Thứ sáu 07/08/2026 18:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo pháp luật Việt Nam

Khiển trách, hòa giải tại cộng đồng và giáo dục tại xã, phường, thị trấn là các biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự và được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Bài viết này phân tích những tồn tại, hạn chế và đề xuất hướng hoàn thiện quy định về biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành.

Khiển trách, hòa giải tại cộng đồng và giáo dục tại xã, phường, thị trấn là các biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự và được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Bài viết này phân tích những tồn tại, hạn chế và đề xuất hướng hoàn thiện quy định về biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành.

1. Thực trạng quy định các biện pháp giám sát, giáo dục tại xã, phường, thị trấn

Mục 2 Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (Bộ luật Hình sự) quy định các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự (TNHS) bao gồm: Khiển trách, hòa giải tại cộng đồng và giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Các biện pháp giám sát, giáo dục là các biện pháp mới được quy định trong Bộ luật Hình sự hiện hành, các Bộ luật Hình sự trước đó không quy định các biện pháp này. Việc Bộ luật Hình sự quy định các biện pháp giám sát, giáo dục nhằm buộc người dưới 18 tuổi phạm tội thực hiện những nghĩa vụ nhất định khi được miễn TNHS, chịu sự quản lý, giám sát của cơ quan có thẩm quyền, qua đó góp phần phòng ngừa họ tiếp tục phạm tội.

Theo Điều 92 Bộ luật Hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi thỏa mãn đồng thời 02 điều kiện: (i) Đã ra quyết định miễn TNHS và (ii) Người dưới 18 tuổi hoặc người đại diện hợp pháp của họ đồng ý với việc áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục. Đối với từng biện pháp cụ thể, ngoài thỏa mãn 02 điều kiện nói trên, còn phải thỏa mãn các điều kiện quy định tại các Điều 93, 94, 95 Bộ luật Hình sự và tuân thủ trình tự, thủ tục quy định tại các Điều 426, 427, 428, 429 của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành. Trong các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn TNHS, khiển trách và hòa giải tại cộng đồng là các biện pháp mới được quy định trong Bộ luật Hình sự hiện hành. Đối với giáo dục tại xã, phường, thị trấn, biện pháp này đã được quy định trong các Bộ luật Hình sự trước đây. Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định giáo dục tại xã, phường, thị trấn là biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội[1], không phải là biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp được miễn TNHS.

2. Một số tồn tại, hạn chế trong các quy định hiện hành

Nghiên cứu quy định của Điều 95 Bộ luật Hình sự và Điều 429 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành về biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thấy rằng, trong các quy định về vấn đề này vẫn còn những tồn tại, hạn chế. Cụ thể:

Thứ nhất, về trường hợp áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn: Việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong trường hợp được miễn TNHS ngoài thỏa mãn điều kiện chung quy định tại Điều 92, còn phải thuộc một trong hai trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 95 Bộ luật Hình sự, đó là: “Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91; hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự”.

Qua nghiên cứu cho thấy, trường hợp áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn quy định tại khoản 1 Điều 95 giống trường hợp áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng quy định tại khoản 1 Điều 94, chỉ khác nhau là biện pháp hòa giải tại cộng đồng “được áp dụng”, còn biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn “có thể áp dụng”[2] khi thuộc một trong hai trường hợp nêu trên. Vấn đề đặt ra, khi thuộc trường hợp áp dụng thì cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng hay giáo dục tại xã, phường, thị trấn?

Tác giả cho rằng, về nguyên tắc, phải áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng, vì đây là trường hợp “được áp dụng”. Hơn nữa, qua so sánh cho thấy, thời gian chấp hành và các nghĩa vụ phải thực hiện khi áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng nhẹ hơn biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Do vậy, để bảo đảm nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, cần ưu tiên áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng. Vậy nếu ưu tiên áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng, thì trường hợp nào sẽ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, vì đây là biện pháp “có thể áp dụng”. Việc khoản 1 Điều 95 Bộ luật Hình sự quy định “có thể áp dụng” dẫn đến tình trạng áp dụng tùy nghi, không thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng khi chưa có văn bản hướng dẫn.

Thứ hai, về Ủy ban nhân dân cấp xã được giao trách nhiệm giám sát, giáo dục: Khoản 2 Điều 95 Bộ luật Hình sự hiện hành quy định: “Người được cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức giám sát, giáo dục phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây…”. Như vậy, tùy từng giai đoạn tố tụng, cơ quan ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn sẽ phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện. Vấn đề đặt ra là Ủy ban nhân dân cấp xã nào sẽ được giao trách nhiệm giáo dục tại xã, phường, thị trấn thì Bộ luật Hình sự không quy định? Đó là Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị áp dụng cư trú, tạm trú; nơi người bị hại cư trú hay nơi xảy ra tội phạm? Việc xác định chính xác Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm giáo dục sẽ bảo đảm cho biện pháp được thực hiện, cũng như đánh giá thái độ chấp hành của người dưới 18 tuổi để xét thời gian chấm dứt trước thời hạn biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Nghiên cứu các văn bản hướng dẫn có liên quan đến biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thấy rằng, Nghị định số 37/2018/NĐ-CP[3] và Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH[4] cũng không xác định Ủy ban nhân dân cấp xã nào sẽ giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Hạn chế này không chỉ có ở biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, mà còn có trong quy định của Bộ luật Hình sự về biện pháp khiển trách và biện pháp hòa giải tại cộng đồng.

Thứ ba, về nghĩa vụ phải thực hiện: Khoản 2 Điều 95 Bộ luật Hình sự quy định các nghĩa vụ người dưới 18 tuổi phải thực hiện khi áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, bao gồm: Chấp hành đầy đủ nghĩa vụ về học tập, lao động; chịu sự giám sát, giáo dục của gia đình, xã, phường, thị trấn; không đi khỏi nơi cư trú khi không được phép; các nghĩa vụ theo quy định tại khoản 3 Điều 93 Bộ luật Hình sự.

Vấn đề đặt ra là nếu người dưới 18 tuổi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ những nghĩa vụ quy định thì xử lý thế nào, hậu quả pháp lý ra sao? Trước khi bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, người dưới 18 tuổi phạm tội đã được miễn TNHS, do vậy, dù có thực hiện hay không thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 95 thì họ cũng không bị coi là có án tích. Hơn nữa, Điều 95 cũng không quy định hậu quả pháp lý bất lợi mà người bị giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải gánh chịu khi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ. Cùng với đó, Nghị định số 37/2018/NĐ-CP chỉ quy định người bị giáo dục tại xã, phường, thị trấn nếu vi phạm thì theo đề nghị của người trực tiếp giám sát, giáo dục, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu người được giám sát, giáo dục trình diện[5] mà không quy định hình thức xử lý nào khác. Việc Bộ luật Hình sự và Nghị định số 37/2018/NĐ-CP không quy định hình thức xử lý khi vi phạm nghĩa vụ đã làm giảm tính hiệu quả của biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, chưa bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Thứ tư, về người có thẩm quyền quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn: Khoản 1 Điều 429 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành quy định các chủ thể khác nhau có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Theo đó, trong giai đoạn điều tra, thẩm quyền thuộc về Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra; trong giai đoạn truy tố, thẩm quyền thuộc về Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát; trong giai đoạn xét xử, thẩm quyền thuộc về Hội đồng xét xử.

Đối với giai đoạn điều tra và truy tố, thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn không phát sinh vướng mắc. Tuy nhiên, đối với giai đoạn xét xử, khoản 1 Điều 429 Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ quy định thẩm quyền thuộc về Hội đồng xét xử, không quy định Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa. Thực trạng này dẫn đến trường hợp trong khâu chuẩn bị xét xử, khi Hội đồng xét xử chưa được thành lập thì Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa không có quyền quyết định áp dụng giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Trong khi đó, Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thời hạn chuẩn bị xét xử đối với tội phạm thuộc trường hợp áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 30 ngày (đối với tội phạm ít nghiêm trọng), 45 ngày (đối với tội phạm nghiêm trọng) hoặc 02 tháng (đối với tội phạm rất nghiêm trọng) chưa kể gia hạn. Việc Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã kéo dài thời gian giải quyết, không tạo điều kiện để người dưới 18 tuổi sớm được hưởng chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự.

3. Một vài kiến nghị

Từ những tồn tại, hạn chế trong quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành về biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn như đã phân tích, tác giả đề xuất một số kiến nghị sau đây:

Một là, liên ngành Tư pháp trung ương hoặc Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sớm hướng dẫn quy định “có thể áp dụng” trong khoản 1 Điều 95 Bộ luật Hình sự. Việc hướng dẫn quy định nêu trên nhằm áp dụng pháp luật thống nhất, tạo điều kiện cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án xác định chính xác trường hợp nào áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, trường hợp nào áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng.

Hai là, sửa đổi quy định tại khoản 2 Điều 95 Bộ luật Hình sự theo hướng quy định Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người dưới 18 tuổi phạm tội cư trú là cơ quan được giao trách nhiệm giám sát, giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Việc quy định Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người dưới 18 tuổi phạm tội cư trú là cơ quan có trách nhiệm giám sát, giáo dục sẽ phù hợp với quy định tại điểm g khoản 2 và khoản 3 Điều 429 Bộ luật Tố tụng hình sự, cũng như tạo điều kiện cho việc quản lý, giáo dục.

Ba là, Chính phủ cần nghiên cứu sửa đổi Nghị định số 37/2018/NĐ-CP theo hướng bổ sung hình thức xử lý đối với người dưới 18 tuổi vi phạm các nghĩa vụ phải thực hiện khi thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Bốn là, sửa đổi khoản 1 Điều 429 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng bổ sung Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa là người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Khi đó, khoản 1 Điều 429 được sửa đổi thành: “1. Khi miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội mà xét thấy có đủ điều kiện áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định của Bộ luật hình sự thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong vụ án do cơ quan mình thụ lý, giải quyết”.

Nguyễn Văn Tùng & Nguyễn Văn Nhất
Học viện Cảnh sát nhân dân




[1]. Xem: Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

[2]. Xem: khoản 1 Điều 94 và khoản 1 Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3]. Nghị định số 37/2018/NĐ-CP ngày 10/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các biện pháp giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự.

[4]. Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 quy định về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi.

[5]. Xem: Điều 18 Nghị định số 37/2018/NĐ-CP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.

Theo dõi chúng tôi trên: