Thứ hai 07/09/2026 03:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp một bên vợ, chồng chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết

Chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp một bên vợ, chồng chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết

Tóm tắt: Trong bài viết, tác giả phân tích các nguyên tắc, hậu quả pháp lý khi phân chia tài sản chung trong trường hợp một bên vợ, chồng chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật, tạo hành lang pháp lý vững chắc trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết các vụ án liên quan.

Abstract: In the article, the author analyzes the principles and legal consequences of pision of common property in the event that one of the spouses dies or is declared dead by a court decision, thereby proposing solutions to improve legal regulations, and to create a solid legal corridor during the Court's acceptance and settlement of related cases.

Nếu kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ vợ chồng thì khi vợ, chồng chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết là sự kiện làm chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng. Chia tài sản chung của vợ chồng cần phải đặt ra trong trường hợp này để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người chồng, người vợ còn sống, quyền và lợi ích của người thừa kế, người có quyền lợi liên quan cũng như tôn trọng di nguyện của người chết để lại di chúc. Tài sản chung của vợ chồng được chia theo yêu cầu của người chồng, vợ còn sống hoặc theo yêu cầu của người thừa kế của người vợ, chồng đã chết. Đối với trường hợp vợ, chồng chết, việc xác định thời điểm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật dựa vào ngày khai tử tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp Tòa án tuyên bố vợ hoặc chồng là đã chết thì thời điểm hôn nhân chấm dứt được xác định theo ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án.

1. Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp một bên vợ, chồng chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết

Nguyên tắc là những tư tưởng chính trị, pháp lý mà pháp luật quy định để hướng các chủ thể tuân theo khi tham gia các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ hôn nhân nói riêng. Trong các mối quan hệ gia đình, quan hệ vợ chồng có vai trò đặc biệt quan trọng. Vợ, chồng chỉ được hưởng di sản thừa kế của nhau tại thời điểm mở thừa kế khi mối quan hệ hôn nhân của họ hợp pháp với tư cách là vợ chồng của nhau. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết, theo quy định của pháp luật, điều này đồng nghĩa với việc chấm dứt quan hệ hôn nhân với người còn lại. Khi đó, tài sản sẽ được giải quyết theo nguyên tắc tại Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

Thứ nhất, khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

Người vợ hoặc chồng quản lý di sản có nghĩa vụ: Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác; thông báo về di sản cho những người thừa kế; bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ mà gây ra thiệt hại; giao lại tài sản theo yêu cầu của người thừa kế. Bên cạnh đó, người quản lý di sản có quyền được sử dụng di sản nếu được những người thừa kế đồng ý và được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế.

Thứ hai, khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Như vậy, nếu vợ chồng không có thỏa thuận về chế độ tài sản thì trên cơ sở luật định, tài sản chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất sẽ được chia đôi cho dù tài sản chung của vợ chồng không phải do cả hai vợ chồng cùng trực tiếp tạo ra hoặc tài sản chung của vợ chồng được tạo dựng khi vợ chồng không sống chung mà sống riêng; quyền bình đẳng giữa vợ chồng đối với tài sản chung khi thực hiện quyền sở hữu không bị phụ thuộc bởi công sức đóng góp của vợ chồng. Nguyên tắc chia đôi này đã được quy định trong Bộ Quốc triều Hình luật: “Khi vợ hoặc chồng chết thì điền sản đều được chia đôi mỗi người một nửa” (Điều 374); cũng như tại Điều 94 Sắc luật số 15/64 và Điều thứ 201 Bộ Dân luật năm 1972, theo đó, trường hợp vợ chồng không có hôn ước thì chia theo nguyên tắc: Tài sản của bên nào vẫn thuộc sở hữu của bên đó, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi cho vợ, chồng mỗi người một nửa. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 cũng quy định: “Khi một bên chết trước, nếu cần chia tài sản chung của vợ chồng thì chia đôi” (Điều 17). Nguyên tắc này không được ghi nhận trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung lỗ hổng này, bảo đảm sự bình đẳng của vợ chồng trong việc tạo lập, phát triển khối tài sản chung, tạo thuận lợi cho việc giải quyết các tranh chấp phát sinh.

Thứ ba, hạn chế phân chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình.

Về nguyên tắc, thời điểm người có tài sản chết là thời điểm mở thừa kế. Kể từ thời điểm này, những người thừa kế có quyền yêu cầu chia di sản. Tuy nhiên, để bảo đảm ổn định cuộc sống của bên vợ hoặc chồng còn sống, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định, trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật Dân sự.

2. Hậu quả pháp lý khi chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp một bên vợ, chồng chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết

2.1. Về nhân thân

Khi một bên vợ, chồng chết hoặc Tòa án tuyên bố là đã chết thì quan hệ hôn nhân chấm dứt. Khi vợ, chồng chết thì các quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng phát sinh từ khi kết hôn sẽ chấm dứt. Người chồng, vợ còn sống tiếp tục được hưởng các quyền lợi phát sinh từ hôn nhân với người vợ, chồng đã chết mà không phụ thuộc vào việc người đó có lấy vợ, chồng khác hay không: Quyền về họ, tên, dân tộc... Người chồng, vợ còn sống có quyền kết hôn với người khác theo quy định của pháp luật.

Thực tế có trường hợp vì những lý do khác nhau (tai nạn, chiến tranh...) đã không thể xác định được vợ, chồng còn sống hay đã chết. Trong những trường hợp như vậy, nhằm ổn định các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, của những người có quyền, lợi ích liên quan, pháp luật đã quy định những điều kiện, trình tự để chấm dứt tư cách chủ thể của vợ, chồng: Tuyên bố là đã chết. Theo quy định tại Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án tuyên bố một người là đã chết nếu có yêu cầu của những người có quyền hoặc lợi ích liên quan trong trường hợp:

- Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

- Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

- Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

- Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống.

Trường hợp người vợ, chồng có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết, các quan hệ nhân thân của người đó được giải quyết như đối với vợ, chồng chết. Trong trường hợp người vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết quay trở về hoặc có tin tức xác thực người đó còn sống thì theo yêu cầu của chồng, vợ hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người vợ, chồng là đã chết. Khoản 1 Điều 67 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết mà vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được khôi phục kể từ thời điểm kết hôn; trong trường hợp có quyết định cho ly hôn của Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật này thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật. Trường hợp chồng, vợ của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được xác lập sau có hiệu lực pháp luật.

2.2. Về tài sản

Khi một bên vợ, chồng chết trước hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì sẽ phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và pháp luật thừa kế. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế. Trường hợp người đã bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở về muốn đòi lại tài sản đã chia thì những người đã hưởng thừa kế, được phân chia thừa kế sẽ phải hoàn trả lại cho người đã bị tuyên bố chết mà trở về khi có yêu cầu.

Vấn đề khôi phục chế độ tài sản của vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết mà lại trở về đã được dự liệu tại khoản 3 Điều 73 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, người bị tuyên bố là đã chết mà còn sống có quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn; trường hợp người thừa kế của người bị tuyên bố là đã chết biết người này còn sống mà cố tình giấu giếm nhằm hưởng thừa kế thì người đó phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã nhận, kể cả hoa lợi, lợi tức; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Khoản 2 Điều 67 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định quan hệ tài sản của người bị tuyên bố là đã chết trở về với người vợ hoặc chồng được giải quyết như sau:

- Trong trường hợp hôn nhân được khôi phục thì quan hệ tài sản được khôi phục kể từ thời điểm quyết định của Tòa án hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực. Tài sản do vợ, chồng có được kể từ thời điểm quyết định của Tòa án về việc tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực đến khi quyết định hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của người đó;

- Trong trường hợp hôn nhân không được khôi phục thì tài sản có được trước khi quyết định của Tòa án về việc tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực mà chưa chia được giải quyết như chia tài sản khi ly hôn.

Như vậy, với việc xác định tài sản do vợ, chồng có được kể từ thời điểm quyết định của Tòa án về việc tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực đến khi quyết định hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của người vợ hoặc chồng đã tạo sự thống nhất trong áp dụng pháp luật.

3. Thực tiễn chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp một bên vợ, chồng chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết

Thứ nhất, về nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết:

Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rõ, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nếu không có thỏa thuận về chế độ tài sản. Điều đó có nghĩa là, việc phân chia tài sản chung không căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên. Tuy nhiên, thực tế vẫn ghi nhận những bản án chia tài sản chung khi vợ, chồng chết áp dụng nguyên tắc này bị sửa, hủy. Vì vậy, cần có quy định pháp luật cụ thể trong trường hợp vợ, chồng chết trước thì tài sản chung được chia như thế nào, có xem xét đến công sức đóng góp của mỗi bên hay không để các Tòa án có cơ sở áp dụng thống nhất.

Thứ hai, về hậu quả pháp lý chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết:

Các trường hợp chia tài sản chung khi vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết, thực tiễn cho thấy, thông thường, bên còn sống sẽ không yêu cầu chia tài sản mà tiếp tục quản lý, sử dụng để bảo đảm đời sống của gia đình, trừ trường hợp bên vợ, chồng đã chết có để lại di chúc phân chia di sản thừa kế hoặc trường hợp những người thừa kế có tranh chấp yêu cầu phân chia di sản thừa kế thì khi đó tài sản chung của vợ chồng mới được chia.

Điểm a khoản 2 Điều 67 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp hôn nhân được khôi phục thì quan hệ tài sản được khôi phục kể từ thời điểm quyết định của Tòa án hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực”. Từ đây, phát sinh một vấn đề mà Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chưa dự liệu. Những giao dịch mà người chồng, vợ đã thực hiện với người khác bằng tài sản chung của vợ chồng có được coi là hợp pháp mặc dù không có sự thỏa thuận của bên kia (bị Tòa án tuyên bố là đã chết) hay không? Những khoản nợ mà người chồng, vợ vay của người khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu như nuôi dưỡng, giáo dục con cái, nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc nuôi dưỡng người nào đó thuộc nghĩa vụ chung của vợ chồng có thuộc trách nhiệm liên đới giữa vợ chồng không, người trở về phải gánh chịu một nửa hay là thuộc trách nhiệm của riêng người chồng, vợ đã thực hiện? Bởi khi vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết thì quan hệ hôn nhân không còn tồn tại, người còn sống xác lập các giao dịch dân sự với tư cách riêng của mình; khi người vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở về, quan hệ hôn nhân của họ lại được phục hồi, khoảng thời gian gián đoạn đó có được coi là vẫn trong “thời kỳ hôn nhân” hay không? Đây là vấn đề cần được dự liệu trong luật để có cơ sở pháp lý giải quyết, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người có liên quan.

4. Một số đề xuất, kiến nghị

Thứ nhất, trong trường hợp hôn nhân được khôi phục do vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết trở về theo quy định thì quan hệ tài sản chung đương nhiên được khôi phục cùng lúc với việc khôi phục quan hệ hôn nhân mà không cần có thỏa thuận là điều hợp lý. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, khi xác định tài sản chung trong trường hợp này, cần tính đến công sức đóng góp, tôn tạo, giữ gìn và phát triển khối tài sản chung của người còn lại trong thời gian vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết.

Thứ hai, cần có quy định mở để giải quyết chế độ tài sản trong trường hợp hôn nhân không được khôi phục và tài sản của người được tuyên bố là đã chết trở về đã được giải quyết theo quy định của pháp luật theo các thủ tục ly hôn hoặc thừa kế. Theo đó, để quy định được cụ thể, rõ ràng, cần bổ sung vào khoản 2 Điều 67 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nội dung cụ thể như sau: “Quan hệ tài sản của người bị tuyên bố là đã chết trở về với người vợ hoặc chồng được giải quyết như sau: (a) Trường hợp hôn nhân được khôi phục thì quan hệ tài sản được khôi phục kể từ thời điểm kết hôn; tài sản do vợ, chồng có được kể từ thời điểm quyết định của Tòa án về việc tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực đến khi quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của người đó. (b) Trường hợp hôn nhân không được khôi phục thì tài sản có được trước khi quyết định của Tòa án về việc tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực mà chưa chia được giải quyết như quy định tại Điều 59 của Luật này. (c) Tài sản của người bị tuyên bố là đã chết trở về được giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự”.

Tóm lại, khi một cá nhân chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết sẽ dẫn đến nhiều hậu quả pháp lý khác nhau như quan hệ nhân thân, quan hệ cha mẹ, con và đặc biệt là hậu quả về mặt tài sản, liên quan trực tiếp đến quyền lợi của các chủ thể khác nhau trong quan hệ dân sự và nhân thân. Trong bài viết, tác giả làm rõ các nguyên tắc phân chia tài sản chung cũng như hậu quả pháp lý khi chia tài sản trong trường hợp này. Đặc biệt, bài viết thông qua thực tiễn áp dụng pháp luật hôn nhân và gia đình đã chỉ ra những khó khăn, bất cập, từ đó, đề xuất hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về việc chia tài sản chung của vợ chồng khi một trong hai bên chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết. Trên cơ sở đó, tạo nên căn cứ pháp lý vững chắc, thống nhất giúp cơ quan nhà nước giải quyết các tranh chấp dễ dàng hơn, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của vợ, chồng và các thành viên khác trong gia đình.

NCS.ThS. Nguyễn Thị Phương

Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: