Thứ sáu 23/01/2026 11:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ

Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ

Tóm tắt: Trong bài viết này, nhóm tác giả phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ, từ đó, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả tuân thủ pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ.

Abstract: In this article, the authors analyze and evaluate the reality of law implementation of people in the Southwest region, thereby proposing some solutions to improve the efficiency of law compliance of people in the Southwest region.

1. Đặt vấn đề

Thực hiện pháp luật là quá trình làm cho những quy tắc của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật. Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, một số nhà nghiên cứu khoa học pháp lý đã chia hình thức thực hiện pháp luật thành: Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật. Có thể hiểu, tuân thủ pháp luật cũng như một hành vi của con người, được biểu hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động để thực hiện đúng các quy phạm pháp luật, qua đó góp phần bảo đảm cho các quy định được thực hiện đồng bộ, giúp cho công tác quản lý nhà nước đối với nền kinh tế, xã hội được dễ dàng, khoa học, hiệu quả, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh. Với vai trò và ý nghĩa đó, rất cần thiết phải có các giải pháp để nâng cao hiệu quả tuân thủ pháp luật của người dân. Có các giải pháp khả thi sẽ góp phần nâng cao nhận thức, ý thức thực hiện pháp luật của người dân.

Đối với khu vực Tây Nam Bộ, đây là vùng có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển kinh tế, nhất là về sản xuất lương thực, cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, có những hạn chế, vướng mắc, nhất là trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, trình độ người dân còn hạn chế, do đó, kiến thức, nhận thức pháp luật của họ sẽ không cao. Ví dụ: một thống kê năm 2014 cho thấy, đây là “vùng có tỷ lệ tốt nghiệp tốt nghiệp trung học cơ sở thấp nhất cả nước với 19,1% (bình quân cả nước 29,5%). Tương tự, tỷ lệ người dân tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên (bao gồm cả trung cấp, cao đẳng và đại học) của vùng thấp nhất cả nước với 12% (cả nước là 23,1%)”[1].

2. Thực trạng thực hiện pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ

Với mặt bằng dân trí còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước, đã có tác động và ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức nói chung và nhận thức, thực hiện pháp luật nói riêng của người dân vùng Tây Nam Bộ. Một trong những minh chứng có thể thấy là tình trạng vi phạm pháp luật của khu vực này trong thời gian qua vẫn còn diễn biến khá phức tạp. Các thế lực thù địch và phản động, cực đoan trong tôn giáo, dân tộc lợi dụng sự sơ hở, ý thức, nhận thức hạn chế của người dân để thực hiện các hoạt động chống phá, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình, kích động “tự diễn biến” trong nội bộ, lợi dụng những vấn đề nhạy cảm trong xã hội để gây mâu thuẫn nội bộ, làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước… Tình hình tội phạm, tai nạn giao thông và các tệ nạn xã hội khác vẫn còn ở mức cao. Tình hình khiếu kiện, khiếu nại đông người, vượt cấp, nghỉ việc tập thể còn xảy ra ở nhiều địa phương, chưa được giải quyết dứt điểm[2].

Như vậy, có thể thấy, tại khu vực Tây Nam Bộ, với mặt bằng chung về trình độ nhận thức, ý thức pháp luật còn thấp là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng gia tăng tội phạm, gây mất trật tự, an toàn xã hội, cơ quan chức năng phải mất nhiều công sức, thời gian giải quyết, xử lý, ảnh hưởng chung đến sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực. Xuất phát từ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và từ thực tiễn, rất cần thiết phải xây dựng hệ thống các giải pháp để nâng cao hiệu quả tuân thủ pháp luật của người dân ở khu vực này.

Bên cạnh đó, thực trạng chấp hành, theo dõi, thi hành pháp luật cũng là một trong những cơ sở thực tiễn quan trọng để trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả tuân thủ pháp luật của người dân trong vùng. Thực trạng này thường được thể hiện trong các báo cáo công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; báo cáo kết quả công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật hàng năm của các tỉnh, thành phố. Ví dụ: Để đưa ra các giải pháp tăng cường thực hiện công tác theo dõi, thi hành pháp luật, nâng cao vai trò của các cơ quan chức năng trong đấu tranh, phòng, chống tội phạm để thông qua đó, hạn chế vi phạm, nâng cao ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật thì việc đề xuất giải pháp phải dựa trên cơ sở thực tiễn là tình hình vi phạm vẫn còn diễn biến phức tạp, chẳng hạn, dựa vào Báo cáo kết quả công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật năm 2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang kỳ họp thứ 19, Hội đồng nhân dân tỉnh Hậu Giang khóa IX, để thấy tình hình tội phạm tăng cao hơn so cùng kỳ năm trước. Theo báo cáo, năm 2020, toàn tỉnh Hậu Giang đã xảy ra 270 vụ án về trật tự xã hội, tăng 36 vụ so năm 2019, trong đó, tội phạm trộm cắp tài sản, đánh bạc và cố ý gây thương tích chiếm tỷ lệ cao. Hậu quả, có 03 người tử vong, 63 người bị thương, tổng thiệt hại tài sản gần 29 tỷ đồng. Đáng quan tâm là tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng xảy ra 57 vụ, tăng 17 vụ so với năm 2009[3]. Nguyên nhân chủ yếu là do ý thức người dân chưa cao, cơ quan chức năng vào cuộc chưa quyết liệt, từ đó, đề xuất các giải pháp phù hợp.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, để bảo đảm cho việc xây dựng, đề xuất các giải pháp có cơ sở, có căn cứ thì người đề xuất cần tham khảo các cơ sở, căn cứ cụ thể, kể cả từ lý luận, thực tiễn để các giải pháp mang tính khả thi, đồng bộ, thực sự hiệu quả khi áp dụng. Ngoài cơ sở lý luận, khi xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tuân thủ pháp luật của người dân cũng cần dựa vào cơ sở thực tiễn, bởi lẽ, lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với nhau. Đặc biệt, đối với việc đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tuân thủ pháp luật của người dân ở một khu vực nhất định là Tây Nam Bộ thì rất cần thiết phải dựa trên thực tiễn của địa phương, khu vực, từ đó, các giải pháp đưa ra mới bảo đảm tính khả thi áp dụng riêng cho khu vực đó.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ

Để nâng cao hiệu quả tuân thủ pháp luật, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp như sau:

Một là, hoàn thiện về thể chế phù hợp với tình hình thực tiễn.

Để có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học pháp lý để cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng chiến lược pháp luật, các chương trình, kế hoạch xây dựng và hoàn thiện pháp luật của trung ương và địa phương; tăng cường sự chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo trung ương và địa phương đối với công tác theo dõi, thi hành pháp luật, công tác xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật của trung ương và địa phương; nâng cao chất lượng, năng lực của các cơ quan pháp chế sở, ngành trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật; thường xuyên tổ chức công tác rà soát, hệ thống hóa pháp luật và tổng kết kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện pháp luật.

Hai là, tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật quy phạm pháp luật.

Để nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, cần tổ chức cho nhân dân thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Thông qua quá trình tổ chức thực hiện pháp luật, nhân dân sẽ được trang bị thêm kiến thức pháp luật và ý thức tôn trọng, thực hiện pháp luật. Đối với hoạt động áp dụng pháp luật, đây là hình thức Nhà nước thông qua các cơ quan và người có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể khác thực hiện pháp luật, phải bảo đảm tính sáng tạo, tính tổ chức cao và chặt chẽ. Về nguyên tắc, hoạt động áp dụng pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện, tuy nhiên, hoạt động này sẽ đạt hiệu quả cao hơn nếu có sự tham gia rộng rãi của mọi tầng lớp nhân dân. Hoạt động của các cơ quan tư pháp trong quá trình tiến hành tố tụng để xét xử các hành vi vi phạm pháp luật sẽ tác động đến nhận thức của các đối tượng trong nhân dân, từ đó có tác dụng giáo dục đối với nhân dân, khiến nhân dân có ý thức tuân thủ pháp luật cao hơn[4].

Ba là, nâng cao nhận thức pháp luật của nhân dân trong việc tuân thủ pháp luật.

Để nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là sự tác động một cách có hệ thống, thường xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho mỗi người một trình độ kiến thức pháp lý nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, giải thích pháp luật để nhân dân hiểu đầy đủ nội dung của các văn bản pháp luật được ban hành trong từng giai đoạn; Đưa việc giảng dạy pháp luật vào hệ thống các trường học. Công tác giảng dạy pháp luật cần được tổ chức sâu rộng, cho mọi đối tượng và mọi ngành nghề, lĩnh vực. Để công tác giảng dạy pháp luật đạt hiệu quả, cần xây dựng chương trình, nội dung, giáo trình phù hợp cho từng loại đối tượng theo từng cấp học khác nhau. Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ pháp lý có năng lực và trình độ, có phẩm chất chính trị và phong cách làm việc tốt để bố trí vào các cơ quan tư pháp; Mở rộng dân chủ, công khai tạo điều kiện cho nhân dân tham gia một cách tích cực vào việc thảo luận đóng góp ý kiến về các dự án luật, qua đó nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân; Thực hiện kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức, văn hóa, nâng cao trình độ chung của nhân dân. Tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp và sự phối hợp, kết hợp của các ban, ngành, đoàn thể đối với công tác phổ biến pháp luật. Đầu tư phương tiện, điều kiện cần thiết để thực hiện công tác phổ biến pháp luật. Bên cạnh đó, huy động nguồn kinh phí từ nhiều cơ quan, trước hết phải là nguồn lực từ cơ quan nhà nước.

TS. Nguyễn Văn Phụng

Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Luật miền Nam

ThS. Thái Quốc Phong

Trưởng phòng Phòng Đào tạo và Công tác học sinh, sinh viên, Trường Cao đẳng Luật miền Nam

[1]. Hồ Sỹ Anh, Giáo dục Đồng bằng sông Cửu Long chậm hơn... 42 năm so với cả nước, https://thanhnien.vn/giao-duc-dbscl-cham-hon42-nam-so-voi-ca-nuoc-185755243.html, đăng tải ngày 08/5/2018.

[2]. Ngọc Thiện, Giữ vững an ninh quốc phòng vùng Tây Nam Bộ trong tình hình mới, https://www.vietnamplus.vn/giu-vung-an-ninh-quoc-phong-vung-tay-nam-bo-trong-tinh-hinh-moi/362845.vnp, đăng tải ngày 25/12/2015.

[3]. Châu Anh, Hậu Giang, Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng tăng, https://plo.vn/hau-giang-toi-pham-dac-biet-nghiem-trong-tang-post604099.html, đăng tải ngày 03/12/2020.

[4]. Vũ Thị Hoài Phương, Nâng cao ý thức pháp luật nhằm xây dựng lối sống tuân thủ pháp luật của nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” http://thanhtravietnam.vn/nghien-cuu-trao-doi/nang-cao-y-thuc-phap-luat-nham-xay-dung-loi-song-tuan-thu-phap-luat-cua-nhan-dan-trong-nha-nuoc-phap-quyen-xhcn-viet-nam-190707.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 378), tháng 4/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: