Thứ tư 18/03/2026 08:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đăng ký nhãn hiệu tại Châu Âu - Phương thức nộp đơn nào hiệu quả nhất?

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt sau khi Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU) ký kết Hiệp định thương mại tự do (EVFTA), việc đăng ký nhãn hiệu tại châu Âu trở thành một nhu cầu tất yếu của các doanh nghiệp Việt Nam có mục tiêu phát triển kinh doanh tại thị trường đầy tiềm năng này. Có nhiều phương thức nộp đơn khác nhau để đăng ký nhãn hiệu. Vậy phương thức nộp đơn nào là hiệu quả nhất?

1. Nộp đơn trực tiếp tại từng quốc gia

Một trong những phương thức đăng ký nhãn hiệu tại châu Âu, là nộp trực tiếp các đơn nhãn hiệu riêng biệt tại Văn phòng đăng ký nhãn hiệu của từng quốc gia theo Công ước Paris, theo đuổi các thủ tục thẩm định tại từng quốc gia theo luật pháp của nước sở tại và quản lý, gia hạn đăng ký nhãn hiệu theo từng quốc gia. Đây là phương thức truyền thống, được thực thi tại phần lớn các quốc gia trên thế giới cũng như ở châu Âu và được nhiều người nộp đơn, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ lựa chọn.

1.1. Ưu điểm

Thông thường, việc nộp đơn đăng ký nhãn hiệu trực tiếp tại từng quốc gia được tiến hành thông qua luật sư, đại diện sở hữu trí tuệ của quốc gia sở tại hoặc văn phòng đại diện của chủ nhãn hiệu tại quốc gia đó. Ưu điểm của phương thức này là sự linh hoạt trong việc lựa chọn nhãn hiệu, danh mục sản phẩm/dịch vụ và khu vực địa lý (lãnh thổ) để nộp đơn đăng ký; sự độc lập về các quyền đối với nhãn hiệu được cấp tại các quốc gia, lãnh thổ khác nhau; sự linh hoạt khi tiến hành chuyển nhượng nhãn hiệu.

Một nhãn hiệu có thể có nhiều phương án, tùy theo hệ thống nhận diện nhãn hiệu của doanh nghiệp và yêu cầu của từng thị trường đối với sản phẩm, dịch vụ sử dụng nhãn hiệu, ví dụ màu sắc khác nhau, kiểu phông chữ khác nhau, phiên âm, dịch nghĩa của nhãn hiệu theo tiếng địa phương. Khi đăng ký nhãn hiệu theo phương thức trực tiếp tại từng quốc gia, trong trường hợp không xin hưởng quyền ưu tiên, người nộp đơn hoàn toàn có thể tùy ý lựa chọn phương án nhãn hiệu thích hợp để đăng ký tại từng quốc gia. Tương tự như vậy, đối với danh mục sản phẩm, dịch vụ sử dụng cho nhãn hiệu. Chẳng hạn, đơn đăng ký nhãn hiệu tại Đức có thể chỉ định toàn bộ sản phẩm “quần áo” thuộc nhóm 25; còn tại Pháp, chỉ định dịch vụ mua bán quần áo, thuộc nhóm 35.

Khi đăng ký quốc gia được cấp, các quyền đối với nhãn hiệu là độc lập. Việc từ chối, hủy bỏ hoặc chấm dứt hiệu lực đối với nhãn hiệu tại quốc gia này không ảnh hưởng tới quyền nhãn hiệu theo đăng ký quốc gia tại quốc gia khác.

Việc chuyển nhượng nhãn hiệu, đối với nhãn hiệu quốc gia được tiến hành độc lập, tại văn phòng đăng ký của quốc gia, theo quy định pháp luật quốc gia và không ảnh hưởng tới sự tồn tại (duy trì quyền sở hữu) đối với nhãn hiệu tại quốc gia khác.

1.2. Nhược điểm

Tuy nhiên, việc nộp đơn trực tiếp tại từng quốc gia có một số nhược điểm sau đây: (i) Chủ nhãn hiệu phải tìm hiểu luật pháp của nước sở tại về trình tự thủ tục, giấy tờ cần thiết cho việc nộp đơn đăng ký, quy trình và quy chế thẩm định nhãn hiệu; (ii) Chuẩn bị nhiều bộ hồ sơ (chẳng hạn: Giấy uỷ quyền, đơn nhãn hiệu, mẫu nhãn hiệu, danh mục sản phẩm, dịch vụ...); (iii) Việc nộp đơn thông qua luật sư nước sở tại gặp khó khăn trong giao dịch do sự chênh lệch về thời gian làm việc, bất đồng về ngôn ngữ, văn hoá; thời gian giao dịch thư từ có thể làm chậm tiến trình nộp đơn đăng ký; chi phí sử dụng dịch vụ cao; (iv) Việc quản lý, lưu trữ hồ sơ, giấy tờ liên quan đến việc nộp đơn, đăng ký, gia hạn hiệu lực với các thời hạn khác nhau ở từng quốc gia, tốn nhiều chi phí về tiền bạc và nhân công.

Nhược điểm lớn nhất của phương thức nộp đơn trực tiếp tại từng quốc gia và cũng là mối quan tâm hàng đầu của người nộp đơn là chi phí đăng ký nhãn hiệu. Bên cạnh lệ phí quốc gia, có sự khác nhau về mức phí và loại tiền tệ, phí luật sư cũng rất khác nhau và luôn ở mức cao, đặc biệt đối với người nộp đơn Việt Nam.

2. Nộp đơn nhãn hiệu Liên minh Châu Âu

Từ năm 1993, Liên minh Châu Âu (EU) đã đưa ra hệ thống đăng ký nhãn hiệu khu vực, có giá trị tương đương hoặc thay thế đăng ký nhãn hiệu quốc gia, tuân theo các nguyên tắc cơ bản của Công ước Paris, trong đó có nguyên tắc về “quyền ưu tiên” nhằm khắc phục tính lãnh thổ của luật nhãn hiệu quốc gia và xúc tiến việc lưu thông tự do đối với hàng hóa, dịch vụ trong cộng đồng châu Âu, tạo điều kiện cho các chủ sở hữu nhãn hiệu tiến hành đăng ký nhãn hiệu của mình vào các quốc gia thuộc khu vực một cách thuận lợi, nhanh chóng và tiết kiệm chi phí, đó là hệ thống nhãn hiệu cộng đồng châu Âu (CTM), nay là hệ thống nhãn hiệu Liên minh châu Âu (EUTM). Với một đơn duy nhất, chủ nhãn hiệu có thể đạt được sự bảo hộ thống nhất đối với nhãn hiệu trên toàn bộ lãnh thổ EU. Hệ thống EUTM do Cơ quan Sở hữu trí tuệ châu Âu (EUIPO) quản lý. Tính đến tháng 12/2015, đã có hơn 1.500.000 nhãn hiệu cộng đồng được đăng ký. Các văn bản pháp quy hiện hành về nhãn hiệu EUTM gồm có Quy định số 2015/2424 về nhãn hiệu cộng đồng và Chỉ thị 2015/2436 tích hợp luật pháp về nhãn hiệu của các quốc gia thành viên.

2.1. Ưu điểm

Ưu điểm lớn nhất của EUTM là sự bảo hộ thống nhất tại tất cả các quốc gia thành viên của EU với một thủ tục đăng ký đơn giản, duy nhất và một khoản phí đăng ký thấp hơn so với các đơn đăng ký nhãn hiệu quốc gia cộng lại. Phí đăng ký một EUTM là 850 Euro đối với đơn 1 nhóm và 1.050 Euro đối với đơn 3 nhóm, trong trường hợp nộp đơn điện tử, xấp xỉ với phí đăng ký nhãn hiệu quốc gia tại Đức hoặc Pháp và thậm chí thấp hơn hẳn so với phí nộp đơn trực tiếp tại Áo.

Việc cho phép các cá nhân và pháp nhân của tất cả các quốc gia là thành viên của Công ước Paris được nộp đơn EUTM cũng là một ưu điểm, hấp dẫn người nộp đơn từ các quốc gia không phải là thành viên EU, trong đó có Việt Nam. Điều kiện để có thể nộp đơn EUTM đối với người nộp đơn từ các quốc gia này rất đơn giản, bao gồm có cơ sở sản xuất kinh doanh tại một quốc gia thành viên EU, hoặc có đại diện pháp lý, luật sư được hành nghề tại EU.

Ưu điểm tiếp theo của hệ thống, xuất phát từ bản chất thống nhất của EUTM là việc sử dụng nhãn hiệu tại một quốc gia thành viên của EU được coi là sử dụng trong Liên minh, điều này làm cho việc đáp ứng các yêu cầu về sử dụng đích thực dễ dàng hơn so với các đăng ký quốc gia.

Ưu điểm đặc biệt, duy nhất chỉ có tại hệ thống EUTM là khả năng yêu cầu xin hưởng quyền thâm niên đối với một nhãn hiệu của nhãn hiệu quốc gia hoặc nhãn hiệu quốc tế có hiệu lực tại quốc gia thành viên, với điều kiện nhãn hiệu này trùng với EUTM (trùng về nhãn hiệu và về sản phẩm hoặc dịch vụ). Điều này giúp cho chủ sở hữu nhãn hiệu có thể tiết kiệm chi phí gia hạn và quản lý các đăng ký quốc gia cùng tồn tại.

Quy định về việc lựa chọn hai ngôn ngữ trong đơn EUTM, về khía cạnh phản đối nhãn hiệu, là một ưu điểm đối với người nộp đơn EUTM. Thủ tục phản đối trở nên khó khăn hơn, đối với bên thứ ba. Ví dụ: Nếu người nộp đơn lựa chọn tiếng Hà Lan là ngôn ngữ thứ nhất và tiếng Ý là ngôn ngữ thứ hai. Bên phản đối, do đó, phải nộp đơn phản đối bằng tiếng một trong hai thứ tiếng này.

2.2. Nhược điểm

Bản chất thống nhất của EUTM cũng có nhược điểm do “nguyên tắc tất cả hoặc không có gì”. Nguyên tắc này có nghĩa là, EUIPO sẽ từ chối một đơn EUTM khi căn cứ từ chối chỉ tồn tại ở một bộ phận của Liên minh. Ví dụ, nếu nhãn hiệu bao gồm tên của sản phẩm bằng một ngôn ngữ chính thức của một quốc gia thành viên của EU, EUIPO sẽ từ chối đơn EUTM. Cũng từ “nguyên tắc tất cả hoặc không có gì”, đơn EUTM có thể bị từ chối toàn bộ bởi một phản đối trên cơ sở quyền trước đó chỉ có hiệu lực tại một quốc gia thành viên và thậm chí trên cơ sở đơn đã nộp trước đó tại một quốc gia thành viên. Như một hệ quả của bản chất thống nhất của EUTM, nhãn hiệu chỉ có thể đăng ký, chuyển nhượng, hủy bỏ hoặc đình chỉ trên phạm vi EU. Điều này làm cho EUTM kém linh hoạt, nếu như chủ sở hữu nhãn hiệu chỉ muốn khai thác EUTM tại một quốc gia hoặc một bộ phận nhỏ của EU.

Một nhược điểm khác, thời gian dành cho thủ tục phản đối là từ sau khi công bố đơn tới trước khi nhãn hiệu được đăng ký. Do đó, một EUTM có thể bị đóng băng trong một thời gian dài do thủ tục phản đối. Người nộp đơn vẫn phải tiếp tục với sự không nhất quán về cách đánh giá các trường hợp nhãn hiệu tương tự của các thẩm định viên EUIPO và sự thiếu vắng các chuẩn mực chất lượng nhất định.

3. Nộp đơn đăng ký quốc tế theo hệ thống Madrid

Bên cạnh hệ thống EUTM, một hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu được điều chỉnh bởi hai điều ước quốc tế là Thỏa ước Madrid và Nghị định thư Madrid (gọi tắt là hệ thống Madrid) cũng đưa đến các cơ hội khác. Trên cơ sở một đơn nhãn hiệu hoặc một đăng ký nhãn hiệu quốc gia, bằng việc nộp một đơn quốc tế duy nhất, chủ sở hữu nhãn hiệu có thể giành được quyền đăng ký nhãn hiệu tại một số hoặc tất cả 97 thành viên của hệ thống Madrid, với tổng số 133 quốc gia, trong đó có hai thành viên là tổ chức liên Chính phủ là Liên minh Châu Âu (EU) và Tổ chức Sở hữu trí tuệ Châu Phi (OAPI). Tại châu Âu, 45/48 quốc gia đã gia nhập hệ thống Madrid với tư cách thành viên là quốc gia; 27/28 quốc gia thành viên EU cũng đã gia nhập hệ thống Madrid với tư cách thành viên là quốc gia. Việc gia nhập hệ thống Madrid của EU năm 2004 tạo ra khả năng linh hoạt cho chủ sở hữu nhãn hiệu khi lựa chọn chỉ định thành viên trong việc đăng ký nhãn hiệu của mình tại châu Âu.

3.1. Ưu điểm

Ưu điểm nổi bật của hệ thống Madrid là quy trình đăng ký đơn giản, chỉ với một hồ sơ đăng ký duy nhất, bằng một ngôn ngữ (Anh, Pháp hoặc Tây Ban Nha) và một khoản phí thống nhất, người nộp đơn có thể sở hữu một đăng ký quốc tế với các chỉ định thành viên là một số hoặc tất cả 97 thành viên của hệ thống Madrid, gồm 133 quốc gia. Nếu nhãn hiệu được chấp nhận đăng ký tại thành viên, việc bảo hộ nhãn hiệu tại mỗi quốc gia được chỉ định sẽ giống như trường hợp nhãn hiệu được nộp đơn trực tiếp tại văn phòng đăng ký tại quốc gia đó.

Tiết kiệm về tài chính và nhân công là một ưu điểm lớn của hệ thống Madrid. So với cách đơn nộp trực tiếp tại từng quốc gia, phí nộp đơn quốc tế theo hệ thống Madrid thấp hơn nhiều so với nộp đơn trực tiếp từng quốc gia. Mức phí này là thống nhất, bao gồm: Phí nộp đơn cơ bản, phí bổ sung cho mỗi nhóm sản phẩm, dịch vụ từ nhóm thứ ba trở đi và phí bổ sung tượng trưng cho mỗi thành viên được chỉ định hoặc phí quốc gia riêng của thành viên được chỉ định. Người nộp đơn có thể tính chính xác số tiền lệ phí cần phải nộp khi sử dụng công cụ tính phí của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO). Hiệu quả tiết kiệm chi phí càng phát huy đối với các đơn quốc tế theo hệ thống Madrid có chỉ định càng nhiều thành viên do mức phí cơ bản áp dụng chung cho mỗi đơn quốc tế, không tính đến số lượng thành viên được chỉ định và phí bổ sung tượng trưng hoặc phí quốc gia riêng luôn thấp hơn hoặc bằng lệ phí quốc gia của đơn nộp trực tiếp, chưa tính đến lệ phí cho đại diện pháp lý địa phương.

Quy trình thẩm định đúng hạn và thuận lợi là ưu điểm duy nhất chỉ có tại hệ thống Madrid. Không có một hệ thống đăng ký quốc gia hay khu vực nào, kể cả EUTM quy định thời hạn thẩm định cứng và có lợi cho người nộp đơn như hệ thống Madrid: Trong thời hạn nhất định, 12 tháng hoặc 18 tháng, nếu không có bất kỳ thông báo từ chối nào từ thành viên được chỉ định, nhãn hiệu được tự động bảo hộ.

Khả năng chỉ định tiếp sau cũng làm cho hệ thống rất hấp dẫn, bởi lẽ chủ sở hữu đăng ký quốc tế có thể quyết định, ở giai đoạn sau đó, xem có cần bổ sung các quốc gia khác theo nhu cầu kinh doanh của mình hay không.

Ưu điểm tiếp theo của hệ thống Madrid là việc nhãn hiệu theo đăng ký quốc tế bị từ chối tại một thành viên không ảnh hưởng tới việc chấp nhận bảo hộ hay hiệu lực của nhãn hiệu tại thành viên khác do việc thẩm định nội dung nhãn hiệu tuân theo pháp luật của từng thành viên.

Hệ thống Madrid cũng hấp dẫn hơn đối với người nộp đơn ở các thành viên ngoài EU, trong đó có Việt Nam sau khi Liên minh Châu Âu trở thành thành viên của Nghị định thư vào 01/10/2004. Các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội đăng ký nhãn hiệu tại EU, mà không cần phải thỏa mãn điều kiện về nơi cư trú hoặc cơ sở sản xuất, kinh doanh của người nộp đơn tại EU hoặc tìm đến sự hiện diện của một đại diện pháp lý tại EU như khi nộp đơn EUTM. Ngoài ra, với đơn quốc tế có nguồn gốc Việt Nam, người nộp đơn Việt Nam có thể vừa chỉ định EU hoặc các quốc gia riêng rẽ là thành viên của EU và các quốc gia khác tại châu Âu (ví dụ như Liên bang Nga, Thụy sỹ) để có thể giành được quyền đăng ký nhãn hiệu tại tất cả các thành viên được chỉ định này.

3.2. Nhược điểm

Nhược điểm lớn nhất của hệ thống Madrid là sự phụ thuộc của đăng ký quốc tế vào đơn, đăng ký cơ sở hay điều khoản tấn công trung tâm trong thời gian năm năm đầu tiên, kể từ ngày đăng ký nếu đơn, đăng ký cơ sở bị giới hạn phạm vi bảo hộ hoặc hủy bỏ, đăng ký quốc tế sẽ bị giới hạn phạm vi bảo hộ hoặc hủy bỏ. Nếu trong thời gian này, nhãn hiệu trong đơn cơ sở hoặc đăng ký cơ sở bị hủy bỏ/từ chối/hết hiệu lực thì đăng ký quốc tế cũng bị hết hiệu lực. Mặc dù trong trường hợp này, đăng ký quốc tế có thể được chuyển đổi sang đơn quốc gia và giữ được ngày nộp đơn quốc tế, nhưng chi phí chuyển đổi này khá cao, cao hơn nộp đơn quốc gia trực tiếp.

Một trong những nhược điểm nữa của hệ thống Madrid là nhãn hiệu trong đơn quốc tế phải y hệt như nhãn hiệu trong đơn cơ sở đăng ký cơ sở. Việc sửa đổi nhãn hiệu trong đăng ký quốc tế là không được phép.

Quy định về danh mục hàng hóa và dịch vụ của đơn quốc tế phải trùng hoặc nằm trong phạm vi danh mục hàng hóa và dịch vụ của đơn cơ sở đăng ký cơ sở cũng là một nhược điểm của đăng ký quốc tế theo hệ thống Madrid so với đăng ký quốc gia theo phương thức nộp đơn trực tiếp. Trong khi đơn cơ sởđăng ký cơ sở tại một số thành viên, trong đó có Việt Nam, không chấp nhận danh mục hàng hóa và dịch vụ là tiêu đề nhóm theo Bảng phân loại Nice, thì một số thành viên khác lại chấp nhận điều này, ví dụ EU. Việc nộp đơn quốc tế theo hệ thống Madrid trên cơ sở của đơn đăng ký cơ sở với danh mục hàng hóa không phải là tiêu đề nhóm làm giới hạn phạm vi bảo hộ nhãn hiệu của chủ sở hữu đăng ký quốc tế tại các thành viên được chỉ định chấp nhận tiêu đề nhóm cho danh mục hàng hóa và dịch vụ dùng để đăng ký nhãn hiệu.

4. Một số lưu ý dành cho các doanh nghiệp

Việc đồng tồn tại các hệ thống đăng ký nhãn hiệu gồm đăng ký quốc gia, hệ thống EUTM và hệ thống Madrid đã đáp ứng các nhu cầu kinh doanh của người sử dụng. Nếu muốn bảo hộ nhãn hiệu trên toàn bộ hoặc phần chủ yếu lãnh thổ của Liên minh Châu Âu, thì EUTM có thể là một lựa chọn tốt. Nếu nhãn hiệu chỉ sử dụng ở một hoặc một số ít quốc gia, phương thức nộp đơn trực tiếp tại từng quốc gia có thể là một lựa chọn cần lưu tâm. Nếu muốn bảo hộ nhãn hiệu tại một số quốc gia (từ ba quốc gia trở lên) tại EU, ví dụ Đức, Áo và Anh, thì nên sử dụng hệ thống Madrid với chỉ định thành viên là các quốc gia này, chứ không phải là chỉ định EU. Nếu muốn bảo hộ nhãn hiệu tại một số quốc gia là thành viên của EU và một số quốc gia khác như Hoa Kỳ, Thụy sỹ, Na Uy, Thổ Nhĩ Kỳ, Liên bang Nga, người nộp đơn nên lựa chọn hệ thống Madrid với các chỉ định thành viên là EU và các thành viên là quốc gia còn lại.

Một số lưu ý sau đây cần được các doanh nghiệp quan tâm khi tìm kiếm một chiến lược nộp đơn hiệu quả để đăng ký nhãn hiệu tại châu Âu:

Một là, so sánh với hệ thống Madrid, hệ thống EUTM hiệu quả hơn về mặt chi phí, đối với trường hợp đăng ký nhãn hiệu tại tất cả các thành viên của Liên minh Châu Âu.

Hai là, khi lựa chọn phương thức nộp đơn EUTM và/hoặc đơn quốc tế theo hệ thống Madrid có chỉ định Liên minh Châu Âu, thay cho phương thức nộp đơn trực tiếp tại từng quốc gia và/hoặc đơn quốc tế có chỉ định từng quốc gia của EU, cần cân nhắc “nguyên tắc tất cả hoặc không có gì” trong bảo hộ nhãn hiệu tại EU.

Ba là, đơn quốc tế theo hệ thống Madrid là thích hợp nếu chủ sở hữu nhãn hiệu quan tâm tới các thị trường không chỉ là các thành viên của EU, mà còn các quốc gia khác, ví dụ như Hoa Kỳ, Na Uy, Thụy Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ hoặc Liên bang Nga.

Bốn là, nộp đơn theo hệ thống EUTM hoặc hệ thống Madrid, có chỉ định EU sẽ là rủi ro hơn so với nộp đơn trực tiếp tại từng quốc gia nếu như có cản trở do quyền có trước tại một quốc gia thành viên EU, ngay cả khi nhãn hiệu dự kiến đăng ký không được sử dụng ở quốc gia thành viên này.

Năm là, một đơn EUTM đã bị từ chối hoặc một EUTM bị tuyên bố là hết hiệu lực hoặc hủy bỏ, một đăng ký quốc tế theo hệ thống Madrid bị hủy bỏ theo điều khoản tấn công trung tâm có thể được chuyển đổi sang đơn quốc gia ở các thành viên nơi mà căn cứ từ chối đó không bị áp dụng. Đơn quốc gia sẽ giữ được ngày nộp đơn của đơn ban đầu.

Sáu là, yêu cầu về việc sử dụng đích thực nhãn hiệu tại EU đối với tất cả các sản phẩm và dịch vụ đã đăng ký là bắt buộc, mặc dù, việc sử dụng này, trên thực tế, có thể chỉ cần diễn ra tại một quốc gia thành viên của EU.

Để tìm ra một chiến lược nộp đơn hiệu quả, các doanh nghiệp, chủ sở hữu nhãn hiệu cần xác định được quốc gia, lãnh thổ cần bảo hộ nhãn hiệu,thành viên của mỗi hệ thống đăng ký nhãn hiệu, ưu điểm và nhược điểm của từng phương thức đăng ký, lựa chọn phương án phù hợp với điều kiện tài chính và nhu cầu phát triển kinh doanh. Sự lựa chọn đúng đắn phương thức nộp đơn, hệ thống đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu sẽ góp phần vào sự thành công của doanh nghiệp.

Nguyễn Thị Ngọc Bích
NCS Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

1. Chỉ thị (EU) 2015/2436 của Nghị viện châu Âu và Hội đồng châu Âu ngày 16/12/2015 về tích hợp luật pháp về nhãn hiệu của các quốc gia thành viên.

2. Danh sách các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu

3. Quy định (EU) 2015/2424 của Nghị viện Châu Âu và Hội đồng Châu Âu ngày 16/12/2015 sửa đổi quy định của Hội đồng (EC) No. 207/2009 về nhãn hiệu cộng đồng và quy định của Ủy ban No. 2868/95 thực hiện quy định của Hội đồng (EC) No 40/94 về nhãn hiệu cộng đồng và hủy bỏ quy định của Ủy ban (EC) No 2869/95 về lệ phí nộp cho Văn phòng Hài hòa thị trường nội địa (nhãn hiệu và kiểu dáng)

4. Tuyên bố chung của Cộng đồng châu Âu và Hội đồng châu Âu 1993

5. Tuyên bố chung về thực tiễn thông dụng về các chỉ định chung của tiêu đề nhóm của Bảng phân loại Nice, 20/2/2014

6. EU, Thông cáo Báo chí của Ủy ban châu Âu, IP/13/287 ngày 27/3/2013
7. EUIPO, Thống kê Nhãn hiệu Liên minh châu Âu 6/4/2016

8. Marcaria, Lệ phí đăng ký nhãn hiệu

9. Phán quyết của Tòa án Liên bang Đức về sáng chế, BGH, 6/2/2013 - IZR 106/11- VOODOO = GRUR 2013, 925

10. Phán quyết của Tòa án, ECJ, C-149/11, Judgement 19/12/2012 -Leno Merken BV vs Hagelkruis Beheer BV

11. The Max Planck Institute for Intellectual Property and Competition Law, 2011, “Study on the Overall Functioning of the European Trademark System” 15/2/2011

12. WIPO, Công cụ tính phí nộp đơn theo hệ thống Madrid

13. WIPO, Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp 1883, sửa đổi vào các năm 1900, 1911, 1925, 1934, 1958, 1967 và 1979.

14. WIPO, Danh sách thành viên của hệ thống Madrid

15. WIPO, Lệ phí đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo hệ thống Madrid

16. WIPO, Nghị định thư liên quan tới Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu 1989, sửa đổi vào các năm 2006 và 2007.

17. WIPO, Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu 1891, sửa đổi vào các năm 1900, 1911, 1925, 1934, 1957, 1967 và 1979..

18. WIPO, Thỏa ước Nice về phân nhóm hàng hóa và dịch vụ nhằm mục đích đăng ký nhãn hiệu; Phiên bản năm 2014 của sửa đổi lần thứ 10, có hiệu lực từ 01/01/2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: