Thứ sáu 23/01/2026 11:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp một bên vợ, chồng chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết

Chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp một bên vợ, chồng chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết

Tóm tắt: Trong bài viết, tác giả phân tích các nguyên tắc, hậu quả pháp lý khi phân chia tài sản chung trong trường hợp một bên vợ, chồng chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật, tạo hành lang pháp lý vững chắc trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết các vụ án liên quan.

Abstract: In the article, the author analyzes the principles and legal consequences of pision of common property in the event that one of the spouses dies or is declared dead by a court decision, thereby proposing solutions to improve legal regulations, and to create a solid legal corridor during the Court's acceptance and settlement of related cases.

Nếu kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ vợ chồng thì khi vợ, chồng chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết là sự kiện làm chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng. Chia tài sản chung của vợ chồng cần phải đặt ra trong trường hợp này để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người chồng, người vợ còn sống, quyền và lợi ích của người thừa kế, người có quyền lợi liên quan cũng như tôn trọng di nguyện của người chết để lại di chúc. Tài sản chung của vợ chồng được chia theo yêu cầu của người chồng, vợ còn sống hoặc theo yêu cầu của người thừa kế của người vợ, chồng đã chết. Đối với trường hợp vợ, chồng chết, việc xác định thời điểm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật dựa vào ngày khai tử tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp Tòa án tuyên bố vợ hoặc chồng là đã chết thì thời điểm hôn nhân chấm dứt được xác định theo ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án.

1. Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp một bên vợ, chồng chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết

Nguyên tắc là những tư tưởng chính trị, pháp lý mà pháp luật quy định để hướng các chủ thể tuân theo khi tham gia các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ hôn nhân nói riêng. Trong các mối quan hệ gia đình, quan hệ vợ chồng có vai trò đặc biệt quan trọng. Vợ, chồng chỉ được hưởng di sản thừa kế của nhau tại thời điểm mở thừa kế khi mối quan hệ hôn nhân của họ hợp pháp với tư cách là vợ chồng của nhau. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết, theo quy định của pháp luật, điều này đồng nghĩa với việc chấm dứt quan hệ hôn nhân với người còn lại. Khi đó, tài sản sẽ được giải quyết theo nguyên tắc tại Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

Thứ nhất, khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

Người vợ hoặc chồng quản lý di sản có nghĩa vụ: Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác; thông báo về di sản cho những người thừa kế; bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ mà gây ra thiệt hại; giao lại tài sản theo yêu cầu của người thừa kế. Bên cạnh đó, người quản lý di sản có quyền được sử dụng di sản nếu được những người thừa kế đồng ý và được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế.

Thứ hai, khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Như vậy, nếu vợ chồng không có thỏa thuận về chế độ tài sản thì trên cơ sở luật định, tài sản chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất sẽ được chia đôi cho dù tài sản chung của vợ chồng không phải do cả hai vợ chồng cùng trực tiếp tạo ra hoặc tài sản chung của vợ chồng được tạo dựng khi vợ chồng không sống chung mà sống riêng; quyền bình đẳng giữa vợ chồng đối với tài sản chung khi thực hiện quyền sở hữu không bị phụ thuộc bởi công sức đóng góp của vợ chồng. Nguyên tắc chia đôi này đã được quy định trong Bộ Quốc triều Hình luật: “Khi vợ hoặc chồng chết thì điền sản đều được chia đôi mỗi người một nửa” (Điều 374); cũng như tại Điều 94 Sắc luật số 15/64 và Điều thứ 201 Bộ Dân luật năm 1972, theo đó, trường hợp vợ chồng không có hôn ước thì chia theo nguyên tắc: Tài sản của bên nào vẫn thuộc sở hữu của bên đó, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi cho vợ, chồng mỗi người một nửa. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 cũng quy định: “Khi một bên chết trước, nếu cần chia tài sản chung của vợ chồng thì chia đôi” (Điều 17). Nguyên tắc này không được ghi nhận trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung lỗ hổng này, bảo đảm sự bình đẳng của vợ chồng trong việc tạo lập, phát triển khối tài sản chung, tạo thuận lợi cho việc giải quyết các tranh chấp phát sinh.

Thứ ba, hạn chế phân chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình.

Về nguyên tắc, thời điểm người có tài sản chết là thời điểm mở thừa kế. Kể từ thời điểm này, những người thừa kế có quyền yêu cầu chia di sản. Tuy nhiên, để bảo đảm ổn định cuộc sống của bên vợ hoặc chồng còn sống, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định, trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật Dân sự.

2. Hậu quả pháp lý khi chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp một bên vợ, chồng chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết

2.1. Về nhân thân

Khi một bên vợ, chồng chết hoặc Tòa án tuyên bố là đã chết thì quan hệ hôn nhân chấm dứt. Khi vợ, chồng chết thì các quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng phát sinh từ khi kết hôn sẽ chấm dứt. Người chồng, vợ còn sống tiếp tục được hưởng các quyền lợi phát sinh từ hôn nhân với người vợ, chồng đã chết mà không phụ thuộc vào việc người đó có lấy vợ, chồng khác hay không: Quyền về họ, tên, dân tộc... Người chồng, vợ còn sống có quyền kết hôn với người khác theo quy định của pháp luật.

Thực tế có trường hợp vì những lý do khác nhau (tai nạn, chiến tranh...) đã không thể xác định được vợ, chồng còn sống hay đã chết. Trong những trường hợp như vậy, nhằm ổn định các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, của những người có quyền, lợi ích liên quan, pháp luật đã quy định những điều kiện, trình tự để chấm dứt tư cách chủ thể của vợ, chồng: Tuyên bố là đã chết. Theo quy định tại Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án tuyên bố một người là đã chết nếu có yêu cầu của những người có quyền hoặc lợi ích liên quan trong trường hợp:

- Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

- Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

- Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

- Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống.

Trường hợp người vợ, chồng có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết, các quan hệ nhân thân của người đó được giải quyết như đối với vợ, chồng chết. Trong trường hợp người vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết quay trở về hoặc có tin tức xác thực người đó còn sống thì theo yêu cầu của chồng, vợ hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người vợ, chồng là đã chết. Khoản 1 Điều 67 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết mà vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được khôi phục kể từ thời điểm kết hôn; trong trường hợp có quyết định cho ly hôn của Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật này thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật. Trường hợp chồng, vợ của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được xác lập sau có hiệu lực pháp luật.

2.2. Về tài sản

Khi một bên vợ, chồng chết trước hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì sẽ phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và pháp luật thừa kế. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế. Trường hợp người đã bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở về muốn đòi lại tài sản đã chia thì những người đã hưởng thừa kế, được phân chia thừa kế sẽ phải hoàn trả lại cho người đã bị tuyên bố chết mà trở về khi có yêu cầu.

Vấn đề khôi phục chế độ tài sản của vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết mà lại trở về đã được dự liệu tại khoản 3 Điều 73 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, người bị tuyên bố là đã chết mà còn sống có quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn; trường hợp người thừa kế của người bị tuyên bố là đã chết biết người này còn sống mà cố tình giấu giếm nhằm hưởng thừa kế thì người đó phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã nhận, kể cả hoa lợi, lợi tức; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Khoản 2 Điều 67 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định quan hệ tài sản của người bị tuyên bố là đã chết trở về với người vợ hoặc chồng được giải quyết như sau:

- Trong trường hợp hôn nhân được khôi phục thì quan hệ tài sản được khôi phục kể từ thời điểm quyết định của Tòa án hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực. Tài sản do vợ, chồng có được kể từ thời điểm quyết định của Tòa án về việc tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực đến khi quyết định hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của người đó;

- Trong trường hợp hôn nhân không được khôi phục thì tài sản có được trước khi quyết định của Tòa án về việc tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực mà chưa chia được giải quyết như chia tài sản khi ly hôn.

Như vậy, với việc xác định tài sản do vợ, chồng có được kể từ thời điểm quyết định của Tòa án về việc tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực đến khi quyết định hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của người vợ hoặc chồng đã tạo sự thống nhất trong áp dụng pháp luật.

3. Thực tiễn chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp một bên vợ, chồng chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết

Thứ nhất, về nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết:

Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rõ, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nếu không có thỏa thuận về chế độ tài sản. Điều đó có nghĩa là, việc phân chia tài sản chung không căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên. Tuy nhiên, thực tế vẫn ghi nhận những bản án chia tài sản chung khi vợ, chồng chết áp dụng nguyên tắc này bị sửa, hủy. Vì vậy, cần có quy định pháp luật cụ thể trong trường hợp vợ, chồng chết trước thì tài sản chung được chia như thế nào, có xem xét đến công sức đóng góp của mỗi bên hay không để các Tòa án có cơ sở áp dụng thống nhất.

Thứ hai, về hậu quả pháp lý chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết:

Các trường hợp chia tài sản chung khi vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết, thực tiễn cho thấy, thông thường, bên còn sống sẽ không yêu cầu chia tài sản mà tiếp tục quản lý, sử dụng để bảo đảm đời sống của gia đình, trừ trường hợp bên vợ, chồng đã chết có để lại di chúc phân chia di sản thừa kế hoặc trường hợp những người thừa kế có tranh chấp yêu cầu phân chia di sản thừa kế thì khi đó tài sản chung của vợ chồng mới được chia.

Điểm a khoản 2 Điều 67 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp hôn nhân được khôi phục thì quan hệ tài sản được khôi phục kể từ thời điểm quyết định của Tòa án hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực”. Từ đây, phát sinh một vấn đề mà Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chưa dự liệu. Những giao dịch mà người chồng, vợ đã thực hiện với người khác bằng tài sản chung của vợ chồng có được coi là hợp pháp mặc dù không có sự thỏa thuận của bên kia (bị Tòa án tuyên bố là đã chết) hay không? Những khoản nợ mà người chồng, vợ vay của người khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu như nuôi dưỡng, giáo dục con cái, nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc nuôi dưỡng người nào đó thuộc nghĩa vụ chung của vợ chồng có thuộc trách nhiệm liên đới giữa vợ chồng không, người trở về phải gánh chịu một nửa hay là thuộc trách nhiệm của riêng người chồng, vợ đã thực hiện? Bởi khi vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết thì quan hệ hôn nhân không còn tồn tại, người còn sống xác lập các giao dịch dân sự với tư cách riêng của mình; khi người vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở về, quan hệ hôn nhân của họ lại được phục hồi, khoảng thời gian gián đoạn đó có được coi là vẫn trong “thời kỳ hôn nhân” hay không? Đây là vấn đề cần được dự liệu trong luật để có cơ sở pháp lý giải quyết, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người có liên quan.

4. Một số đề xuất, kiến nghị

Thứ nhất, trong trường hợp hôn nhân được khôi phục do vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết trở về theo quy định thì quan hệ tài sản chung đương nhiên được khôi phục cùng lúc với việc khôi phục quan hệ hôn nhân mà không cần có thỏa thuận là điều hợp lý. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, khi xác định tài sản chung trong trường hợp này, cần tính đến công sức đóng góp, tôn tạo, giữ gìn và phát triển khối tài sản chung của người còn lại trong thời gian vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết.

Thứ hai, cần có quy định mở để giải quyết chế độ tài sản trong trường hợp hôn nhân không được khôi phục và tài sản của người được tuyên bố là đã chết trở về đã được giải quyết theo quy định của pháp luật theo các thủ tục ly hôn hoặc thừa kế. Theo đó, để quy định được cụ thể, rõ ràng, cần bổ sung vào khoản 2 Điều 67 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nội dung cụ thể như sau: “Quan hệ tài sản của người bị tuyên bố là đã chết trở về với người vợ hoặc chồng được giải quyết như sau: (a) Trường hợp hôn nhân được khôi phục thì quan hệ tài sản được khôi phục kể từ thời điểm kết hôn; tài sản do vợ, chồng có được kể từ thời điểm quyết định của Tòa án về việc tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực đến khi quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của người đó. (b) Trường hợp hôn nhân không được khôi phục thì tài sản có được trước khi quyết định của Tòa án về việc tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực mà chưa chia được giải quyết như quy định tại Điều 59 của Luật này. (c) Tài sản của người bị tuyên bố là đã chết trở về được giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự”.

Tóm lại, khi một cá nhân chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết sẽ dẫn đến nhiều hậu quả pháp lý khác nhau như quan hệ nhân thân, quan hệ cha mẹ, con và đặc biệt là hậu quả về mặt tài sản, liên quan trực tiếp đến quyền lợi của các chủ thể khác nhau trong quan hệ dân sự và nhân thân. Trong bài viết, tác giả làm rõ các nguyên tắc phân chia tài sản chung cũng như hậu quả pháp lý khi chia tài sản trong trường hợp này. Đặc biệt, bài viết thông qua thực tiễn áp dụng pháp luật hôn nhân và gia đình đã chỉ ra những khó khăn, bất cập, từ đó, đề xuất hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về việc chia tài sản chung của vợ chồng khi một trong hai bên chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết. Trên cơ sở đó, tạo nên căn cứ pháp lý vững chắc, thống nhất giúp cơ quan nhà nước giải quyết các tranh chấp dễ dàng hơn, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của vợ, chồng và các thành viên khác trong gia đình.

NCS.ThS. Nguyễn Thị Phương

Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: