo điều kiện cho việc xâm phạm các độc quyền của chủ sở hữu QTG. Ngoài ra, cần bổ sung quy định về ngoại lệ đối với việc vô hiệu hóa các biện pháp kỹ thuật nhằm đảm bảo thực thi các hành vi sử dụng hợp lý được phép theo quy định của luật và quy định về ngoại lệ đối với hành vi cung cấp các thiết bị có khả năng can thiệp vào các DRM nhưng có mục đích hợp pháp là chủ yếu.

- Bổ sung quy định xác định rõ trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ internet trong trường hợp đối tượng của QTG bị xâm phạm trong TMĐT. Pháp luật cần xác định rõ nhà cung cấp dịch vụ internet có vai trò quan trọng trong việc phát tán các đối tượng xâm phạm QTG trong TMĐT. Tùy mức độ và tính chất của vụ việc, các nhà cung cấp phải chịu trách nhiệm (dân sự, hành chính và có thể cả hình sự) trước các cơ quan nhà nước, trước chủ thể quyền để ngăn chặn các hành vi lưu trữ và truyền đưa các đối tượng đã được bảo hộ QTG trong TMĐT mà chưa được phép của chủ thể quyền. Ngoài ra, pháp luật cần có quy định là cơ sở để chủ sở hữu QTG có thể gửi thông báo khuyến cáo ISP về hành vi xâm phạm QTG và thủ tục pháp lý để ISP dỡ bỏ các nội dung xâm phạm sau khi nhận được thông báo đó để đảm bảo việc thực thi quyền của các chủ thể QTG tại Việt Nam.

- Sửa đổi Thông tư liên tịch số 07/2012/TTLT-BTTTT-BVHTTDL theo hướng quy định trách nhiệm đối với từng loại ISP theo chức năng hay hoạt động mà ISP thực hiện thay vì quy định theo chiều dọc như hiện nay.

Thứ ba, nâng cao năng lực kiểm tra, xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả trong thương mại điện tử của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Công tác thanh tra, kiểm tra và xử phạt hành vi xâm phạm cần được tiến hành thường xuyên, triển khai đồng bộ trong phạm vi cả nước để phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm phạm QTG trong môi trường TMĐT. Do đó, Nhà nước cần có chế độ tuyển chọn, đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ thực thi QTG trong TMĐT; đồng thời, cần thường xuyên tổ chức tập huấn cho các cán bộ về xây dựng quy trình, cách thức đạt tiêu chuẩn để các cán bộ thống nhất thực hiện.

Thứ tư, nâng cao nhận thức chấp hành pháp luật của người sử dụng tác phẩm

Để nâng cao ý thức của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người sử dụng các tác phẩm, cần tăng cường hoạt động tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật về QTG, đặc biệt là việc sử dụng các tác phẩm trong TMĐT với các biện pháp như tổ chức các cuộc tọa đàm, diễn đàn, hội thi, hội nghị, hội thảo... Bên cạnh đó, nội dung giáo dục về QTG cần đưa vào trong chương trình đại học, cao đẳng để nâng cao nhận thức cho học sinh, sinh viên. Ngoài ra, cần tiến hành phổ biến pháp luật về QTG một cách dễ hiểu nhất trên các sách, báo, tạp chí... đặc biệt là việc sử dụng mạng internet, môi trường kỹ thuật số để tuyên truyền, phổ biến pháp luật về QTG, công khai lên các phương tiện thông tin những thiệt hại do vi phạm gây ra để người sử dụng nhận thấy tầm quan trọng trong việc bảo vệ QTG. Các hiệp hội, tổ chức bảo vệ QTG cần thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo, báo cáo tình hình hoạt động, công khai minh bạch công tác quản lý để củng cố uy tín trong xã hội, tạo niềm tin cho các hội viên và định hướng được nhận thức của người dân trong vấn đề QTG.

Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo hộ và bảo vệ quyền tác giả trong thương mại điện tử

TMĐT có tính chất toàn cầu, vì vậy, QTG trong môi trường internet là một đối tượng có phạm vi sử dụng, khai thác vượt qua khỏi sự kiểm soát của một quốc gia, do đó, cần có một mối quan hệ hợp tác quốc tế chặt chẽ. Cụ thể:

- Cần tăng cường tham gia ký kết và thực thi nghiêm chỉnh các điều ước quốc tế về bảo hộ QTG. Thông qua đó, Việt Nam có thể tranh thủ sự hỗ trợ, hợp tác của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, các tổ chức quốc tế liên quan, học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia nhằm tiếp thu những kinh nghiệm về lập pháp, quản lý và thực thi QTG đối với tác phẩm nghệ thuật trong TMĐT.

- Tiếp tục tăng cường việc đào tạo đội ngũ SHTT tại nước ngoài, nhất là chuyên gia về QTG gắn với TMĐT ở các nước phát triển về khoa học công nghệ như Hoa Kỳ, Nhật Bản - những quốc gia có nhiều kinh nghiệm trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến bảo hộ QTG trong TMĐT.

- Tạo các điều kiện thuận lợi để các cá nhân, tổ chức trong nước hợp tác với các quốc gia và tổ chức nước ngoài về SHTT, trong đó có QTG trong TMĐT, ví dụ như triển khai các dự án hợp tác quốc tế liên quan đến việc tăng cường bảo hộ SHTT tại Việt Nam.

ThS. Phạm Minh Huyền

Đại học Luật Hà Nội



[1]. Hồng Hạnh, Cam kết “Nói không với hàng giả trong thương mại điện tử”, đăng tại https://moit.gov.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/cam-ket-noi-khong-voi-hang-gia-trong-thuong-mai-%C4%91ien-tu—15112-1001.html, đăng ngày 18/4/2019.

[2]. Đỗ Khắc Chiến (2014), “Về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường internet”, Tham luận tại Hội thảo Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường số tại Việt Nam, tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: