Thứ ba 22/09/2026 13:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước và tổ chức đại diện doanh nghiệp trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Để làm rõ khái niệm về phối hợp trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, trước tiên cần xác định thế nào là “phối hợp” và thế nào là “hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp”.

1. Khái quát về phối hợp trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
1.1. Thế nào là phối hợp trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp?

Có thể hiểu, phối hợp là mối quan hệ giữa hai hay nhiều chủ thể khác nhau trong quá trình triển khai, thực hiện và cùng nhằm đạt mục đích chung. Nói cách khác, phối hợp là sự tham gia làm việc cùng với nhau của từ ít nhất hai chủ thể trở lên, hành động theo một kế hoạch chung nhằm đạt được mục tiêu chung.

Trong khi đó, khái niệm hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là thuật ngữ chưa được làm rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/5/2008 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và Quyết định số 585/QĐ-TTg ngày 05/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn năm 2010 - 2014 (Quyết định số 585/QĐ-TTg). Tuy nhiên, nghiên cứu nội dung các quy định pháp lý hiện hành và căn cứ trên thực tiễn, có thể hiểu hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là việc các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện miễn phí các hoạt động do pháp luật quy định nhằm nâng cao tri thức pháp luật và ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật của doanh nghiệp, góp phần bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong kinh doanh, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Từ đó, có thể đưa ra khái niệm “phối hợp trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp” như sau:

Phối hợp trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là việc các chủ thể được giao nhiệm vụ hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp cùng nhau bàn bạc, xây dựng và thực hiện các hoạt động dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm đạt được mục đích chung là nâng cao tri thức pháp luật và ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật của doanh nghiệp, góp phần bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong kinh doanh, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

1.2. Sự cần thiết của việc phối hợp trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Việc phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là rất cần thiết, vì những lý do cơ bản sau:

Thứ nhất, hoạt động của doanh nghiệp rất đa dạng, liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của nhiều bộ, ngành, địa phương và chức năng đại diện của nhiều hiệp hội doanh nghiệp. Có thể thấy rằng, một doanh nghiệp khi được hình thành và tham gia vào thị trường sẽ chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Ví dụ: Đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, bên cạnh Luật Doanh nghiệp là luật gốc về doanh nghiệp, các công ty còn chịu sự điều chỉnh của Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn. Để có thể hoạt động ổn định và hạn chế các rủi ro pháp lý không đáng có, doanh nghiệp này cần phải nắm rõ các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên. Do vậy, để hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp một cách hiệu quả, cần có sự tham gia phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước. Các cơ quan này, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình sẽ đưa ra lời giải đáp trong lĩnh vực mà mình được giao; trong trường hợp vấn đề liên quan đến nhiều bộ, ngành thì các bộ, ngành đó cần phối hợp với nhau để giải quyết.

Thứ hai, mỗi cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức đại diện cho doanh nghiệp đều có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn riêng. Việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước và chức năng đại diện cho tiếng nói của doanh nghiệp là hoàn toàn độc lập nhau. Do vậy, để đạt được sự thống nhất trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và cùng hướng đến một mục tiêu chung, các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức có liên quan cần phải phối hợp với nhau, tránh chồng chéo và trùng lặp về thẩm quyền.

2. Cơ chế phối hợp giữa cơ quan nhà nước và tổ chức đại diện cho doanh nghiệp trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo pháp luật hiện hành

Để thực hiện việc phối hợp trong hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp một cách có hiệu quả, các chủ thể có thẩm quyền phải căn cứ vào quy định của pháp luật bao gồm: (i) Nhóm các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp: Nghị định số 66/2008/NĐ-CP, Quyết định số 585/QĐ-TTg, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017…; (ii) Nhóm các văn bản quy phạm pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các chủ thể như: Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các văn bản hướng dẫn thi hành khác (như các nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, ngành)…

Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên, vị trí, vai trò và cơ chế phối hợp giữa cơ quan nhà nước và tổ chức đại diện cho doanh nghiệp trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp đã được xác định cụ thể như sau:

2.1. Ở Trung ương

- Về cơ quan đầu mối thực hiện: Theo quy định tại khoản 21 Điều 2 Nghị định số 96/2017/NĐ-CP ngày 16/8/2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Tư pháp, thì Bộ Tư pháp thực hiện việc hướng dẫn nghiệp vụ, kiểm tra công tác pháp chế bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp nhà nước và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; thực hiện hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, khoản 1 Điều 13 Nghị định số 66/2008/NĐ-CP quy định: “Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong phạm vi cả nước. Trong phạm vi trách nhiệm của mình, Bộ Tư pháp có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Chủ trì hoặc tham gia xây dựng trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp;

b) Chủ động tổ chức thực hiện hoặc phối hợp thực hiện hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định này;

c) Tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật và hướng dẫn kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp;

d) Phối hợp với các bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp;

đ) Chủ trì, phối hợp với các bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổng kết công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và định kỳ hàng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ”.

Ngoài ra, trên cơ sở Quyết định số 585/QĐ-TTg, Bộ Tư pháp được giao chủ trì phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức các hoạt động gồm: Thông tin pháp lý cho doanh nghiệp dưới nhiều hình thức khác nhau; xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình phổ biến kiến thức cơ bản về pháp luật kinh doanh trên các phương tiện thông tin đại chúng cho doanh nghiệp; tổ chức thực hiện các chương trình bồi dưỡng kiến thức cơ bản về pháp luật kinh doanh cho người quản lý doanh nghiệp; tổ chức bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ pháp chế cho cán bộ pháp chế của doanh nghiệp; xây dựng mạng lưới tư vấn pháp luật cho các doanh nghiệp tại các địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; xây dựng và tổ chức thực hiện các dự án điểm về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại một số địa phương đại diện cho các vùng miền; xây dựng và thực hiện các hoạt động hỗ trợ nâng cao năng lực cho các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo quy định của Nghị định số 66/2008/NĐ-CP...

- Về cơ quan phối hợp thực hiện: Sau khi Nghị định số 66/2008/NĐ-CP được ban hành, các bộ, cơ quan ngang bộ đã phân công Vụ Pháp chế làm đầu mối tổ chức triển khai các quy định về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Một số bộ, cơ quan ngang bộ đã hoàn thành khối lượng lớn hoạt động hỗ trợ pháp lý thuộc phạm vi chức năng của mình nhằm tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp thực thi pháp luật, trong đó, nổi bật lên vai trò của Bộ Tài chính trong việc triển khai các hoạt động liên quan tới lĩnh vực thuế, hải quan; Bộ Giao thông vận tải trong lĩnh vực kinh doanh giao thông, vận tải của doanh nghiệp; Bộ Quốc phòng trong lĩnh vực doanh nghiệp quốc phòng, an ninh… Nhận thức của doanh nghiệp về pháp luật trong các lĩnh vực được nâng cao, giúp doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế nắm vững pháp luật để thực hiện, hạn chế các vi phạm trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời phục vụ tốt cho công tác quản lý nhà nước của bộ, ngành.

Có thể nói, công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong thời gian qua đã được Bộ Tư pháp - cơ quan chủ trì thực hiện phối hợp với các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh triển khai một cách liên tục nên đã đem lại kết quả tích cực cho doanh nghiệp, được chủ sở hữu, người quản lý doanh nghiệp, đại diện cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao.

2.2. Ở địa phương

Theo quy định của Nghị định số 66/2008/NĐ-CP thì các chủ thể tham gia thực hiện hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp ở địa phương bao gồm: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp, các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các tổ chức có liên quan khác. Vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của các chủ thể này trong hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp cụ thể như sau:

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Là cơ quan chủ trì, giữ vai trò chủ động tổ chức thực hiện hoặc phối hợp thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo quy định; tổ chức tổng kết công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và báo cáo cho Bộ Tư pháp theo định kỳ hàng năm hoặc theo yêu cầu để Bộ Tư pháp tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Sở Tư pháp: Là cơ quan đầu mối thực hiện, giữ vai trò là cơ quan tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại địa phương và là đầu mối phối hợp với các cơ quan chuyên môn khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo quy định.

Các cơ quan chuyên môn khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Giữ vai trò là đơn vị phối hợp với cơ quan đầu mối để thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.

Thực hiện quy định của Nghị định số 66/2008/NĐ-CP, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn chủ động nắm bắt nhu cầu hỗ trợ pháp lý của doanh nghiệp, tổ chức thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định số 66/2008/NĐ-CP. Qua thống kê cho thấy, hầu hết các Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã ban hành kế hoạch thực hiện hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, một số Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành văn bản hướng dẫn thi hành và các đề án, chương trình, trong đó quy định cụ thể trách nhiệm của các sở, ban, ngành trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Các địa phương ban hành văn bản hướng dẫn kịp thời làm cơ sở pháp lý và tạo sự chuyển biến tích cực cho việc triển khai các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong phạm vi địa phương mình quản lý.

Nhìn chung, Nghị định số 66/2008/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý cho Ủy ban nhân dân các tỉnh chỉ đạo, điều hành, quản lý hoạt động hỗ trợ pháp lý của cơ quan nhà nước đối với doanh nghiệp bảo đảm đúng pháp luật và chủ trương, chính sách của Nhà nước. Thông qua các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, hoạt động hỗ trợ pháp lý được thực hiện đối với mọi doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu, quy mô và lĩnh vực hoạt động. Công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được thực hiện kịp thời, đầy đủ và chính xác, đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

2.3. Các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp

Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp được quy định tại Nghị định số 66/2008/NĐ-CP. Cụ thể, theo Điều 5 Nghị định số 66/2008/NĐ-CP thì các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp có trách nhiệm chủ động tổ chức thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình cũng như phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức khác có liên quan trong việc thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo quy định. Như vậy, vai trò của các hiệp hội, tổ chức xã hội của doanh nghiệp từ trung ương đến địa phương được xác định là hết sức quan trọng trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Các tổ chức này có thể chủ động hoặc có thể là đơn vị phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức khác có liên quan trong việc thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.

Thực tế cho thấy, sau khi Nghị định số 66/2008/NĐ-CP được ban hành, các tổ chức đại diện của doanh nghiệp đều chủ động nghiên cứu tài liệu và tìm hiểu các chính sách, văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổ chức mình. Đa số các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp địa phương đã rất tích cực trong việc thực hiện chức năng đại diện của cộng đồng doanh nghiệp trong việc hỗ trợ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên.

Theo kết quả tổng hợp khảo sát của Bộ Tư pháp năm 2012 cho thấy, ngay sau khi Nghị định số 66/2008/NĐ-CP được ban hành, đa số tổ chức đại diện cho doanh nghiệp đã thành lập các bộ phận chuyên môn liên quan tới công tác thông tin pháp lý, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, tư vấn pháp luật, phát triển nguồn nhân lực trực thuộc có chức năng tham mưu cho các tổ chức đại diện doanh nghiệp trong việc hỗ trợ pháp lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên. Các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp đã triển khai nhiều hội thảo, diễn đàn, tọa đàm xoay quanh các chuyên đề về pháp luật kinh doanh nhằm khuyến cáo doanh nghiệp thực thi pháp luật, qua đó kiến nghị với cơ quan chức năng về việc hoàn thiện chính sách, pháp luật. Đồng thời, các tổ chức này cũng thường xuyên hợp tác, giao lưu với tổ chức đại diện cho doanh nghiệp tạo mạng lưới bền vững cho công tác hỗ trợ quyền lợi của hội viên. Một số hiệp hội doanh nghiệp địa phương đã chủ động đề xuất kế hoạch và tổ chức hội thảo, diễn đàn về tìm hiểu, thực thi và kiến nghị hoàn thiện pháp luật, đồng thời tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức cho doanh nghiệp, trong đó đã lồng ghép được một số lớp đào tạo kiến thức pháp luật theo yêu cầu của doanh nghiệp.

3. Kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa trung ương và địa phương, các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp trong quá trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Có thể thấy rằng, các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cũng như tổ chức đại diện cho doanh nghiệp đã có nhiều cố gắng trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Theo đó, 100% các bộ, ngành và 63 địa phương đã ban hành kế hoạch triển khai công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Một số bộ, ngành, địa phương đã ban hành Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong phạm vi ngành, địa phương mình theo Nghị định số 66/2008/NĐ-CP. Tuy nhiên, hiệu quả của các kế hoạch, Chương trình này vẫn chưa cao, nguyên nhân một phần đến từ cơ chế phối hợp giữa trung ương và địa phương, các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp trong quá trình tổ chức các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp còn hạn chế, chưa tạo ra nguồn lực thống nhất để hình thành sức mạnh tổng hợp trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.

Để nâng cao hơn nữa cơ chế phối hợp giữa trung ương và địa phương, các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp trong quá trình tổ chức các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, trong thời gian tới, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, hiện nay, điểm hạn chế rõ nhất trong cơ chế hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa các tổ chức, cơ quan có chức năng thực hiện việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Hậu quả là đã xảy ra tình trạng trùng lặp trong các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Vì vậy, để nâng cao tính hiệu quả, tránh sự trùng lặp, cần phải khắc phục tình trạng biệt lập, không có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp khi thực hiện hoạt động hỗ trợ pháp lý.

Thứ hai, trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, nhiều hiệp hội doanh nghiệp chưa thực sự coi trọng yếu tố phục vụ. Cụ thể là, trong quá trình thực hiện các biện pháp hỗ trợ pháp lý (như hội nghị, hội thảo bồi dưỡng kiến thức pháp luật) mà Câu lạc bộ Pháp chế doanh nghiệp là đơn vị có chức năng thực hiện thì nhiều hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa ở địa phương đã đặt ra yêu cầu rất rõ ràng về khoản tiền mà đơn vị này phải được hưởng. Trong khi kinh phí cho hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp còn rất hạn chế mà các đơn vị này lại yêu cầu một khoản thu quá lớn thì việc thực hiện nhiệm vụ của Câu lạc bộ Pháp chế doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa ở trung ương cần có các biện pháp để chấn chỉnh tình trạng này, làm sao để các hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa ở địa phương trong hoạt động của mình cần phải lấy mục tiêu phục vụ doanh nghiệp nhỏ và vừa là chủ yếu mà không quá coi trọng yếu tố lợi ích.

Thứ ba, nghiên cứu xây dựng quy chế phối hợp mẫu về việc thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp giữa trung ương với địa phương, giữa các ngành có liên quan trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, các địa phương căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội có thể ban hành quy chế phối hợp về việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên địa bàn mình.

PGS. TS. Dương Đăng Huệ

Câu lạc bộ Pháp chế doanh nghiệp, Bộ Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: