Chủ nhật 18/01/2026 20:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đánh ghen - Nhìn từ góc độ văn hóa đến pháp lý

Trong đời sống hôn nhân “đánh ghen” là một khái niệm gia đình nào cũng ít nhất một lần nghe, còn “sử dụng” thì tùy vào nhận thức mỗi chủ thể. Khái niệm này tồn tại từ quá khứ đến hiện tại tiếp diễn

Đánh ghen - Nhìn từ góc độ văn hóa đến pháp lý

Trong đời sống hôn nhân “đánh ghen” là một khái niệm gia đình nào cũng ít nhất một lần nghe, còn “sử dụng” thì tùy vào nhận thức mỗi chủ thể. Khái niệm này tồn tại từ quá khứ đến hiện tại tiếp diễn, khái niệm này hiểu như thế nào và giải pháp để nâng cao ý thức pháp luật liên quan đến khái niệm này trong thực tiễn.

Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Đánh ghen, có hành động thô bạo vì lòng ghen (trong tình cảm yêu đương, vợ chồng) (Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học thuộc Viện Khoa học Xã hội, Hà Nội năm 1992).

Về mặt ngôn ngữ “đánh ghen” là khái niệm đời sống gia đình, không phải là một khái niệm pháp lý, bản chất của khái niệm này phản ánh quan hệ xã hội. Nghiên cứu các tài liệu văn hóa thì có một số tác phẩm sau đề cập đến đánh ghen.

Một là, về văn hóa: Đánh ghen đã được phản ánh trong tác phẩm hội họa, tranh dân gian: Tranh đánh ghen Đông Hồ, phản ánh một thực trạng với biểu hiện sắc thái từ xưa đến nay trong đời sống gia đình (Vợ cả cầm cái kéo chĩa vào cô vợ bé, ông chồng che chở cho vợ bé,…).

Hai là, về lịch sử Nhà nước và pháp luật: Liên quan đến hôn nhân và gia đình phải kể đến tư tưởng Nho giáo, một trong những hệ tư tưởng chính trị - pháp lý chi phối đời sống xã hội, thể hiện qua đường lối cai trị của Nhà nước Phong kiến Việt Nam. Tất nhiên, các tư tưởng khác cũng như truyền thống dân tộc cũng có ảnh hưởng đến xã hội như đã phản ánh trong các đạo luật của Nhà nước phong kiến. Bộ luật Hồng Đức quy định quan hệ giữa các bà vợ theo một trật tự, cùng với đó là việc định hình phạt. Bộ luật Hồng Đức đã ghi nhận: Quy định thông gian (Chương 7); định đấu tụng (Chương 9); quy định “Chồng đánh vợ, vợ cả đánh vợ lẽ” (Điều 482)[1]. Về ngôn ngữ ứng xử trong xã hội đã tồn tại câu “trai có tài năm thê bảy thiếp”.

Ba là, về lĩnh vực văn học: Nhiều tác phẩm văn học Việt Nam đề cập đến đánh ghen, nhưng có lẽ là điển tích đánh ghen đã đi vào đời sống xã hội Việt Nam là “ghen Hoạn Thư” trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du. Đó là những tác phẩm đề cập đến đánh ghen hoặc thừa nhận việc đánh ghen đã và đang là điển tích trong đời sống văn hóa người Việt Nam.

Về đánh ghen xét trong các mối quan hệ sau:

Thứ nhất, trong mối quan hệ vợ chồng: Trong mối quan hệ này nam và nữ đến với nhau vì mục đích hôn nhân như luật định, nhưng trước hôn nhân phải có “lực hấp dẫn” với nhau, có thể là: trí thông minh, sắc đẹp, tiền, vật chất, hoặc bất cứ thứ gì tạo sự hấp dẫn nhau. Nhưng khi đã sống trong hôn nhân thì ràng buộc với nhau nhiều thứ phát sinh, như: con, quan hệ tài sản, cùng mục đích sống (khoa học, nghệ thuật, thể thao, kinh tế, chính trị,…) càng gắn kết hơn.

Nhưng cũng có trường hợp khi đã không còn lực hấp dẫn với nhau, hoặc một bên tìm được lực hấp dẫn khác thì chia tay đó là chuyện thường tình. Khi đã đến mức đó mà dùng vũ lực để trấn áp nhau để đạt tình yêu là khó, nếu mà dùng vũ lực để trấn áp buộc đối phương phải theo thì những đội quân xâm lược có thừa, nhưng tại sao họ không dùng vũ lực mà phải có đội ngũ giáo sĩ, những nhà tâm lý chiến để thuyết phục. Dùng vũ lực có thể chỉ đạt được thể xác; nhưng tình cảm, suy nghĩ và những vấn đề liên quan đến tư tưởng thì sao? Do vậy, cuộc sống cần tạo lực hấp dẫn, mà hiểu như kinh tế thị trường đó là “những thứ mà thị trường cần”. Con người tùy vào mỗi điều kiện hoàn cảnh mà nảy sinh nhu cầu, có thể lấy nàng Kiều của Nguyễn Du làm minh chứng: Khi Thúy Kiều gặp Kim Trọng là tình yêu đôi lứa; nhưng khi đi với Sở Khanh là nhu cầu thoát thân; đến với Thúc Sinh là nhu cầu tôn trọng, sự tìm thấy cái dung hợp trong nhau; khi đến với Từ Hải là nhu cầu chỗ dựa, bảo vệ, sự giải thoát,… và đến khi về với tình yêu đôi lứa Kim Trọng như ước nguyện ban đầu.

Tất nhiên, có người hỏi: Nếu Thúy Kiều lấy Kim Trọng ngay từ đầu thì sao? Thì là vợ chồng, sinh con, lo cuộc sống gia đình, không nảy sinh các nhu cầu khác, xã hội thanh bình thì không có chuyện để viết, sau này đoàn viên với Kim Trọng khi xã hội đã thanh bình.

Thứ hai, quan hệ vợ hoặc chồng đối với người thứ ba: Đây là quan hệ xã hội, khi đã xảy ra xung đột là liên quan đến các quy phạm pháp luật, như: Luật Dân sự; Luật Hành chính; Luật Hình sự, Luật Hôn nhân và gia đình... Trong quan hệ vợ hoặc chồng với người thứ ba thực tế tồn tại với nhiều biểu hiện, nhiều cung bậc cảm xúc, cũng như tính chất của hành vi: Từ âm thầm đăng hình ảnh “Tuesday”[2]; dùng lời mạt sát nhau; quay phim, chụp hình; “Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật”; “tiết lộ các thông tin đã chiếm đoạt…”. Nhiều người đánh ghen cho rằng: Đó là hành động đúng theo lý trí để bảo vệ hôn nhân và gia đình, nhưng căn cứ vào hệ thống pháp luật thì các hành vi trên có thể cấu thành tội phạm hình sự.

Với hệ thống pháp luật hiện hành cho thấy các quyền con người, quyền công dân, như: sức khỏe, danh dự, uy tín, hình ảnh, nhân phẩm, bí mật đời sống cá nhân, bí mật đời sống gia đình,… được Hiến pháp quy định và các văn bản luật quy định cụ thể.

- Hiến pháp năm 2013: Trên cơ sở kế thừa quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các bản Hiến pháp, Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm” (khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013); Quyền bí mật cá nhân, thông tin, điện thoại và các hình thức riêng tư khác (Điều 21 Hiến pháp năm 2013); Quyền hôn nhân (Điều 36, Hiến pháp năm 2013) và các quy định liên quan đến quyền công dân.

- Pháp luật dân sự: Trên cơ sở Hiến pháp, Bộ luật Dân sự năm 2015 khẳng định: “Việc sử dụng hình ảnh cá nhân của người khác phải được người đó đồng ý”. Tuy nhiên, quyền cá nhân luôn đặt trong mối quan hệ với cộng đồng, nên pháp luật cũng quy định việc sử dụng hình ảnh cá nhân vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng. Bộ luật Dân sự quy định các quyền liên quan quyền cá nhân, cũng như các biện pháp bảo vệ, đảm bảo việc thực hiện quyền, như: Quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015); Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 34 Bộ luật Dân sự năm 2015); Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình (Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015); Quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình (Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015); Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm (Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015); Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (Điều 592, Bộ luật Dân sự năm 2015).

- Pháp luật hành chính: Trong quan hệ pháp luật hành chính, một số hành vi, như: thu thập thông tin của người khác; vi phạm quy định về thu thập, sử dụng thông tin cá nhân; vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội;… có thể bị xử phạt vi phạm hành chính (Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thống tin và giao dịch điện tử).

- Pháp luật hôn nhân và gia đình: Trước thực trạng đánh ghen như vậy thì câu hỏi đặt ra: Quan hệ vợ chồng có phải là quan hệ “sở hữu”? Theo một số quan điểm cá nhân khi nghiên cứu đời sống hôn nhân một số nước châu Âu và châu Mỹ, thì quan hệ hôn nhân là dạng hợp đồng - “khế ước”.

Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình (Điều 2 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014); mục đích hôn nhân (khoản 3 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014); điều kiện kết hôn (Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014); thời điểm hôn nhân: Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn (khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014); các loại hình hôn nhân: Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài (khoản 2 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014); những mối quan hệ quyền và nghĩa vụ trong hôn nhân: Quan hệ giữa vợ và chồng (Chương III, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014), Quan hệ giữa cha mẹ và con (Chương V, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014)… Như vậy, theo pháp luật hiện hành phải khẳng định rằng: Quan hệ hôn nhân không phải là quan hệ sở hữu, nam và nữ đến với nhau trên cơ sở tình cảm và các nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình, bên cạnh đó phải tuân theo quy định của pháp luật khác có liên quan.

Kết hôn là một thủ tục hành chính trong lĩnh vực tư pháp, công dân đến trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã làm thủ tục theo quy định: Công chức tư pháp - hộ tịch cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ và hướng dẫn các bên cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ, mỗi bên được nhận 01 bản chính Giấy chứng nhận kết hôn. Chính quyền cũng không thực hiện một động tác giải thích, phổ biến những kiến thức liên quan đến đời sống hôn nhân gia đình. Trong khi đây là một thời điểm thuận lợi để phổ biến kiến thức pháp luật về hôn nhân và gia đình. Đánh ghen xảy ra có nhiều hệ lụy và về lý thuyết có thể tránh được điều này. Với hệ thống pháp luật hiện hành có thể khẳng định khi xảy ra các hành vi gây tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, tổn thương cơ thể, nếu vi phạm pháp luật thuộc lĩnh vực pháp nào thì áp dụng chế tài thuộc lĩnh vực pháp luật đó, có thể là: Pháp luật dân sự; pháp luật hành chính; pháp luật hôn nhân và gia đình và nếu cấu thành tội phạm thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

- Pháp luật hình sự: Bảo vệ khách thể quan trọng của đời sống xã hội, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh các loại tội phạm. Đánh ghen thực hiện một số hành vi, như: Sử dụng hình ảnh, thông tin cá nhân; gây thương tích; bắt giam, giữ người;… trái pháp luật có thể cấu thành một số tội sau trong Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tội làm nhục người khác (Điều 155); Tội vu khống (Điều 156); Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157); Tội xâm phạm chổ ở của người khác (Điều 158).

+ Hành vi “Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật” có thể cấu thành tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác (khoản 1 Điều 159 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017); “tiết lộ các thông tin đã chiếm đoạt, làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác” có thể cấu thành tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác (khoản 2 Điều 159 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017).

+ Đối với vợ hoặc chồng quan hệ với người thứ ba trong hôn nhân có thể cấu thành tội “vi phạm chế độ một vợ, một chồng” (Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Trên cơ sở pháp luật hiện hành, một câu hỏi vui đặt ra như sau: Vợ chồng đang trong thời gian chờ phán quyết của Tòa án nhân dân về tình trạng hôn nhân thì quan hệ giữa vợ và chồng có cấu thành: Tội cưỡng dâm (Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017); Tội hiếp dâm (Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) theo quy định của pháp luật hình sự? Đây là một câu hỏi mở, nhưng một điều chắc chắn các quan điểm đưa ra chỉ mang tính tham khảo trong xử lý pháp luật.

Nếu dùng vũ lực, âm mưu để đạt được “tình yêu”, thì Truyện Kiều đề cập đến tình cảnh hai bên khi xuất hiện người thứ ba “Lửa tâm càng dập càng nồng”, như vậy, phải có một phương thức giải quyết khác.

Hiện nay, thông tin nở rộ, để tìm được một thứ “ngọc khiết băng thanh” làm chuẩn thì rất khó. Cái khó vì nhiều lý do: Thứ nhất, là tìm không thấy; thứ hai, có tìm thấy chưa chắc đã đủ kiến thức để nhận biết, ở đây có thể dẫn điển tích “Ngọc Biện Hòa” là một ví dụ[3], do vậy, cần dựa vào pháp luật và những tiêu chuẩn xã hội đã và đang điều chỉnh trong đời sống để đánh giá một hành vi. Vậy thì khi xuất hiện người thứ ba trong quan hệ hôn nhân thì giải quyết theo phương án nào? Trước tiên là “tiên trách kỷ, hậu trách nhân” tìm điểm yếu bản thân để khắc phục, tạo lực hấp dẫn theo phương pháp “tự soi tự sửa”. Nhưng nếu không tìm thấy giải pháp thì Truyện Kiều của Nguyễn Du sẽ giúp ta cách tiếp cận khi giải quyết vấn đề.

Với nhiều người đánh ghen theo cách “nổi tam bành bà lên” thì cách hành xử của Hoạn Thư có những điểm nên tham khảo. “Ghen Hoạn Thư” - một điển tích văn học trong Truyện Kiều. Trong cư xử đánh ghen Hoạn Thư xác định trước vấn đề: Giữ cái gì và làm cái gì. Khi nghe “vườn mới thêm hoa”, Hoạn Thư xác định ngay, đó chỉ là việc “kiến trong miệng chén” và cơ sở để giải quyết vấn đề “… giữ lấy nền”. Trước tiên là giữ “nền” của gia phong sau đó tính đến các yếu tố khác, “mưu cao” đã tính đến các phương án, trong đó có cả phương án sống chung với lũ: “ví bằng thú thật cùng ta”. Nhưng khi có người “tâng công” thì Hoạn Thư đã thể hiện được việc giữ nền: “Chồng tao nào phải như ai”. Đây có thể gọi là “đỉnh cao trong xử lý khủng hoảng truyền thông”, đọc thông tin, đọc sách thấy tác giả này, giáo sư nọ ở đâu tận bên Âu, bên Mỹ đưa ra các khuyến cáo về xử lý khủng hoảng truyền thông, như: Nhận biết và các bước xử lý khủng hoảng truyền thông (4 bước, 5 bước, 6 bước, 7 bước,...); quản lý khủng hoảng truyền thông;… nhưng càng xử lý thì thông tin càng bung ra, nhưng khi Hoạn Thư xử lý thông tin thì “trong ngoài kín mít như bưng”, thể hiện được việc “giữ cái nền”.

Trong nhân gian có câu “người sao của chiêm bao là vậy”; Triết học Macxit có câu “bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội” để đánh giá cách ứng xử của con người khi sự việc xảy ra. Hoạn Thư xuất thân trong một gia đình “Vốn dòng họ Hoạn danh gia, con quan lại bộ…”, do vậy, giải quyết vấn đề “kiến trong miệng chén” trên cơ sở “nền”.

Tất nhiên, dưới góc độ pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành thì Hoạn Thư có thể có dấu hiệu cấu thành một số tội như: Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017); Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (đốt nhà Thúy Kiều) (Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017); với tính tiết phạm tội có tổ chức;… nhưng đặt dưới góc độ văn hóa ứng xử thì việc “giữ lấy nền” của Hoạn Thư là mới là “đỉnh cao trong xử lý khủng hoảng truyền thông gia đình”.

Như vậy, “đánh ghen” là một khái niệm tồn tại trong đời sống hôn nhân, tuy nhiên, trên cơ sở pháp luật hiện hành và quan hệ xã hội cần phải khẳng định một số nội dung đối với đánh ghen:

Thứ nhất, về pháp luật. Hiến pháp quy định các quyền công dân, các văn bản luật cụ thể hóa Hiến pháp và bảo vệ các quyền công dân theo quy định pháp luật. Các hành động xúc phạm nhân phẩm, danh dự, uy tín, hạ nhục; gây thương tích cho các cá nhân trong công động xã hội đều là hành vi vi phạm pháp luật. Hiến pháp khẳng định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”. Mọi hành vi liên quan đến việc sử dụng thông tin, hình ảnh cá nhân, như: Sử dụng hình ảnh; thu thập, công bố thông tin,… theo quy định pháp luật.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Về lý thuyết có thể hạn chế đánh ghen, cũng như hệ lụy do đánh ghen gây ra. Để pháp luật đi vào cuộc sống thì công tác phổ biến, giáo dục cần đẩy mạnh hơn với cách làm phù hợp, như: thời điểm, cơ sở hạng tầng phổ biến pháp luật,… Việc phổ biến kiến thức pháp luật liên quan đến đời sống gia đình; một tập tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật in hình ảnh về cuộc sống gia đình lúc đăng ký kết hôn có thể là hành vi nhân lên niềm vui cho xã hội đối với những người bước vào đời sống hôn nhân.

Bên cạnh đó, trong một xã hội đang dần chuyển đổi thành “xã hội số”, thì cần có cách làm phù hợp với cơ sở hạ tầng số, như: các trang mạng thể hiện hình ảnh đời sống hôn nhân đối với những cặp vợ chồng mới kết hôn, thay vì quảng cáo các sản phẩm chưa kiểm định chất lượng.

Thứ ba, nâng cao nhận thức cá nhân về pháp luật. Nhiều người sử dụng trạng mạng xã hội cho rằng khi tham gia mạng xã hội thì không ai biết mình ở đâu, quan niệm này cần phải được chấn chỉnh thì mọi việc sẽ dần đi vào trật tự. Nhiều cá nhân “bê nguyên” cả những quan niệm, cử chỉ, hành vi ở làng lên trang mạng xã hội khi đánh ghen, quan hệ xã hội làng thì không trích xuất được thông tin, nhưng đã tham gia mạng xã hội là trích xuất được thông tin, cho dù thông tin có lưu ở máy cá nhân hay không.

Do vậy, trước tiên cần định hướng cho các trang mạng xã hội về việc sử dụng hình ảnh, thông tin cá nhân trên các phương tiện truyền thông theo quy định của pháp luật. Qua đó, cũng định hướng cho các trang thông tin cá nhân, cũng như người tham gia vào các trang mạng xã hội để nâng cao nhận thức pháp luật về quyền công dân mà pháp luật quy định.

Thứ tư, về khái niệm đánh ghen. Phải khẳng định là hệ thống pháp luật hiện hành bảo vệ và bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền công dân. Đánh ghen là khái niệm đời sống xã hội, không được thừa nhận trong ngôn ngữ pháp luật. Do vậy, mọi hành vi sử dụng hình ảnh, thông tin, xúc phạm danh dự nhân phẩm cá nhân… không theo quy định pháp luật, có thể cấu thành tội phạm hình sự.

Đánh ghen xét cho cùng là khái niệm đời sống gia đình, mà “gia đình là tế bào xã hội”, trong tổng thể quan hệ xã hội thì đánh ghen chỉ là việc “kiến bò miệng chén”, nhưng đặt trong một “xã hội số” khi chuyển đổi số thành công sẽ là một thông tin toàn cầu./.

ThS. Trần Đức Thú
Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai


[1] Quốc triều Hình luật, Viện Sử học Việt Nam, Nxb. Pháp lý năm 1991.

[2] Bài viết sử dụng ngôn ngữ truyền thông hiện nay, từ “Tuesday” trong tiếng Anh là Thứ ba (ngày trong tuần) nhưng một số trang mạng dùng chỉ người thứ ba trong hôn nhân, mang tính hài hước.

[3] Ở đây có thể để cập đến “Ngọc Biện Hòa”, viên ngọc đó do một người dân đưa đến cho vua Sở, nhưng vua Sở không tin đó là ngọc và cho chặt chân người nông dân, người nông dân mang ngọc về khi vua khác lên thì dâng ngọc và tiếp tục bị từ chối và chặt tiếp chân còn lại. Đến khi vua Sở Văn Vương lên ngôi mới cho người kiểm tra mới biết đích xác là ngọc. Viên ngọc đó tạo nên điển tích là đổi 15 thành để lấy viên ngọc dâng cho nước Triệu (sau này là Tần) mới tạo ra Ngọc Tỷ được sử dụng trong các triều đại phong kiến Trung Quốc.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: