Thứ ba 17/03/2026 21:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo pháp luật Việt Nam

Khiển trách, hòa giải tại cộng đồng và giáo dục tại xã, phường, thị trấn là các biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự và được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Bài viết này phân tích những tồn tại, hạn chế và đề xuất hướng hoàn thiện quy định về biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành.

Khiển trách, hòa giải tại cộng đồng và giáo dục tại xã, phường, thị trấn là các biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự và được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Bài viết này phân tích những tồn tại, hạn chế và đề xuất hướng hoàn thiện quy định về biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành.

1. Thực trạng quy định các biện pháp giám sát, giáo dục tại xã, phường, thị trấn

Mục 2 Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (Bộ luật Hình sự) quy định các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự (TNHS) bao gồm: Khiển trách, hòa giải tại cộng đồng và giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Các biện pháp giám sát, giáo dục là các biện pháp mới được quy định trong Bộ luật Hình sự hiện hành, các Bộ luật Hình sự trước đó không quy định các biện pháp này. Việc Bộ luật Hình sự quy định các biện pháp giám sát, giáo dục nhằm buộc người dưới 18 tuổi phạm tội thực hiện những nghĩa vụ nhất định khi được miễn TNHS, chịu sự quản lý, giám sát của cơ quan có thẩm quyền, qua đó góp phần phòng ngừa họ tiếp tục phạm tội.

Theo Điều 92 Bộ luật Hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi thỏa mãn đồng thời 02 điều kiện: (i) Đã ra quyết định miễn TNHS và (ii) Người dưới 18 tuổi hoặc người đại diện hợp pháp của họ đồng ý với việc áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục. Đối với từng biện pháp cụ thể, ngoài thỏa mãn 02 điều kiện nói trên, còn phải thỏa mãn các điều kiện quy định tại các Điều 93, 94, 95 Bộ luật Hình sự và tuân thủ trình tự, thủ tục quy định tại các Điều 426, 427, 428, 429 của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành. Trong các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn TNHS, khiển trách và hòa giải tại cộng đồng là các biện pháp mới được quy định trong Bộ luật Hình sự hiện hành. Đối với giáo dục tại xã, phường, thị trấn, biện pháp này đã được quy định trong các Bộ luật Hình sự trước đây. Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định giáo dục tại xã, phường, thị trấn là biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội[1], không phải là biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp được miễn TNHS.

2. Một số tồn tại, hạn chế trong các quy định hiện hành

Nghiên cứu quy định của Điều 95 Bộ luật Hình sự và Điều 429 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành về biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thấy rằng, trong các quy định về vấn đề này vẫn còn những tồn tại, hạn chế. Cụ thể:

Thứ nhất, về trường hợp áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn: Việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong trường hợp được miễn TNHS ngoài thỏa mãn điều kiện chung quy định tại Điều 92, còn phải thuộc một trong hai trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 95 Bộ luật Hình sự, đó là: “Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91; hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự”.

Qua nghiên cứu cho thấy, trường hợp áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn quy định tại khoản 1 Điều 95 giống trường hợp áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng quy định tại khoản 1 Điều 94, chỉ khác nhau là biện pháp hòa giải tại cộng đồng “được áp dụng”, còn biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn “có thể áp dụng”[2] khi thuộc một trong hai trường hợp nêu trên. Vấn đề đặt ra, khi thuộc trường hợp áp dụng thì cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng hay giáo dục tại xã, phường, thị trấn?

Tác giả cho rằng, về nguyên tắc, phải áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng, vì đây là trường hợp “được áp dụng”. Hơn nữa, qua so sánh cho thấy, thời gian chấp hành và các nghĩa vụ phải thực hiện khi áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng nhẹ hơn biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Do vậy, để bảo đảm nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, cần ưu tiên áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng. Vậy nếu ưu tiên áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng, thì trường hợp nào sẽ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, vì đây là biện pháp “có thể áp dụng”. Việc khoản 1 Điều 95 Bộ luật Hình sự quy định “có thể áp dụng” dẫn đến tình trạng áp dụng tùy nghi, không thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng khi chưa có văn bản hướng dẫn.

Thứ hai, về Ủy ban nhân dân cấp xã được giao trách nhiệm giám sát, giáo dục: Khoản 2 Điều 95 Bộ luật Hình sự hiện hành quy định: “Người được cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức giám sát, giáo dục phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây…”. Như vậy, tùy từng giai đoạn tố tụng, cơ quan ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn sẽ phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện. Vấn đề đặt ra là Ủy ban nhân dân cấp xã nào sẽ được giao trách nhiệm giáo dục tại xã, phường, thị trấn thì Bộ luật Hình sự không quy định? Đó là Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị áp dụng cư trú, tạm trú; nơi người bị hại cư trú hay nơi xảy ra tội phạm? Việc xác định chính xác Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm giáo dục sẽ bảo đảm cho biện pháp được thực hiện, cũng như đánh giá thái độ chấp hành của người dưới 18 tuổi để xét thời gian chấm dứt trước thời hạn biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Nghiên cứu các văn bản hướng dẫn có liên quan đến biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thấy rằng, Nghị định số 37/2018/NĐ-CP[3] và Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH[4] cũng không xác định Ủy ban nhân dân cấp xã nào sẽ giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Hạn chế này không chỉ có ở biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, mà còn có trong quy định của Bộ luật Hình sự về biện pháp khiển trách và biện pháp hòa giải tại cộng đồng.

Thứ ba, về nghĩa vụ phải thực hiện: Khoản 2 Điều 95 Bộ luật Hình sự quy định các nghĩa vụ người dưới 18 tuổi phải thực hiện khi áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, bao gồm: Chấp hành đầy đủ nghĩa vụ về học tập, lao động; chịu sự giám sát, giáo dục của gia đình, xã, phường, thị trấn; không đi khỏi nơi cư trú khi không được phép; các nghĩa vụ theo quy định tại khoản 3 Điều 93 Bộ luật Hình sự.

Vấn đề đặt ra là nếu người dưới 18 tuổi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ những nghĩa vụ quy định thì xử lý thế nào, hậu quả pháp lý ra sao? Trước khi bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, người dưới 18 tuổi phạm tội đã được miễn TNHS, do vậy, dù có thực hiện hay không thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 95 thì họ cũng không bị coi là có án tích. Hơn nữa, Điều 95 cũng không quy định hậu quả pháp lý bất lợi mà người bị giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải gánh chịu khi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ. Cùng với đó, Nghị định số 37/2018/NĐ-CP chỉ quy định người bị giáo dục tại xã, phường, thị trấn nếu vi phạm thì theo đề nghị của người trực tiếp giám sát, giáo dục, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu người được giám sát, giáo dục trình diện[5] mà không quy định hình thức xử lý nào khác. Việc Bộ luật Hình sự và Nghị định số 37/2018/NĐ-CP không quy định hình thức xử lý khi vi phạm nghĩa vụ đã làm giảm tính hiệu quả của biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, chưa bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Thứ tư, về người có thẩm quyền quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn: Khoản 1 Điều 429 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành quy định các chủ thể khác nhau có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Theo đó, trong giai đoạn điều tra, thẩm quyền thuộc về Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra; trong giai đoạn truy tố, thẩm quyền thuộc về Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát; trong giai đoạn xét xử, thẩm quyền thuộc về Hội đồng xét xử.

Đối với giai đoạn điều tra và truy tố, thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn không phát sinh vướng mắc. Tuy nhiên, đối với giai đoạn xét xử, khoản 1 Điều 429 Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ quy định thẩm quyền thuộc về Hội đồng xét xử, không quy định Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa. Thực trạng này dẫn đến trường hợp trong khâu chuẩn bị xét xử, khi Hội đồng xét xử chưa được thành lập thì Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa không có quyền quyết định áp dụng giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Trong khi đó, Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thời hạn chuẩn bị xét xử đối với tội phạm thuộc trường hợp áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 30 ngày (đối với tội phạm ít nghiêm trọng), 45 ngày (đối với tội phạm nghiêm trọng) hoặc 02 tháng (đối với tội phạm rất nghiêm trọng) chưa kể gia hạn. Việc Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã kéo dài thời gian giải quyết, không tạo điều kiện để người dưới 18 tuổi sớm được hưởng chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự.

3. Một vài kiến nghị

Từ những tồn tại, hạn chế trong quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành về biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn như đã phân tích, tác giả đề xuất một số kiến nghị sau đây:

Một là, liên ngành Tư pháp trung ương hoặc Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sớm hướng dẫn quy định “có thể áp dụng” trong khoản 1 Điều 95 Bộ luật Hình sự. Việc hướng dẫn quy định nêu trên nhằm áp dụng pháp luật thống nhất, tạo điều kiện cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án xác định chính xác trường hợp nào áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, trường hợp nào áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng.

Hai là, sửa đổi quy định tại khoản 2 Điều 95 Bộ luật Hình sự theo hướng quy định Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người dưới 18 tuổi phạm tội cư trú là cơ quan được giao trách nhiệm giám sát, giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Việc quy định Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người dưới 18 tuổi phạm tội cư trú là cơ quan có trách nhiệm giám sát, giáo dục sẽ phù hợp với quy định tại điểm g khoản 2 và khoản 3 Điều 429 Bộ luật Tố tụng hình sự, cũng như tạo điều kiện cho việc quản lý, giáo dục.

Ba là, Chính phủ cần nghiên cứu sửa đổi Nghị định số 37/2018/NĐ-CP theo hướng bổ sung hình thức xử lý đối với người dưới 18 tuổi vi phạm các nghĩa vụ phải thực hiện khi thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Bốn là, sửa đổi khoản 1 Điều 429 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng bổ sung Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa là người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Khi đó, khoản 1 Điều 429 được sửa đổi thành: “1. Khi miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội mà xét thấy có đủ điều kiện áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định của Bộ luật hình sự thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong vụ án do cơ quan mình thụ lý, giải quyết”.

Nguyễn Văn Tùng & Nguyễn Văn Nhất
Học viện Cảnh sát nhân dân




[1]. Xem: Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

[2]. Xem: khoản 1 Điều 94 và khoản 1 Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3]. Nghị định số 37/2018/NĐ-CP ngày 10/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các biện pháp giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự.

[4]. Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 quy định về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi.

[5]. Xem: Điều 18 Nghị định số 37/2018/NĐ-CP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: