Chủ nhật 25/10/2026 08:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính - Một số vấn đề cần hoàn thiện

Bài viết bàn về đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính nhằm làm rõ những quy định hiện hành để bảo đảm quyền của người khởi kiện cũng như hiểu một cách thống nhất trong quá trình thụ lý, giải quyết các vụ án hành chính trong các cơ quan Tòa án.

1. Dẫn nhập

Thụ lý giải quyết các vụ án hành chính (VAHC) để đáp ứng nhu cầu điều chỉnh pháp luật là một nhiệm vụ quan trọng trong việc bảo đảm an ninh trật tự cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức trong đời sống xã hội. Pháp luật hành chính ra đời từ rất lâu, song hành cùng với sự tồn tại, phát triển của đất nước nhưng pháp luật tố tụng hành chính (TTHC) và cơ chế giải quyết các VAHC ra đời muộn hơn. Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án hành chính năm 1996 sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006 (Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính) được thay thế bởi Luật Tố tụng hành chính năm 2010 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Chỉ trong thời gian ngắn nhưng pháp luật TTHC đã có những thay đổi mang tính tích cực, đáp ứng nhu cầu điều chỉnh pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, để áp dụng pháp luật TTHC một cách hiệu quả trong việc thụ lý, giải quyết các vụ án liên quan đến hành vi hành chính (HVHC), quyết định hành chính (QĐHC) đòi hỏi phải có sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo trên cơ sở tôn trọng lợi ích nhà nước, lợi ích của tổ chức, cá nhân là đối tượng chịu sự điều chỉnh của pháp luật hành chính.

2. Đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án hành chính năm 1996, sau đó là Luật Tố tụng hành chính năm 2010 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đều không quy định giải thích từ ngữ hoặc sử dụng thuật ngữ “đối tượng khởi kiện”.

Thuật ngữ “đối tượng khởi kiện” chỉ xuất hiện từ Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Tố tụng hành chính năm 2010. Đến nay, trong các văn bản giải đáp của Tòa án nhân dân tối cao liên tiếp có những hướng dẫn về xác định đối tượng khởi kiện trong các VAHC[1].

Cùng quan điểm hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng có Công văn số 22/HD-VKSTC ngày 05/6/2020 hướng dẫn một số nội dung liên quan đến công tác kiểm sát việc giải quyết các VAHC trong lĩnh vực đất đai, trong đó có đề cập đến vấn đề xác định đối tượng khởi kiện.

Trên cơ sở nghiên cứu các văn bản trên cho thấy, đối tượng khởi kiện được hiểu là các QĐHC, HVHC bị kiện trong VAHC và một số đối tượng khác thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo loại việc quy định tại Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

2.1. Nhận diện đối tượng khởi kiện

Đối tượng khởi kiện VAHC được quy định tại Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 theo nhóm, không liệt kê như quy định tại Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án hành chính. Trong số các nhóm đối tượng khởi kiện được quy định thì nhóm đối tượng khởi kiện là QĐHC, HVHC có nhiều tranh luận trong thực tiễn tố tụng. Có ý kiến cho rằng: Việc mở rộng thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của Tòa án đồng nghĩa với việc cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện VAHC đối với QĐHC, HVHC ảnh hưởng đến quyền, lợi ích, nghĩa vụ của mình. Thậm chí, có ý kiến còn hiểu rằng, mọi QĐHC, HVHC đều trở thành đối tượng khởi kiện VAHC tại Tòa án. Những ý kiến còn lại thì xác định: Không phải mọi QĐHC, HVHC đều trở thành đối tượng khởi kiện VAHC mà chỉ những QĐHC, HVHC mang tính chất cá biệt mới là đối tượng khởi kiện VAHC. Ngoài ra, thực tế hoạt động quản lý hành chính của các chủ thể còn có những đặc thù và mỗi vụ án có thể xuất hiện nhiều QĐHC, HVHC. Vì vậy, việc xác định QĐHC, HVHC nào là đối tượng khởi kiện theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 là cần thiết, đòi hỏi chủ thể tiến hành tố tụng phải có kỹ năng đối chiếu, áp dụng quy định pháp luật, dựa vào lý do và yêu cầu của người khởi kiện để nhận định và đưa ra kết luận về đối tượng khởi kiện VAHC một cách chính xác.

Như vậy, nhận diện đối tượng khởi kiện trong VAHC là cách thức mà chủ thể tham gia tố tụng và chủ thể tiến hành tố tụng dựa trên hồ sơ vụ việc, yêu cầu khởi kiện, lý do khởi kiện và đối chiếu quy định pháp luật để đưa ra kết luận về đối tượng khởi kiện trong VAHC.

2.2. Quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện

Hiến pháp năm 2013 quy định, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Nhà nước muốn quản lý xã hội nói chung, nhất là trong lĩnh vực công thì phải thể hiện ý chí thông qua quyền lực của mình dưới hình thức là những quyết định pháp luật, trong đó có QĐHC. Có thể nói, trong quản lý nhà nước, QĐHC có vai trò đặc biệt quan trọng, được coi như một công cụ cơ bản, không thể thiếu của các chủ thể quản lý sử dụng để thực hiện các chức năng quản lý như tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra. QĐHC thể hiện ý chí quyền lực đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, của cơ quan, tổ chức khác hoặc người có chức vụ trong cơ quan, tổ chức đó được Nhà nước giao quyền thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật, theo trình tự và hình thức do pháp luật quy định hướng tới việc thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính. Do đó, QĐHC mang tính quyền lực nhà nước và tính pháp lý.

Quyền lực nhà nước được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động của bộ máy nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tính quyền lực nhà nước được thể hiện ở việc chủ thể ban hành là cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được quy định trong văn bản pháp luật. QĐHC đều phải được thi hành đối với chủ thể bị quản lý. Chủ thể bị quản lý có nghĩa vụ chấp hành, có nghĩa là quyết định sẽ được bảo đảm bằng biện pháp cưỡng chế của Nhà nước khi cần thiết. Ngoài ra, quyền lực nhà nước còn được thể hiện trong việc các chủ thể có thẩm quyền tiến hành những hoạt động cần thiết để bảo đảm thực hiện ý chí của Nhà nước như các biện pháp về kinh tế, giáo dục, thuyết phục…

QĐHC là kết quả của sự thể hiện ý chí của Nhà nước. Mặc dù khi ban hành quyết định, chủ thể quản lý hành chính có thể xem xét, lấy ý kiến của đối tượng tác động bởi quyết định nhưng ý kiến đó chỉ có giá trị tham khảo, nhằm tránh nhìn nhận có thể phiến diện từ phía cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Vì vậy, trong QĐHC, ý chí của Nhà nước thể hiện một cách tập trung nhất. Do vậy, các quyết định do Nhà nước ban hành đều có những giá trị về mặt pháp lý.

Theo đó, khoản 8 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định: QĐHC là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Quy định này cũng được đề cập tại khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2010. Tuy nhiên, đến Luật Tố tụng hành chính năm 2015 có sự thay đổi về khái niệm QĐHC. Theo đó, tại khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã quy định: “Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”.

Có thể nói, qua hoạt động quản lý và thực tiễn xét xử thì khái niệm về QĐHC đã được pháp luật quy định bổ sung những đặc điểm, dấu hiệu phù hợp để nhận diện. Từ đó, các chủ thể TTHC xác định chính xác về đối tượng khởi kiện cũng như xác định đầy đủ phạm vi giải quyết VAHC, khắc phục được nhiều sai sót khi khởi kiện và thụ lý VAHC.

2.2.1. Những dấu hiệu để nhận diện quyết định hành chính

Từ quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và khoản 8 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 có thể xác định 3 dấu hiệu nhận diện QĐHC như sau:

Một là, hình thức của quyết định hành chính.

Theo khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án hành chính và khoản 10 Điều 2 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, thì QĐHC được thể hiện dưới hình thức quyết định bằng văn bản. Quy định này đóng khung về nhận thức khi xác định QĐHC trước tiên phải là quyết định bằng văn bản. Trong khi đó, thực tế các chủ thể thực hiện hoạt động quản lý đã ban hành nhiều QĐHC nhưng không theo hình thức của một quyết định mà dưới dạng công văn, thông báo, kết luận… dẫn đến việc áp dụng pháp luật khi xác định đối tượng khởi kiện gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến quyền khởi kiện của các chủ thể bị quản lý.

Tại khoản 8 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 và Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định về QĐHC phù hợp với thực tế. Theo đó, xác định QĐHC không chỉ dưới thể thức văn bản là quyết định mà còn dưới hình thức là những văn bản quản lý khác như công văn, thông báo, kết luận.

Trong trường hợp hình thức chưa bảo đảm quyết định theo quy định nêu trên thì để nhận diện về hình thức của đối tượng khởi kiện là QĐHC, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 có nội dung hướng dẫn đối tượng khởi kiện vụ án hành chính quy định tại Điều 28 của Luật Tố tụng hành chính năm 2010 như sau: QĐHC thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết VAHC là văn bản được thể hiện dưới hình thức quyết định hoặc dưới hình thức khác như thông báo, kết luận, công văn do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành có chứa đựng nội dung của QĐHC được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính mà người khởi kiện cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (trừ những văn bản thông báo của cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức bổ sung, cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết, xử lý vụ việc cụ thể theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó).

Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao thì QĐHC có thể dưới hình thức là quyết định hoặc dạng văn bản khác như công văn, thông báo, kết luận …

Hai là, chủ thể ban hành quyết định hành chính.

Tiêu chí chủ thể ban hành quyết định hành chính cũng có sự thay đổi cho phù hợp với thực tiễn quản lý. Trước đây, theo quy định tại khoản 10 Điều 2 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 thì chủ thể ban hành QĐHC là cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành. Còn theo khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án hành chính thì chủ thể ban hành QĐHC là bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, cơ quan nhà nước ở địa phương, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp. Quy định về chủ thể thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước mang tính liệt kê như nêu trên dễ dẫn đến bỏ sót, lọt chủ thể quản lý. Thực tế chức năng quản lý còn do người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước và các cơ quan nhà nước, tổ chức khác cũng như người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó thực hiện. Do đó, cùng với Luật Tố tụng hành chính năm 2010 thì Luật Khiếu nại năm 2011 đã bổ sung về chủ thể ban hành QĐHC. Theo đó, chủ thể ban hành QĐHC gồm có cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành. Nội dung bổ sung này đáp ứng nhu cầu thực tiễn công tác cải cách hành chính giai đoạn từ 2010 đến nay.

Ba là, đối tượng và hình thức quản lý.

Theo quy định của pháp luật, QĐHC được áp dụng một lần về một vấn đề cụ thể trong lĩnh vực quản lý nhà nước đối với một hoặc một số đối tượng. Nội dung này thể hiện hình thức quản lý của QĐHC luôn mang tính mệnh lệnh, bắt buộc. Đối tượng bị quản lý phải phục tùng, phải chấp hành. Hình thức và đối tượng quản lý sẽ là cơ sở để xác định quyền khiếu nại, quyền khởi kiện vụ án hành chính.

Mỗi QĐHC mang sứ mệnh của mình về một lĩnh vực quản lý, một hoạt động quản lý của nhà nước nhằm bảo đảm cho sự ổn định, phát triển của đất nước. Xác định những hoạt động nào là quản lý nhà nước được quy định tại văn bản pháp luật chuyên ngành.

2.2.2. Những đặc điểm của quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện

Từ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cho thấy: Không phải mọi QĐHC đều là đối tượng khởi kiện trong VAHC. Sau khi xác định được QĐHC trong hoạt động quản lý thì chủ thể TTHC phải phân biệt để lựa chọn được tính cá biệt của các QĐHC là đối tượng khởi kiện. Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, QĐHC bị kiện (đối tượng khởi kiện) là quyết định quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 mà việc ban hành ra QĐHC đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, cá nhân. Theo đó, QĐHC là đối tượng khởi kiện phải đảm bảo 05 yếu tố:

- Về hình thức: Là văn bản.

- Về chủ thể ban hành: Do cơ quan hành chính, cơ quan, tổ chức khác hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó ban hành.

- Về hình thức, đối tượng điều chỉnh: Áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.

- Phạm vi điều chỉnh: Được thực hiện trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

- Ngoài ra, để trở thành đối tượng khởi kiện hành chính thì QĐHC đó phải mang tính cá biệt. Đây là đặc điểm để phân biệt giữa QĐHC, là đối tượng khởi kiện với các QĐHC khác.

Biểu hiện về tính cá biệt của QĐHC là đối tượng khởi kiện quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 là làm phát sinh, thay đổi quyền, lợi ích, nghĩa vụ của chủ thể phải chấp hành. Trong khi, QĐHC thông thường chỉ sẽ làm, chưa trực tiếp làm phát sinh, thay đổi quyền, lợi ích, nghĩa vụ của chủ thể có nghĩa vụ chấp hành.

Nhận thức về tính cá biệt của QĐHC có ý nghĩa quan trọng khi xác định đối tượng khởi kiện. Phần lớn những sai sót về đối tượng khởi kiện mà chủ thể tiến hành tố tụng và chủ thể tham gia tố tụng mắc phải là do đánh giá sự tác động trực tiếp, ảnh hưởng trực tiếp của QĐHC đến đối tượng quản lý.

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hành chính về đối tượng khởi kiện

Để kịp thời hướng dẫn giải quyết các VAHC, đặc biệt là hướng dẫn xác định đối tượng khởi kiện VAHC liên quan đến các vấn đề tố tụng như phạm vi giải quyết vụ án, thẩm quyền xét xử, thời hiệu khởi kiện... tác giả xin đưa ra một số kiến nghị sau đây:

3.1. Về hoàn thiện pháp luật

Thứ nhất, thống nhất khái niệm QĐHC, HVHC được quy định trong Luật Khiếu nại và Luật Tố tụng hành chính năm 2015, đặc biệt là quy định về chủ thể ban hành QĐHC, thực hiện HVHC.

Thứ hai, cần rà soát, điều chỉnh một số văn bản quy định về thủ tục khiếu nại sau đó được khởi kiện VAHC không chính xác, dẫn đến nhận diện sai đối tượng khởi kiện.

3.2. Về hướng dẫn áp dụng pháp luật

Do một số văn bản hướng dẫn xác định QĐHC, HVHC chưa thực sự phù hợp với cơ sở lý luận cũng như quy định của pháp luật nên cần rà soát, điều chỉnh thống nhất, đó là:

Thứ nhất, xác định đối tượng xét xử hành chính của Tòa án là hoạt động quản lý hành chính nhà nước mà biểu hiện của hoạt động quản lý là QĐHC, HVHC.

Thứ hai, thống nhất về tính cá biệt của đối tượng khởi kiện. Đó là các QĐHC, HVHC phải làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và lợi ích; làm phát sinh nghĩa vụ của chủ thể bị ảnh hưởng trực tiếp bởi hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

Những QĐHC mang tính chỉ đạo, mang tính quy phạm thì không là đối tượng khởi kiện hành chính. Chỉ những QĐHC mang tính áp dụng quy phạm pháp luật làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và lợi ích; làm phát sinh nghĩa vụ của chủ thể liên quan đến hoạt động quản lý mới là đối tượng khởi kiện hành chính.

Quyết định giải quyết khiếu nại có nội dung giữ nguyên QĐHC cá biệt cũng không là đối tượng khởi kiện vì không trực tiếp làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và lợi ích; làm phát sinh nghĩa vụ của chủ thể bị ảnh hưởng trực tiếp bởi hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Trường hợp có các quyết định giải quyết khiếu nại liên quan đến QĐHC cá biệt bị kiện thì được đồng thời xem xét giải quyết theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

Thứ ba, phân biệt giữa quyết định hành chính bị kiện khác với các văn bản là thủ tục thực hiện hoạt động quản lý, văn bản là hệ quả của hoạt động quản lý.

Cần xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là QĐHC - đối tượng khởi kiện hành chính. Giấy tờ pháp lý này là hệ quả của hoạt động quản lý, tức là quyết định cấp hoặc hành vi cấp của cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp không đồng ý với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này thì phải xem xét:

- Trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu bằng hoạt động giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất hay cấp lại do bị hư hỏng thất lạc thì xác định đối tượng khởi kiện là quyết định hoặc hành vi của cơ quan có thẩm quyền.

- Trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thông qua các quan hệ pháp luật dân sự như nhận chuyển quyền sử dụng đất (tặng cho, chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa kế…) thì:

+ Nếu lý do khởi kiện là do tư cách chủ thể cũng như nội dung giao dịch trái pháp luật thì xác định không có đối tượng khởi kiện hành chính. Đương sự cần khởi kiện hoặc yêu cầu về dân sự để giải quyết theo loại hình tố tụng dân sự. Kết quả giải quyết vụ việc dân sự sẽ là căn cứ để xác lập, thay đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp.

+ Nếu lý do khởi kiện là do hoạt động đăng ký biến động thông tin, sang tên chủ sử dụng đất không đúng thì xác định đối tượng khởi kiện là HVHC của cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng quản lý, đăng ký biến động.

Thực tiễn cho thấy, việc nhận diện đối tượng khởi kiện trong VAHC có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động tố tụng, đòi hỏi các chủ thể tố tụng phải có kiến thức áp dụng đúng pháp luật và kỹ năng xác định đối tượng khởi kiện. Thông qua nhận diện đối tượng khởi kiện, người tiến hành tố tụng xác định và người tham gia tố tụng kiểm tra tính đúng đắn của việc khởi kiện hành chính. Các chủ thể tố tụng sẽ kiểm tra, kiểm soát lẫn nhau trong xác định đối tượng khởi kiện theo quy định của Luật Tố tụng hành chính, từ đó sẽ chủ động nghiên cứu hồ sơ và có giải pháp tố tụng phù hợp. Thẩm phán, kiểm sát viên phải nắm được bản chất của hoạt động quản lý hành chính nhà nước phát sinh khiếu kiện, không để xác định sai, xác định thiếu về đối tượng khởi kiện. Người khởi kiện không thể vì ý chí chủ quan mà yêu cầu Tòa án giải quyết loại việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do đó, nhận diện, xác định đúng đối tượng khởi kiện sẽ nâng cao trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm thi hành pháp luật, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của đương sự trong vụ án.

Nhận diện đối tượng khởi kiện là đòi hỏi tiên quyết đối với các chủ thể tố tụng, đóng vai trò quan trọng và tạo điều kiện để các chủ thể đó thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ của mình khi thực hiện, tham gia tố tụng. Từ những kết quả đạt được thông qua hoạt động nhận diện đối tượng khởi kiện có thể tổng kết, phân tích, đánh giá quy định pháp luật và tiếp tục hoàn thiện quy định pháp luật của Nhà nước về QĐHC, HVHC giữa Luật Khiếu nại và Luật Tố tụng hành chính. Qua đó, tạo cơ sở pháp lý để các chủ thể tham gia nhận diện đối tượng khởi kiện có cách hiểu và áp dụng thống nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ.

ThS. Lê Trí Cường

Chánh Tòa Dân sự, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội

[1]. Ví dụ như:

- Giải đáp số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao về một số vấn đề nghiệp vụ.

- Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề về nghiệp vụ.

- Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2018 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề về tố tụng hành chính.

- Công văn số 64/GĐ-TANDTC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vướng mắc về hình sự, dân sự, tố tụng hành chính.

- Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, việc phát triển kinh tế tư nhân đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện, phù hợp với định hướng tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Sau gần 10 năm thi hành Luật Đấu giá tài sản năm 2016, sửa đổi, bổ sung năm 2024 (Luật Đấu giá tài sản năm 2016) cho thấy một số quy định về đấu giá tài sản tự nguyện không phù hợp với thực tế, vì vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân là cấp thiết. Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện ở Việt Nam, tham khảo pháp luật một số quốc gia về đấu giá tự nguyện, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Tóm tắt: Hoạt động đấu giá tài sản ngày càng được mở rộng về quy mô, giá trị và phương thức tổ chức, đặt ra yêu cầu kiểm soát năng lực thực sự của người tham gia đấu giá. Luật Đấu giá tài sản năm 2016 chưa thiết lập cơ chế thống nhất để xác minh năng lực tài chính, nguồn vốn, khả năng thực hiện nghĩa vụ và lịch sử tuân thủ của người tham gia đấu giá. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và tìm hiểu thực tiễn, nghiên cứu luận giải sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản xuất phát từ quan điểm, chủ trương của Đảng và hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật hiện hành. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản nhằm bảo đảm tính minh bạch, cạnh tranh, thực chất và hiệu quả của hoạt động đấu giá.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trách nhiệm pháp lý của đấu giá viên có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm tính hợp pháp, công khai, minh bạch và khách quan trong hoạt động đấu giá tài sản. Sự phát triển của thị trường dịch vụ đấu giá và phương thức đấu giá trực tuyến đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của đấu giá viên. Trên cơ sở phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và các quy định của dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)** (dự thảo Luật), nghiên cứu làm rõ những nội dung được kế thừa, sửa đổi, bổ sung và ý nghĩa pháp lý của các quy định về trách nhiệm nghề nghiệp, xử lý tình huống tại phiên đấu giá, đấu giá trực tuyến, bồi thường thiệt hại và giải quyết hậu quả hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo đảm tổ chức thi hành hiệu quả, góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, minh bạch và trách nhiệm của đấu giá viên trong hoạt động đấu giá tài sản.
Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo, tập sự và tham dự kỳ thi quốc gia về luật sư để cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Việc hoàn thiện mô hình đào tạo nghề luật sư không chỉ là vấn đề đổi mới chương trình hay phương pháp giảng dạy, mà còn liên quan trực tiếp đến cơ chế quản lý, phân định trách nhiệm và bảo đảm chất lượng đội ngũ luật sư. Về vấn đề này, phóng viên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với Nhà giáo ưu tú, PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp về mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới và vấn đề hoàn thiện dự thảo Luật.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đề xuất cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền trong giải quyết một số công việc; đồng thời bước đầu lồng ghép các yếu tố khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động hành nghề luật sư và quản lý nhà nước về luật sư, hành nghề luật sư. Những định hướng này nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với nghề luật sư.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) do Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng quy định các nội dung liên quan đến luật sư, tổ chức và hoạt động hành nghề của luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư... Theo TS. Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp (đơn vị có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, trong đó có luật sư), những thay đổi về vấn đề này cần được xem xét không chỉ ở yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư mà còn ở việc phân định rõ quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo đảm thực hiện, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển dịch vụ pháp lý trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Tóm tắt: Tiêu chuẩn luật sư đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm và nâng cao chất lượng hoạt động nghề luật sư. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện tiêu chuẩn luật sư: (i) Luật hóa tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng gắn với chế định bồi dưỡng nhận thức chính trị hằng năm; (ii) mở rộng tiêu chuẩn chuyên môn cho phép người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (không có bằng cử nhân luật) được tham gia hành nghề luật sư nhưng gắn với cơ chế kiểm soát chất lượng. Trên cơ sở lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh nghiệm quốc tế (mô hình Juris Doctor) và thực tiễn 20 năm thi hành Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), nghiên cứu cho thấy, những sửa đổi này có căn cứ khoa học, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Việc kết hợp giữa siết chặt kỷ cương quản lý nhà nước với tiếp cận năng lực liên ngành, thực chất, vừa tạo "màng lọc" phòng ngừa suy thoái đạo đức hành nghề, vừa tạo đột phá thể chế thu hút nhân tài chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của đội ngũ luật sư Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển mới.
Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Tóm tắt: Nghề luật sư có tính truyền thống, lâu đời tại nhiều quốc gia. Mô hình truyền thống của tổ chức hành nghề luật sư mang tính đối nhân giữa các luật sư, như văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh. Cùng với sự phát triển của thị trường và yêu cầu đa dạng hóa dịch vụ pháp lý, mô hình tổ chức đối nhân đã từng bước chuyển hóa thành mô hình đối vốn, như công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Mô hình tổ chức hành nghề mang tính đối vốn kể từ Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức hành nghề luật sư và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức này. Hiện, thị trường dịch vụ pháp lý trên thế giới chịu tác động đáng kể từ yêu cầu của thị trường và sự phát triển của công nghệ. Trước bối cảnh đó, một số quốc gia đã cho phép thành viên góp vốn không phải luật sư có thể tham gia vào hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, qua đó, bổ sung nguồn lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị, tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện pháp luật về luật sư để bổ sung quy định về thành viên góp vốn tại tổ chức hành nghề luật sư, góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức này trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Đổi mới quy trình trở thành luật sư là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn mới, nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; xây dựng đội ngũ luật sư Việt Nam trong sạch, vững mạnh và đạt chuẩn quốc tế. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để luận giải về sự cần thiết phải đổi mới quy trình trở thành luật sư; đồng thời, đưa ra một số giải pháp và đánh giá hiệu quả các giải pháp đổi mới quy trình trở thành luật sư, chế định luật sư tập sự và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực thi hành.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Tổ chức xã hội - nghề nghiệp là một trong những chủ thể đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, hoạt động luật sư ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở phân tích lý luận về sự chuyển dịch tư duy từ “vai trò tự quản” sang “trách nhiệm tự quản” và đánh giá thực trạng công tác tự quản trên thực tế trong Báo cáo số 422/BC-BTP, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế về trách nhiệm tự quản và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư trong dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật). Các giải pháp tập trung vào việc tái cấu trúc các nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức tự quản; xây dựng cơ chế giải quyết quan hệ nội bộ gắn với quyền khởi kiện tại Tòa án; bảo đảm nguồn lực hỗ trợ từ Nhà nước và mở rộng tính đại diện của tổ chức tự quản. Đặc biệt, đổi mới tổ chức thực hiện nhằm hạn chế tình trạng “hành chính hóa”, nâng cao năng lực tự quản và hiệu quả thực hiện trách nhiệm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong tình hình mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Pháp luật về luật sư có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật về bổ trợ tư pháp, góp phần bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; đồng thời, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Sau gần 20 năm thi hành, Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển của đội ngũ luật sư, nghề luật sư và hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới, gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của thị trường dịch vụ pháp lý, một số quy định hiện hành bộc lộ hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trên cơ sở phân tích, đánh giá cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư; nhận diện những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thi hành, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, hiện đại và khả thi; bảo đảm hài hòa giữa quyền hành nghề, trách nhiệm nghề nghiệp và yêu cầu quản lý nhà nước, đồng thời, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý, phù hợp với hội nhập và thông lệ quốc tế của hoạt động luật sư Việt Nam.
Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng hồ sơ dự án Luật Luật sư (sửa đổi), hướng tới hoàn thiện thể chế pháp lý về luật sư và hành nghề luật sư bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong quá trình hoàn thiện Luật, một trong những yêu cầu được đặt ra là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên cơ sở kết hợp giữa quản lý nhà nước và chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Chủ trương xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy trách nhiệm tự quản nghề nghiệp của luật sư. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mô hình quản lý nhà nước và tự quản về luật sư cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Về vấn đề này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ, Luật sư Đào Ngọc Chuyền, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam về mô hình quản lý và tự quản về luật sư.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.

Theo dõi chúng tôi trên: