Thứ tư 18/03/2026 02:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ sở pháp lý đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành ở Việt Nam

Lịch sử cho thấy, lâu nay con người luôn có ý thức về sự tham gia của mình vào môi trường thiên nhiên, cái quyết định cuộc sống của họ. Những ghi chép cổ xưa trong các tôn giáo khác nhau đã chứng tỏ điều này.

1. Mối quan hệ giữa con người và môi trường thiên nhiên


Lịch sử cho thấy, lâu nay con người luôn có ý thức về sự tham gia của mình vào môi trường thiên nhiên, cái quyết định cuộc sống của họ. Những ghi chép cổ xưa trong các tôn giáo khác nhau đã chứng tỏ điều này. Trong các sách kinh về sự hình thành, có một điểm chung giữa các đạo Do thái, Thiên chúa giáo và Hồi giáo là Chúa trời trao cho con người quyền thống trị muôn loài, tạo ra sự liên kết không chỉ với con người mà còn với các loài chim, gia súc và các động vật hoang dã [1]. Trong đạo phật, một văn bản có từ thế kỷ thứ III trước Công nguyên đã dẫn một lời nói dành cho một vị vua để nhắc nhở ông ta rằng, các loài chim ở trên trời và các loài thú vật cũng có quyền sống và quyền tự do di chuyển giống như chính nhà vua: Trái đất thuộc về loài người và tất cả các sinh vật sống, nhà vua chỉ là người canh giữ [2]. Nhiều nền văn minh khác cũng thừa nhận một mối liên hệ huyền bí giữa họ với thiên nhiên, những thuyết về vũ trụ bắt đầu bằng sự kết hôn giữa Mặt đất, Bầu trời và Thời gian. Trong quan niệm của người châu Phi, châu Mỹ hay châu Á, đất là nữ thần mẹ của loài người. Đất vừa sinh ra con người vừa nuôi dưỡng con người. Như vậy, đất rất thiêng liêng và các loài động vật cũng như thực vật xứng đáng được tôn trọng, các buổi lễ hiến tế hay các nghi lễ trước khi săn bắn hay gặt hái đã chứng minh cho điều đó.


Các quan điểm trên cũng đã dần thay đổi cùng với sự xuất hiện của lợi nhuận, chú trọng đến giá trị vật chất, ở những nơi nông nghiệp và công nghiệp phát triển, mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên đã bị đảo lộn. Sự phát triển của kỷ nguyên công nghiệp và những tiến bộ kinh ngạc của khoa học kỹ thuật đã nảy sinh ra một tư tưởng là từ nay con người, những người chủ duy nhất của thế giới, có thể tự cho phép mình làm tất cả và phải làm chủ thiên nhiên. Trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Ăngghen đã cho rằng: “Chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài giới tự nhiên, mà trái lại, bản thân chúng ta, với cả xương thịt, máu mủ và đầu óc chúng ta là thuộc về giới tự nhiên, chúng ta, nằm trong lòng giới tự nhiên và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với giới tự nhiên là ở chỗ chúng ta, khác với tất cả các sinh vật khác, là chúng ta nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và có thể sử dụng được những quy luật đó một cách chính xác” [3]. Ăngghen khẳng định rằng, do nhận thức được quy luật của tự nhiên mà con người có thể dự báo được những hậu quả do sự tác động của con người vào môi trường thiên nhiên: “Nhưng nếu chúng ta đã phải trải qua hàng nghìn năm lao động mới có thể trong một chừng mực nào đó, đánh giá trước được những hậu quả tự nhiên xa xôi của những hành động sản xuất của chúng ta, thì chúng ta lại càng phải trải qua nhiều khó khăn hơn nữa, mới có thể hiểu biết được những hậu quả xã hội xa xôi của những hành động ấy” [4].


Để giải đáp các thách thức mà ô nhiễm môi trường, suy thoái hay sự cố môi trường đã đặt ra, sau những lời cảnh báo của các nhà khoa học từ những năm 1960, chúng ta cần nhắc lại quan điểm chung của một số nước trên thế giới đã thúc đẩy các Chính phủ quan tâm đến tình trạng của môi trường. Các dòng nước, đại dương, khí quyển, hệ động thực vật hoang dã không có biên giới: Sự tác động chính bên trong một quốc gia có thể gây ra những hậu quả cho môi trường ở bên ngoài biên giới nước đó hoặc tại lãnh thổ của nước khác hoặc trên bề mặt biển. Theo cách nhìn này, hiện tượng thủy triều đen bị gây ra bởi các tai nạn tràn dầu và vụ tai nạn Tchernobyl năm 1986 chính là những lời cảnh báo nghiêm trọng. Như vậy mối quan hệ chặt chẽ giữa sức khoẻ con người và chất lượng môi trường ngày càng trở nên hiển nhiên hơn.
Ở Việt Nam trong thời gian gần đây, người dân luôn phải gánh chịu những hậu quả nặng nề do các hoạt động phát triển kinh tế gây ra và công tác bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế, bất cập. Môi trường vẫn từng ngày, từng giờ bị chính các hoạt động sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của người dân làm ô nhiễm nghiêm trọng. Đó là kết quả tất yếu của sự thiếu ý thức tôn trọng môi trường thiên nhiên ở nước ta. Nếu những hành vi của con người phù hợp với quy luật của tự nhiên thì môi trường sẽ là người bạn tốt, đầy thiện chí, ngược lại, những hành vi trái với quy luật tự nhiên thì sức trả thù của môi trường sẽ lớn hơn bất cứ lực lượng xã hội nào [5].

2. Nhận thức về quyền được sống trong môi trường trong lành

Hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp luôn góp phần bảo đảm thực hiện những nguyên tắc cơ bản của pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam, trong đó có nguyên tắc “bảo đảm và ghi nhận quyền được sống trong môi trường trong lành của con người”. Khái niệm quyền về môi trường xuất hiện lần đầu tiên trên bình diện quốc tế, đó là Tuyên bố của Hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường và con người (Hội nghị Stockhom năm 1972) nêu rõ: “Con người có quyền cơ bản được tự do, bình đẳng và được hưởng đầy đủ các điều kiện sống trong một môi trường chất lượng cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi mà con người có trách nhiệm trong bảo vệ và cải thiện cho các thế hệ hôm nay và mai sau” [6]. Quyền về môi trường cũng được ghi nhận tại Hiến chương châu Phi về các quyền của con người và các dân tộc năm 1981, Điều 24 quy định: “Tất cả các dân tộc có quyền có một môi trường thỏa mãn và toàn cầu, có lợi cho sự phát triển của họ”; Điều 11 Nghị định thư bổ sung Hiệp ước châu Mỹ về các quyền của con người về kinh tế, xã hội và văn hoá được thông qua tại San Salvador ngày 17/11/1988 đã mang đến những chỉ dẫn bổ sung. Nó cũng thừa nhận: “Quyền có một môi trường trong lành: (i) Tất cả mọi người có quyền sống trong môi trường trong lành và hưởng những trang thiết bị chung chủ yếu; (ii) Các nước thành viên khuyến khích việc bảo vệ, bảo tồn và cải thiện môi trường”.

Hiệp ước châu Phi về các nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường và sự phát triển, được thông qua ngày 11/7/2003 tại Maputo, là văn bản quốc tế hoàn chỉnh nhất về điểm này: “Bằng việc sử dụng các biện pháp nhằm thực hiện các mục tiêu của Hiệp ước này và thực thi những điều khoản của nó, các nước thành viên sẽ được chỉ dẫn bởi: (i) Quyền của tất cả các dân tộc có môi trường thỏa mãn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của họ; (ii) Nghĩa vụ của các nước, một cách cá nhân hay tập thể, phải bảo đảm việc thực hiện quyền phát triển; (iii) Nghĩa vụ của các nước phải làm thỏa mãn các nhu cầu về phát triển và môi trường theo cách bền vững, đúng và cân bằng”. Hai phương diện của quyền về môi trường: Quyền của tất cả mọi người và nghĩa vụ của Nhà nước, nằm trong Hiến pháp của rất nhiều nước theo cách toàn bộ hoặc tách rời các phương diện trên. Chúng ta cũng có thể nhắc lại rằng Điều 24 của Hiệp ước ngày 20/11/1989 về các quyền của trẻ em quy định các nước phải có nghĩa vụ đưa ra các biện pháp thích hợp nhằm bảo vệ sức khỏe của trẻ em, đặc biệt bằng cách chú trọng đến các vấn đề nguy hiểm và các nguy cơ gây ra bởi ô nhiễm môi trường. Cũng như thế, Hiệp ước 169 của Tổ chức Lao động quốc tế về các dân tộc bản xứ tại các nước độc lập bắt buộc các nước thành viên phải thực hiện các biện pháp đặc biệt nhằm bảo vệ môi trường của các dân tộc này [7]. Tuyên bố của Hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường và phát triển – Hội nghị Rio de Janeiro năm 1992 cũng khẳng định: “Con người là trung tâm của những mối quan tâm về sự phát triển lâu dài. Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích, lành mạnh và hài hòa với thiên nhiên”. Như vậy, thực hiện tốt pháp luật bảo vệ môi trường, trên một bình diện nào đó đồng nghĩa với việc bảo đảm quyền được sống trong một môi trường với chất lượng đạt tiêu chuẩn cho phép, cuộc sống được bảo đảm lành mạnh, hữu ích và được hài hòa với môi trường thiên nhiên.

3. Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành ở Việt Nam

Bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành ở Việt Nam nói riêng liên quan trực tiếp đến lợi ích của con người: Môi trường là không gian tồn tại của con người, là nơi con người khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nơi cung cấp cơ sở vật chất cho con người tồn tại và phát triển đồng thời cũng là nơi tiếp nhận tất cả những chất thải do con người loại ra. Môi trường thực sự đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống con người. Do vậy, để bảo vệ tốt quyền được sống trong môi trường trong lành, quan hệ giữa các chủ thể phải được thực hiện dựa trên những căn cứ pháp lý nhất định, đó chính là pháp luật bảo vệ môi trường. Để bảo vệ môi trường có hiệu quả, ngăn ngừa và giảm thiểu đến mức tối đa các tác động tiêu cực đến con người và sinh vật và được thực hiện trong một trật tự nhất định trong quá trình tổ chức thực hiện các quy định về bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Nhà nước với tư cách là chủ thể của quyền lực chính trị, thông qua hệ thống các quy phạm pháp luật để thể chế các quan điểm, đường lối, chính sách của mình liên quan đến hoạt động bảo vệ môi trường, quy định quy trình thực hiện hoạt động ngăn ngừa, hạn chế, xử lý ô nhiễm môi trường; quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ bảo vệ môi trường và trách nhiệm pháp lý khi thực hiện những vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường.

Với các quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay có thể thấy, chúng ta chưa xây dựng được một khung pháp luật thực sự hoàn thiện trên lĩnh vực này. Thực tế, trong hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường ở Việt Nam đã manh nha hình thành cơ chế bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành từ những năm 1990 khi yêu cầu này xuất hiện và được thể hiện trong đạo luật đầu tiên về bảo vệ môi trường ở nước ta vào năm 1993. Tiếp đó, tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành đã được xác định trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, trong Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, đặc biệt là trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014. Đối chiếu những quy định đó trong thực tiễn áp dụng chúng ta sẽ thấy được những kết quả đã đạt được đồng thời còn tìm ra nhiều điểm bất cập cần được khắc phục, giải quyết. Chúng tôi xin đề cập một số hạn chế, bất cập chủ yếu như sau:

Một là, các quy định về hoạt động đánh giá môi trường còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập dẫn tới khó khăn trong hoạt động bảo vệ, cải thiện chất lượng môi trường ở Việt Nam. Thực tế, đối với nhiều dự án, việc thực hiện các quy định pháp luật về báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) còn mang nặng tính hình thức. Tồn tại tình trạng nhiều báo cáo ĐTM quá kém về chất lượng.

Hai là, trong thời gian qua, việc phát triển kinh tế mạnh mẽ ở nước ta là nguyên nhân phát sinh ngày càng lớn lượng chất thải gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng môi trường và sức khỏe của người dân. Có thể thấy rõ các quy định về quản lý chất thải đã được Nhà nước ban hành cơ bản và đi vào cuộc sống, tuy nhiên, các quy định này còn chưa được hoàn thiện và chưa được thực thi triệt để trên thực tế. Nguyên nhân là do thiếu cơ chế triển khai thực hiện, thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể dẫn đến việc triển khai không hiệu quả hoặc không thể phù hợp với thực tiễn. Ngoài ra, hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật quy định về một số nội dung chủ yếu về quản lý chất thải như nhân lực, bộ máy tổ chức, trình độ, các hướng dẫn kỹ thuật... vẫn còn thiếu, dẫn đến các hoạt động khó triển khai, đặc biệt đối với công tác quản lý chất thải nguy hại. Đối với chất thải rắn hiện nay còn nhiều vướng mắc trong công tác quản lý, như hệ thống tổ chức và phân công trách nhiệm quản lý chất thải rắn đang được kiện toàn và phân công tương đối cụ thể từ trung ương đến địa phương nhưng vẫn còn phân tán, chồng chéo và nhiều lỗ hổng.

Ba là, những hạn chế trong việc xây dựng và ban hành hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường. Hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường là các quy định khá quan trọng mà các cơ quan nhà nước cần phải quy định để đánh giá, kiểm soát sự thay đổi của môi trường, là cơ sở pháp lý để nhà nước kiểm soát những tác động tiêu cực gây ra cho môi trường từ các hoạt động phát triển kinh tế ở nước ta. Theo Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2006 thì quy chuẩn kỹ thuật môi trường được hiểu là quy định mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội phải tuân thủ để bảo đảm an toàn, vệ sinh, sức khỏe con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích an ninh quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếu khác. Quy chuẩn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản để bắt buộc áp dụng đối với các chủ thể có liên quan. Có thể thấy, khái niệm về quy chuẩn kỹ thuật môi trường còn khá mới mẻ ở Việt Nam, vì thế đã gây khó khăn, lúng túng trong quá trình tổ chức thực hiện. Quy trình xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật môi trường còn nhiều vướng mắc, bất cập, mất nhiều thời gian. Các tổ chức, cá nhân chưa thực sự hiểu về vấn đề này để tham gia vào quá trình xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật môi trường, chưa chú trọng đóng góp ý kiến.

Bốn là, chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đã được quy định tập trung vào một đầu mối thống nhất là Bộ Tài nguyên và Môi trường, tuy nhiên vẫn chưa thật sự triệt để. Vì hiện nay, việc quản lý tài nguyên vẫn còn được quy định rải rác phân bổ cho các bộ, ngành khác nhau, do vậy vấn đề phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt động bảo vệ môi trường chưa thực sự đồng bộ và hiệu quả.

Năm là, những vướng mắc trong vấn đề xử lý các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường. Có thể nhận thấy tỷ lệ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ vi phạm pháp luật môi trường rất cao. Nhìn chung, công tác xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường đã được các cơ quan chức năng cố gắng thực hiện và đã có được những kết quả nhất định, tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc vì nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau: Đơn cử như năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cũng chưa đáp ứng được yêu cầu nên việc kiểm tra chưa được thường xuyên, sát sao; chưa kịp thời phát hiện và xử lý được nhiều vụ vi phạm pháp luật môi trường mang tính nghiêm trọng; thực tế hiện nay, các mức phạt đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung là còn quá nhẹ, không hợp lý và còn nhiều điểm quy định rất chung chung. Ngay cả các quy định về tội phạm môi trường với các mức xử lý các cá nhân vi phạm cũng còn rất thấp… Do đó, trong thời gian qua, có rất nhiều tổ chức và cá nhân vi phạm các quy định này mà vẫn thường xuyên tái phạm vì tiền phạt quá nhẹ so với kinh phí trang thiết bị đầu tư cho công tác xử lý ô nhiễm môi trường. Vì vậy, sự nghiêm minh và tính răn đe của pháp luật chưa được phát huy hiệu lực. Giải pháp đề ra là, trong thời gian tới, chúng ta cần sửa đổi, bổ sung các mức xử phạt đúng đắn, sát với tình hình thực tế của công tác bảo vệ môi trường nhằm nâng cao hiệu lực pháp lý trong vấn đề bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân Việt Nam.

TS. Lê Kim Nguyệt

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nhóm Phiên dịch các giờ kinh phụng vụ (2002), Kinh Thánh Trọn Bộ Cựu Ước và Tân Ước, Nxb. TP. Hồ Chí Minh.

[2]. George Turnour (1837), Mahvamsa 14 Chapters, Cotto.

[3]. C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 20, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 654, 655.

[4]. C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 20, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 655, 656.

[5]. Phan Văn Thạng (2011), Mối quan hệ giữa con người và môi trường trong sự phát triển bền vững ở nước ta nhìn từ góc độ xã hội học, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ, 18a, tr. 251.

[6]. Xem: Tuyên bố của Hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường và con người, Nguyên tắc 1, (1995), Các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 11.

[7]. Quy định tại khoản 1 Điều 4 Hiệp ước 169 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: