Thứ ba 22/09/2026 15:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điểm mới về tổ chức thi hành án của thừa phát lại

Nghị định mới về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại có sự kế thừa những quy định còn phù hợp, nhưng cũng có những điểm mới so với các nghị định trước đây về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại, nhất là trong lĩnh vực thi hành bản án, quyết định. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích, làm rõ những điểm mới, đồng thời, xin trao đổi thêm vài ý kiến liên quan đến việc tổ chức thi hành án của thừa phát lại.


Ngày 08/01/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại (Nghị định số 08/2020/NĐ-CP) thay thế cho Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh (Nghị định số 61/2009/NĐ-CP), Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP (Nghị định số 135/2013/NĐ-CP). Nghị định số 135/2013/NĐ-CP được ban hành trên cơ sở tổng kết thí điểm thừa phát lại được thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương trên cả nước và để thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về thực hiện chế định thừa phát lại.

Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định vấn đề “Thi hành bản án, quyết định theo yêu cầu của đương sự” tại Mục 4 Chương IV với nội dung gần như thay đổi cơ bản, cụ thể:

1. Về thẩm quyền tổ chức thi hành án của thừa phát lại (Điều 51)

Về cơ bản giữ nguyên Điều 34 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP), chỉ sửa tên điều: Thay “thẩm quyền, phạm vi” bằng “thẩm quyền tổ chức” thi hành án của thừa phát lại và sửa đổi, bổ sung một số nội dung thừa phát lại được tổ chức thi hành cho phù hợp với Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Luật Thi hành án dân sự như: Bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh; bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh nơi Văn phòng thừa phát lại đặt trụ sở. Do thay đổi về nội dung như vậy, nên khoản 2 Điều 34 nêu trên về việc thừa phát lại có thể tổ chức thi hành ngoài địa bàn cấp huyện được loại bỏ, đồng thời bổ sung quy định: “Thừa phát lại không tổ chức thi hành phần bản án, quyết định thuộc diện thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 36 của Luật Thi hành án dân sự”.

2. Về nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức thi hành án của thừa phát lại (Điều 52)

Đây là điều mới quy định nhiệm vụ, quyền hạn thừa phát lại được làm và không được làm khi tổ chức thi hành án, cụ thể:

Một là, những việc thừa phát lại được làm như: Thực hiện kịp thời, đúng nội dung quyết định thi hành án được thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự (THADS) ban hành theo đề nghị của Trưởng Văn phòng thừa phát lại; áp dụng đúng quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án; “mời” đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án; kiến nghị thủ trưởng cơ quan THADS xem xét, sửa đổi, bổ sung quyết định thi hành án đã ban hành; xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; “đề nghị” cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án.

Hai là, những việc thừa phát lại không được làm như: Áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án; sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự); xử phạt hành chính; yêu cầu Tòa án xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án theo quy định tại Điều 74 Luật Thi hành án dân sự; yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự; các quyền yêu cầu Tòa án xác định người có quyền sở hữu, sử dụng tài sản, giấy tờ tạm giữ; xác minh quyền sở hữu, sử dụng tài sản để thi hành án, giải quyết tranh chấp tài sản; giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản theo quy định tại khoản 4 Điều 68, khoản 3 Điều 69 và khoản 2 Điều 102 của Luật Thi hành án dân sự.

Có thể dễ dàng nhận thấy, nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức thi hành án của thừa phát lại bị thu hẹp rất nhiều so với chấp hành viên. Nếu như tại các điều 38, 39, 40 và 41 của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP) quy định và cho phép thừa phát lại áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án (chỉ bị hạn chế khi áp dụng biện pháp cưỡng chế có huy động lực lượng bảo vệ thì phải báo cáo xin ý kiến Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự và có quyết định của Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự), thì theo quy định mới, thừa phát lại không còn có các quyền này. Tương tự như vậy, thừa phát lại cũng không còn các quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, hủy bỏ giấy tờ, giao dịch, xác định người có quyền sở hữu, sử dụng; xác định, phân chia, xử lý tài sản chung, tuyên bố giao dịch vô hiệu… Cũng từ quan niệm thừa phát lại là tư nhân, nên chỉ có quyền “mời” đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án mà không có quyền “triệu tập” những người này như chấp hành viên hoặc chỉ có quyền “đề nghị” cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu để xác minh điều kiện thi hành án, mà không có quyền “yêu cầu” như chấp hành viên[1]…

3. Về quyền yêu cầu thi hành án (Điều 53)

Về cơ bản giữ nguyên Điều 35 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP), chỉ bỏ đoạn 2 khoản 1 về việc: “Đương sự có quyền yêu cầu Văn phòng thừa phát lại xác minh điều kiện THADS trong trường hợp vụ việc đó đang do cơ quan THADS trực tiếp thi hành” vì đã được quy định tại khoản 1 Điều 44 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP “thỏa thuận về xác minh điều kiện thi hành án”; đồng thời chuyển đoạn 2 và đoạn 3 khoản 2 Điều 36 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP) về “thủ tục chung về thi hành án của thừa phát lại” thành khoản 2 Điều 53 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.

4. Về thỏa thuận về việc tổ chức thi hành án (Điều 54)

Về cơ bản giữ nguyên Điều 44 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP), chỉ bổ sung cụm từ “việc tổ chức” vào tên điều, đồng thời sửa đổi, bổ sung làm rõ thỏa thuận về việc tổ chức thi hành án giữa người yêu cầu thi hành án và Văn phòng thừa phát lại được thể hiện dưới hình thức “hợp đồng dịch vụ” thay vì “hình thức hợp đồng” chung chung như trước; bổ sung “trách nhiệm của Văn phòng thừa phát lại trong việc thực hiện yêu cầu thi hành án theo ủy quyền” vào nội dung hợp đồng; sửa đổi việc Văn phòng thừa phát lại phải vào “sổ thi hành án được lập theo mẫu do Bộ Tư pháp quy định” thay vì vào “sổ thụ lý văn bản thỏa thuận về thi hành án” như trước.

5. Về quyết định thi hành án (Điều 55)

Nội dung này được sửa đổi một cách cơ bản so với quy định trước, cụ thể như sau:

Một là, về thẩm quyền ra quyết định thi hành án: Theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP) thì Trưởng Văn phòng thừa phát lại “ra quyết định thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ký hợp đồng thỏa thuận thi hành án với người yêu cầu”, nhưng theo Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, thì Trưởng Văn phòng thừa phát lại chỉ “căn cứ vào nội dung hợp đồng dịch vụ và thẩm quyền thi hành án quy định tại Điều 35 của Luật Thi hành án dân sự có văn bản đề nghị Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự hoặc Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự nơi Văn phòng thừa phát lại đặt trụ sở ra quyết định thi hành án theo thẩm quyền”. Như vậy, từ chỗ là người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án, thì nay Trưởng Văn phòng thừa phát lại chỉ có quyền lập văn bản đề nghị người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

Hai là, quy định trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan THADS phải xem xét ra quyết định thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Trưởng Văn phòng thừa phát lại; trường hợp không ra quyết định thi hành án thì phải trả lời bằng văn bản có nêu rõ lý do.

Ba là, quy định nội dung quyết định thi hành án tại khoản 3 Điều 55 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.

Bốn là, quy định rõ nội dung công việc thừa phát lại phải thực hiện để tổ chức thi hành án theo quy định tại điểm e khoản 3 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP bao gồm: Xác minh điều kiện thi hành án; tổ chức thi hành án; thỏa thuận về việc thi hành án; thanh toán tiền thi hành án. Đối chiếu với quy định trước, thì nội dung công việc thừa phát lại phải thực hiện để tổ chức thi hành án bị thu hẹp một cách đáng kể, không còn quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án, quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án và các quyền yêu cầu khác… Trong khi đó, đây mới chính là nội dung cơ bản, cốt lõi của việc tổ chức thi hành án.

Năm là, quy định thời hạn và đối tượng gửi quyết định thi hành án bao gồm: Đương sự, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện hoặc cấp tỉnh nơi Văn phòng thừa phát lại đặt trụ sở.

Sáu là, quy định trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan THADS trong việc ra hoặc không ra quyết định thi hành án theo đề nghị của Trưởng Văn phòng thừa phát lại; trách nhiệm của thừa phát lại về việc đề nghị ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành quyết định thi hành án.

Bảy là, xác định quyết định thi hành án được ban hành theo đề nghị của Văn phòng thừa phát lại không được tính vào các vụ việc thụ lý, tổ chức của cơ quan THADS.

6. Về thủ tục chung về thi hành án của thừa phát lại (Điều 56)

Điều này được sửa đổi, bổ sung theo hướng kết cấu lại gọn hơn: Chuyển đoạn 2 và đoạn 3 khoản 2 Điều 36 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP) thành khoản 2 Điều 53 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP “quyền yêu cầu thi hành án”; đồng thời sửa đổi, bổ sung theo hướng phân biệt hai trường hợp khác nhau, cụ thể :

Một là, đối với vụ việc “đang” (thay vì “đã”) do cơ quan THADS tổ chức thi hành nhưng sau đó đương sự có văn bản yêu cầu không tiếp tục và “đình chỉ thi hành án” để Văn phòng thừa phát lại tổ chức thi hành thì đương sự không có quyền yêu cầu cơ quan THADS tiếp tục thi hành đối với các khoản đã được cơ quan thi hành án ra quyết định “đình chỉ” thi hành án.

Hai là, đối với các vụ việc “đang” do Văn phòng thừa phát lại tổ chức thi hành nhưng sau đó đương sự có văn bản yêu cầu không tiếp tục thi hành án và “chấm dứt hợp đồng” với Văn phòng thừa phát lại thì người được thi hành án có thể yêu cầu cơ quan THADS, Văn phòng thừa phát lại khác có thẩm quyền tiếp tục tổ chức thi hành, trừ trường hợp đã đình chỉ thi hành án nêu trên. Việc sửa đổi, bổ sung này là cần thiết vì có thể đương sự chỉ yêu cầu không tiếp tục thi hành án đối với một Văn phòng thừa phát lại cụ thể nào đó mà không từ bỏ quyền lợi được hưởng theo bản án, quyết định. Trong trường hợp này, họ vẫn có thể yêu cầu cơ quan thi hành án, Văn phòng thừa phát lại khác có thẩm quyền tiếp tục tổ chức thi hành án.

Ba là, bổ sung làm rõ hơn đoạn 4 khoản 2 Điều 36 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP) theo hướng: Yêu cầu thi hành án mới của đương sự ngoài việc phải nêu rõ kết quả thi hành án trong đó, những nội dung yêu cầu thi hành tiếp, phải kèm theo “thông tin và tài liệu liên quan đến nội dung yêu cầu”. Đồng thời quy định: Trình tự, thủ tục, kết quả thi hành án trước đó nếu thực hiện đúng quy định của pháp luật vẫn có giá trị pháp lý và được sử dụng làm căn cứ để tiếp tục tổ chức thi hành án.

7. Về chấm dứt việc thi hành án của thừa phát lại (Điều 57)

Điều này được sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản trên cơ sở Điều 43 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP), cụ thể, thừa phát lại phải thông báo cho cơ quan THADS đã ra quyết định thi hành án về việc chấm dứt thi hành án trong các trường hợp: Việc thi hành án đương nhiên kết thúc theo quy định của Luật Thi hành án dân sự; theo thỏa thuận giữa thừa phát lại và đương sự; trường hợp phải áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế; phát sinh điều kiện thi hành án ngoài địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng thừa phát lại đặt trụ sở; quá thời hạn quy định mà người được thi hành án không yêu cầu Tòa án xác định, phân chia quyền sở hữu, quyền sử dụng đất trong khối tài sản chung hoặc không yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch liên quan đến tài sản là vô hiệu và người phải thi hành án không còn tài sản nào khác; các trường hợp phải yêu cầu Tòa án xác định người có quyền sở hữu, sử dụng tài sản, giấy tờ tạm giữ, xác định quyền sở hữu, sử dụng tài sản, giấy tờ tạm giữ; xác định quyền sở hữu, sử dụng tài sản để thi hành án, giải quyết tranh chấp tài sản; yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản; giải quyết tranh chấp về kết quả đấu giá tài sản và người phải thi hành án không còn tài sản nào khác.

Quy định trên đây xuất phát từ khoản 2 Điều 52 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, theo đó, thừa phát lại không được thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn về áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án, yêu cầu Tòa án xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án, tuyên bố giao dịch vô hiệu và các yêu cầu khác như trên đã nêu. Do đó, khi phát sinh các trường hợp này, thì việc tổ chức thi hành án của thừa phát lại chấm dứt để chuyển sang cho cơ quan thi hành án tiếp tục thi hành.

8. Về hậu quả pháp lý khi chấm dứt việc thi hành án (Điều 58)

Điều này được hình thành trên cơ sở tách khoản 2 Điều 43 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP) và sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung cơ bản như:

Một là, quy định việc thanh lý “hợp đồng dịch vụ về thi hành án” (thay vì thanh lý “văn bản yêu cầu thi hành án”) khi chấm dứt việc thi hành án; phương thức giải quyết tranh chấp đối với việc thanh lý hợp đồng (nếu có) thông qua con đường Tòa án.

Hai là, quy định việc xử lý đối với vụ việc chưa thi hành xong thì “đương sự có quyền tiếp tục yêu cầu thi hành án” theo quy định tại điều 53 của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.

Ba là, trường hợp chấm dứt việc thi hành án theo các khoản 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 57 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, trước khi thanh lý hợp đồng, Trưởng Văn phòng thừa phát lại phải thực hiện các nội dung: Ra quyết định hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thu hồi các quyết định, thông báo, văn bản về thi hành án chưa thực hiện xong; chuyển toàn bộ hồ sơ thi hành án sang cơ quan THADS có thẩm quyền tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật THADS.

Bốn là, quy định trách nhiệm của Văn phòng thừa phát lại phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân trước khi thanh lý hợp đồng về việc chấm dứt việc thi hành án và việc đã chuyển hồ sơ sang cơ quan THADS.

Năm là, quy định trách nhiệm của cơ quan THADS trong việc tiếp nhận hồ sơ thi hành án do Văn phòng thừa phát lại chuyển; tiếp nhận đơn yêu cầu thi hành án của đương sự, ra quyết định thi hành án và phân công chấp hành viên tổ chức thi hành; công nhận và sử dụng kết quả thi hành án trước đó do thừa phát lại thực hiện khi vụ việc được tiếp tục thi hành án nếu kết quả đó có được không do vi phạm pháp luật.

9. Về thanh toán tiền thi hành án (Điều 59)

Điều này được sửa đổi trên cơ sở rút gọn Điều 42 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP) và có bổ sung nội dung mới, như:

Một là, quy định chung việc thanh toán tiền thi hành án của thừa phát lại được thực hiện theo quy định của pháp luật THADS mà không liệt kê từng trường hợp như trước.

Hai là, quy định việc phối hợp giữa cơ quan THADS và Văn phòng thừa phát lại trong việc thanh toán tiền thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án phải thi hành nhiều nghĩa vụ đang do cả hai cơ quan cùng tổ chức thi hành.

10. Về trách nhiệm của các cơ quan trong việc thi hành án (Điều 60)

Đây là điều mới quy định trách nhiệm của các cơ quan có liên quan trong việc thi hành án của thừa phát lại, cụ thể:

Một là, cơ quan thi hành án cấp tỉnh hoặc cấp huyện nơi Văn phòng thừa phát lại đặt trụ sở có trách nhiệm ra quyết định thi hành án theo đề nghị của Văn phòng thừa phát lại; chuyển giao quyết định thi hành án cho Văn phòng thừa phát lại; Cục Thi hành án dân sự nơi Văn phòng thừa phát lại đặt trụ sở có trách nhiệm hỗ trợ việc thi hành án của Văn phòng thừa phát lại, hướng dẫn việc phối hợp thi hành án giữa các Chi cục Thi hành án dân sự với Văn phòng thừa phát lại và giữa các Văn phòng thừa phát lại trên địa bàn; cơ quan THADS có trách nhiệm phối hợp với các Văn phòng thừa phát lại trong việc xác minh điều kiện thi hành án và thanh toán tiền thi hành án theo quy định.

Hai là, quy định trách nhiệm của các cơ quan bảo hiểm xã hội, kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng trong việc “phối hợp” cung cấp thông tin và “hỗ trợ” thừa phát lại, Văn phòng thừa phát lại trong việc xác minh điều kiện thi hành án.

Ba là, quy định trách nhiệm của cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm trong việc thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất cho người mua được tài sản, người được thi hành án nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án; thu hồi, sửa đổi, hủy các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất, giấy tờ đăng ký giao dịch bảo đảm đã cấp cho người phải thi hành án; thực hiện việc cấp mới các giấy tờ đó theo quy định của pháp luật. Quy định này là cần thiết, vì mặc dù thừa phát lại không có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế, nhưng cũng có thể trong một số trường hợp họ có thể thuyết phục đương sự, theo đó, người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để trừ tiền thi hành án.

Như vậy, do cơ chế thi hành án của thừa phát lại đã thay đổi căn bản nên cần quy định cụ thể mối quan hệ giữa cơ quan thi hành án và Văn phòng thừa phát lại trong việc đề nghị và ra quyết định thi hành án; đồng thời bổ sung quy định trách nhiệm của các cơ quan có liên quan trong việc thi hành án của thừa phát lại. Tuy nhiên, như đã phân tích ở phần trên, các cơ quan như bảo hiểm xã hội, kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng chỉ có trách nhiệm ở mức độ “phối hợp” và “hỗ trợ” theo “đề nghị” của thừa phát lại, chứ không phải là bắt buộc phải cung cấp thông tin, thực hiện “yêu cầu” như đối với chấp hành viên, cơ quan THADS. Đây có thể sẽ là trở ngại cho thừa phát lại trong việc xác minh điều kiện thi hành án và tổ chức việc thi hành án, nếu các cơ quan, tổ chức, cá nhân không nhận thức đầy đủ và không có tinh thần phối hợp tốt, tạo điều kiện để thừa phát lại hoàn thành nhiệm vụ.

TS. Nguyễn Thanh Thủy

Học viện Tư pháp



[1]. Kết luận của Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình tại cuộc họp ngày 16/11/2018 về dự thảo Nghị định về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại với sự tham gia của đại diện Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội…

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: