Thứ bảy 06/12/2025 04:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp tại tỉnh Quảng Bình

Tóm tắt: Bài viết này nêu những vướng mắc, bất cập về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp tại tỉnh Quảng Bình, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong lĩnh vực này.

Abstract: This article raises difficulties and insufficiencies of indemnification of agricultural land recovering by the State in the Quang Binh Province and puts forward some solutions for improving effect of law implementation in this area.

1. Những vướng mắc, bất cập trong thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp tại tỉnh Quảng Bình
Quảng Bình là một trong những tỉnh nghèo nhất Việt Nam, với 21% hộ gia đình sống dưới chuẩn nghèo theo quy định của Chính phủ năm 2011[1], đại đa số dân cư sinh sống chủ yếu bằng việc sản xuất nông nghiệp. Dân cư phân bố không đều, 80,47% sống ở vùng nông thôn và 19,53% sống ở thành thị[2]. Việc thu hồi đất nông nghiệp trong thời gian qua có ảnh hưởng lớn đến sự ổn định xã hội của tỉnh Quảng Bình nói chung và cuộc sống của người nông dân nói riêng. Thực tiễn áp dụng các quy định về thu hồi đất nông nghiệp tại tỉnh Quảng Bình gặp nhiều khó khăn, vướng mắc và bất cập.

Thứ nhất, hầu hết các dự án thu hồi đất tại tỉnh Quảng Bình đều xảy ra tình trạng khiếu kiện, trong đó, có khiếu kiện đông người, gay gắt vì họ cho rằng, việc bồi thường chưa thỏa đáng, đời sống không đảm bảo. Những ảnh hưởng có thể thấy rõ như: (i) Diện tích đất nông nghiệp bị giảm sút dẫn đến diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người cũng giảm; (ii) Người nông dân mất tư liệu sản xuất, dẫn đến mất việc làm, nhưng lại không có cơ hội và không có đủ điều kiện để tìm được một việc làm mới; (iii) Tiền bồi thường từ đất đã không được nông dân sử dụng đúng cách, vì vậy, sau một thời gian, họ không còn gì trong tay, tiền hết, tư liệu sản xuất không còn, không việc làm, không thu nhập; (iv) Dòng di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị càng lớn và gây ra các hệ lụy về kinh tế - xã hội là không tránh khỏi; (v) Môi trường sống của người dân tại những vùng có xây dựng khu công nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng; (vi) Khi tiến hành thu hồi đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế, chính quyền địa phương chưa giải quyết tốt được cơ chế chuyển dịch cơ cấu ngành nghề; nạn thất nghiệp, kéo theo sự nghèo đói…

Thứ hai, về việc thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm tài sản. Một thực tế phát sinh đó là, không ít thì nhiều, ai trong số các hộ dân cũng có diện tích xây dựng sau khi đã có chủ trương thu hồi đất, mục đích chính của việc làm này là để “chờ” được dự án bồi thường. Có nhiều hộ dân ở một số xã tỉnh Quảng Bình từng bị Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản vi phạm, thu dụng cụ xây dựng ban ngày, người dân lén lút xây ban đêm. Có khi chỉ một đêm, người dân đã xây xong ngôi nhà hàng trăm mét vuông. Thậm chí sau khi cán bộ khảo sát phóng tuyến, cắm mốc giới đến đâu, người dân xây dựng công trình đến đó. Do đó, đã tạo tâm lý chờ đợi, xây dựng thêm để đòi bồi thường và không chịu bàn giao mặt bằng. Để xảy ra điều này một phần là do chính sách bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất có sự khác nhau giữa các dự án dù dự án đó trong phạm vi một huyện.

Thứ ba, về việc gửi thông báo và quyết định thu hồi đất. Trong quá trình thực hiện các thủ tục thu hồi đất, cơ quan có thẩm quyền đã không gửi quyết định thu hồi đất đến các các hộ dân có đất bị thu hồi mà chỉ phát hành thông báo thu hồi đất.

Thứ tư, về thời hạn bàn giao mặt bằng. Theo điểm b khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013, thời hạn bàn giao mặt bằng của người dân có đất thu hồi là không cố định, có thể 20 ngày, 30 ngày hoặc nhiều hơn... tùy theo yêu cầu tiến độ thực hiện của từng dự án. Trường hợp người có đất thu hồi không bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì cơ quan tổ chức có thẩm quyền tổ chức vận động, thuyết phục để người có đất thu hồi thực hiện. Trường hợp người có đất thu hồi đã được vận động, thuyết phục nhưng không chấp hành việc bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất và tổ chức thực hiện việc cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất. Tuy nhiên, trên thực tế, việc người dân có đất thu hồi đã nhận đủ tiền hoặc chưa nhận tiền bồi thường, hỗ trợ không chịu bàn giao mặt bằng là rất nhiều. Một số trường hợp người dân chưa chuẩn bị được nơi ở mới; một số trường hợp khác người dân cho rằng, việc bồi thường, hỗ trợ đó chưa tương xứng với giá trị quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của mình. Không giải phóng được mặt bằng, dự án không thể triển khai hoặc triển khai rất chậm, nguồn vốn chủ đầu tư bỏ ra để đầu tư trang thiết bị, con người thực hiện dự án bị bỏ ngỏ; người dân không bàn giao mặt bằng nhưng cũng không thể đầu tư sản xuất vào đất đã có chủ trường thu hồi. Mặt khác, người dân cũng không an tâm định cư ở vị trí khác.

Thứ năm, về việc cơ quan giải phóng mặt bằng chưa tuân thủ pháp luật. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng bình thường khá phức tạp, việc cơ quan chức năng mập mờ trong quy hoạch, kế hoạch và tổ chức thực hiện đã gây ra nhiều khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời, gây ra nhiều bức xúc trong dư luận nhân dân. Cán bộ thực hiện nhiệm vụ cố tình làm sai các quy định của pháp luật, không xác định đúng loại đất, nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất đối với các thửa đất thu hồi dẫn đến chi trả tiền bồi thường giải phóng mặt bằng bị sai sót; không công bằng trong bồi thường, thậm chí “ăn chặn” của người dân gây ra nhiều bức xúc, dẫn đến việc khiếu kiện kéo dài.

Thứ sáu, việc bồi thường và hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp tại một số dự án đều bị tiền tệ hóa, quan hệ giữa chủ đầu tư và người bị thu hồi đất có tính chất “mua đứt - bán đoạn”, trong khi người bị thu hồi đất không phải là người có nhu cầu “bán đất” của mình. Nhà đầu tư sau khi trả tiền bồi thường, hỗ trợ coi như đã hết trách nhiệm với người dân.

Thứ bảy, về ý thức của người dân khi bị thu hồi đất. Thực tế cho thấy rằng, có những khiếu nại, tố cáo của người dân là hoàn toàn có cơ sở và đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, cũng có những khiếu nại, tố cáo không có cơ sở, không theo trình tự pháp luật, chỉ là sự kích động nhất thời của người sử dụng đất.

2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Để có thể nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường trong quá trình thu hồi đất nông nghiệp tại tỉnh Quảng Bình, cần tập trung vào một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, công khai hóa, minh bạch hóa quá trình thực thi pháp luật thu hồi đất nông nghiệp

Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình cần chỉ đạo, quan tâm sâu sát đối với công tác công khai hóa, minh bạch hóa quá trình thực thi pháp luật thu hồi đất nông nghiệp để người dân được biết. Trong quá trình triển khai có thể điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung phù hợp với thực tiễn của địa phương.

Thứ hai, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp nói riêng cho cán bộ và nhân dân, từ đó, tạo ra sự đồng thuận của người dân khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp

Để chính sách, pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp đi vào thực tiễn và tạo ra sự đồng thuận của người dân đòi hỏi các cơ quan chức năng của tỉnh Quảng Bình phải tổ chức tốt công tác tuyên truyền, phổ biến về chính sách, pháp luật cho người có đất bị thu hồi để họ hiểu mà cùng phối hợp cho tốt. Cần tăng cường các buổi tập huấn, phổ biến những văn bản pháp luật mới, những cơ chế, chính sách mới, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức pháp luật về thu hồi đất và kinh nghiệm giải quyết thực tiễn cho đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật về thu hồi đất nói chung và thu hồi đất nông nghiệp nói riêng tại địa phương. Ủy ban nhân dân các cấp cần tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật đất đai cũng như pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp. Phát hiện, chấn chỉnh kịp thời những yếu kém, sai phạm và xử lý nghiêm đối với các địa phương không thực hiện hoặc thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật một cách hình thức.

Thứ ba, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong quá trình thực hiện các quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất nông nghiệp

Để góp phần nâng cao hiệu quả của việc thực hiện quy trình thu hồi đất, đảm bảo tính công khai, minh bạch và đảm bảo được quyền lợi của người dân, cần tăng cường thanh tra, kiểm tra (định kỳ hoặc đột xuất) các cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan có liên quan trong quá trình thực hiện các quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nhằm phát hiện, chấn chỉnh kịp thời những yếu kém, sai phạm và xử lý nghiêm minh các vi phạm về trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp. Thực hiện việc giám sát thi hành thông qua Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc tại địa phương, nhất là vai trò giám sát xã hội của các cơ quan truyền thông, các tổ chức xã hội và người dân, đối với việc tuân thủ pháp luật đất đai nói chung cũng như các quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp nói riêng của các cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng, chính quyền cấp cơ sở, nhà đầu tư, các cơ quan có liên quan được giao nhiệm vụ thực hiện công việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp. Giải quyết kịp thời, hiệu quả các khiếu nại, tố cáo về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp và các khiếu nại, tố cáo liên quan đến trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền khi thực thi nhiệm vụ.

Thứ tư, thực hiện nghiêm túc công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Tính toán kỹ càng và xác định rõ ràng mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch xây dựng đô thị nhằm tránh hiện tượng mâu thuẫn, chồng chéo giữa các loại quy hoạch; tránh lãng phí nguồn tài nguyên đất đai, đặc biệt là đất trồng lúa khi lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Hạn chế tối đa và tiến tới chấm dứt việc điều chỉnh hoặc quyết định xem xét lại dự án. Nếu cần thiết phải điều chỉnh quy hoạch cần thực hiện đầy đủ quy trình pháp luật quy định, qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cũng như trách nhiệm của các cơ quan trong việc thực thi công việc này. Đồng thời, việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sẽ được hoàn thiện và mang tính thực tiễn hơn khi có sự tham gia đóng góp ý kiến của các chuyên gia trong các lĩnh vực đất đai, môi trường, kinh tế, tài chính và của người dân nơi thực hiện dự án. Công bố công khai và đảm bảo tính khách quan, minh bạch của quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch chi tiết các dự án chuẩn bị triển khai thực hiện trên các phương tiện thông tin truyền thông hoặc niêm yết công khai (tại trụ sở cơ quan, đơn vị lập quy hoạch, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất, trừ trường hợp quy hoạch liên quan đến an ninh, quốc phòng) và tiến hành cắm mốc giới theo quy hoạch, xác định đường chỉ giới xây dựng trên thực địa một cách rõ ràng, cụ thể. Đối với quy hoạch xây dựng, chỉ công bố về quy hoạch đối với những dự án khả thi, chuẩn bị triển khai thực hiện, không công bố những dự án chỉ trong giai đoạn nghiên cứu quy hoạch, tránh gây nên tâm lý bất an của người dân - ngồi đợi triển khai thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất. Thanh tra, kiểm tra và giám sát việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại tỉnh nhà một cách thường xuyên nhằm thực hiện nghiêm túc và đảm bảo tính thống nhất về quy hoạch giữa cấp trên và cấp dưới, giữa trung ương và địa phương. Trong trường hợp thực sự cần thiết phải điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thì phải kiểm tra lại kỹ càng lý do điều chỉnh và giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện, nhằm tránh hiện tượng điều chỉnh nhiều lần hoặc “quy hoạch một đằng, làm một nẻo” hoặc quy hoạch khập khiễng, chắp vá. Đối với những trường hợp vi phạm, cần phải chấn chỉnh kịp thời và xử lý nghiêm minh bằng việc áp dụng các chế tài thích đáng.

Thứ năm, sớm hình thành cơ chế pháp lý về chia sẻ lợi ích cho những đối tượng bị ảnh hưởng bởi thu hồi đất

Không nên áp dụng cơ chế bồi thường bằng tiền một lần, bồi thường xong coi như nhà đầu tư cũng như Nhà nước hết trách nhiệm với người bị mất đất. Vấn đề này, chúng ta có thể nghiên cứu kinh nghiệm của Ngân hàng Thế giới (WB) và một số tổ chức quốc tế khác. Họ đưa ra nguyên tắc chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan đến dự án, chi phối từ pháp luật, chính sách, quy hoạch, thu nhập, thuế ở tầm quốc gia tới việc triển khai trên thực tế có liên quan đến chính quyền địa phương, nhà đầu tư, cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng và người dân bị thiệt hại. Việc chia sẻ lợi ích có thể xem xét dưới dạng lợi ích bằng tiền hay lợi ích không bằng tiền. Lợi ích bằng tiền có thể là các khoản tiền bồi thường thêm cho dân cư bị ảnh hưởng, thiết lập các quỹ phát triển vùng dài hạn, thiết lập quan hệ đối tác giữa nhà đầu tư và cộng đồng để chia sẻ những lợi nhuận lâu dài thu được từ dự án. Lợi ích chia sẻ không bằng tiền được thực hiện dựa trên các hình thức như: Khôi phục và phát triển đời sống của dân cư địa phương thông qua tạo việc làm trong khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp; đóng góp cho phát triển cộng đồng địa phương như: Phát triển nhà ở, hạ tầng xã hội (trường học, bệnh viện, cơ sở văn hóa…); phát triển dịch vụ tài chính, hạ tầng kỹ thuật (đường giao thông công cộng, công viên, chợ…); phát triển nguồn nhân lực cho địa phương như bảo vệ nguồn nước, phục hồi rừng và trồng rừng, bảo vệ môi trường.

ThS. Hoàng Thị Thu Phương

Trung cấp Luật Đồng Hới

Tài liệu tham khảo:

[1]. Viện Nghiên cứu Y - Xã hội học.

Xem:https://www.facebook.com/permalink.php?id=369699066497093&story_fbid=394895037310829

[2]. Dân số và lao động, Niên giám thống kê năm 2014, truy cập ngày 30/5/2016.

Xem: https://www.quangbinh.gov.vn/3cms/dan-so-va-lao-dong-(nien-giam-2014).htm.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn các em đang hình thành nhân cách, dễ bồng bột, thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc và nhận thức pháp luật còn hạn chế. Nếu không được định hướng, các em rất dễ sa vào những hành vi vi phạm pháp luật đáng tiếc. Chỉ một phút nóng giận, một quyết định bồng bột… cũng đủ khiến tuổi trẻ phải trả giá bằng cả những tháng ngày sau song sắt. Thế nhưng, trong câu chuyện buồn ấy, vẫn có một điểm sáng nhân văn - đó là bàn tay nâng đỡ của trợ giúp pháp lý miễn phí, để một thiếu niên lầm lỡ có cơ hội sửa sai và làm lại từ đầu.

Theo dõi chúng tôi trên: