Thứ ba 20/01/2026 22:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Góp ý hoàn thiện Dự thảo Nghị định quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung

Trong bài viết này, trên cơ sở phân tích nội dung của Dự thảo Nghị định quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, nhóm tác giả chỉ ra một số hạn chế, bất cập của quy định trong Dự thảo, đồng thời đề xuất những giải pháp hoàn thiện Dự thảo này trong thời gian tới.

1. Đặt vấn đề

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, lịch sử đã từng ghi nhận những cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới với những suy nghĩ tiên phong, “xé rào”, phá bỏ cơ chế quản lý không phù hợp và đạt hiệu quả vô cùng to lớn. Để tiếp tục phát huy tinh thần đó, tạo động lực và cơ chế thúc đẩy, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám tiên phong để cống hiến hết mình cho lợi ích chung, Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung được ban hành, đến nay đã được thể chế hóa bằng Dự thảo Nghị định quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung (Dự thảo). Nhìn chung, về tổng thể, nội dung Dự thảo cơ bản đáp ứng được chủ trương của Đảng và Nhà nước về khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, quy định được những vấn đề cơ bản về xây dựng cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm nhưng cũng chính trong văn bản này, có một số quy định chưa thực sự phù hợp, chưa thống nhất với các quy định pháp luật có liên quan, làm giảm hiệu lực của cơ chế khuyến khích cán bộ, thậm chí tạo tâm lý cản trở cho hoạt động cống hiến vì lợi ích chung.

2. Một số vấn đề vướng mắc và hướng hoàn thiện

2.1. Trách nhiệm pháp lý trong bảo vệ, khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm

Có thể thấy, vấn đề đầu tiên được đặt ra thể hiện ngay trong tên của văn bản là nếu đã khuyến khích và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm thì tại sao lại còn đặt vấn đề “chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”. Nếu cán bộ đã thỏa mãn điều kiện “vì lợi ích chung là vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, của ngành, lĩnh vực, địa phương, cơ quan, đơn vị mà không vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, không có động cơ vụ lợi[1]” mà còn phải chịu trách nhiệm, trong đó có cả trách nhiệm pháp lý thì chưa thực sự phù hợp với tinh thần bảo vệ, khuyến khích. Bởi lẽ, nếu cán bộ không vụ lợi, không lợi ích nhóm, không lợi ích cá nhân, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm thì phải khuyến khích, bảo vệ và đương nhiên sẽ được miễn trừ trách nhiệm pháp lý. Nếu thực sự vì lợi ích chung thì cán bộ đó cần phải “được ghi nhận, tôn vinh, khen thưởng xứng đáng; được đặc cách, ưu tiên trong quy hoạch, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chính sách cán bộ”[2]. Tuy nhiên, đó chỉ xem là “phần thưởng” cho sự cống hiến của cán bộ chứ không phải là động lực chính, là đích đến của những đề xuất sáng tạo, đổi mới, dám nghĩ, dám làm của cán bộ. Ngược lại, nếu cán bộ bị xác định có hành vi lợi dụng các quy định pháp luật, làm trái pháp luật, vượt ngoài khuôn khổ pháp luật để vụ lợi cá nhân thì bị xử lý bằng các quy định pháp luật có liên quan chứ không thuộc phạm vi điều chỉnh của Dự thảo này. Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) cũng đã xác định rõ nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ là phải “thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao”[3]. Pháp luật hiện hành cũng không thiếu các chế tài để truy cứu trách nhiệm pháp lý cho cán bộ có những hành vi trái pháp luật như Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019); Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)…

Vì vậy, theo quan điểm của nhóm tác giả, cần thống nhất quan điểm rằng, vấn đề chịu trách nhiệm của cán bộ, trong đó có trách nhiệm pháp lý không đặt ra đối với cán bộ khi các đề xuất của cán bộ đã được thông qua có nội dung thỏa mãn các tiêu chí quy định của Dự thảo. Bởi vì, nếu pháp luật không có một sự “e dè” đối với những sáng kiến của cán bộ thì cán bộ mới có thể hết mình phụng sự vì lợi ích chung. Ngược lại, pháp luật vẫn “đặt nặng” vấn đề truy cứu trách nhiệm pháp lý thì khó có thể đòi hỏi cán bộ có thể hết mình nhiệt huyết với sự nghiệp chung mà không có bất cứ sự “dè chừng” nào cho bản thân mình. Nếu sự “phòng thủ” xuất phát từ hai phía thì vẫn chưa có sự đột phá về cơ chế để khuyến khích và bảo vệ cán bộ. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý, vấn đề trách nhiệm của cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền phê duyệt đề xuất đổi mới, sáng tạo phải được xác định rõ để bảo đảm tính pháp lý của cơ chế cũng như bảo đảm khả năng bảo vệ cán bộ của cơ quan, đơn vị mình quản lý.

Với lý do trên, nhóm tác giả cho rằng, nên thống nhất quan điểm từ tên Dự thảo đến toàn bộ nội dung của Dự thảo để tạo động lực khuyến khích cán bộ bằng việc bỏ cụm từ “dám chịu trách nhiệm” trong tên Dự thảo. Cụ thể, sửa thành “Nghị định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung”. Bên cạnh đó, bỏ các quy định tại khoản 5 Điều 4 Dự thảo: “Cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý kỷ luật và trách nhiệm hoàn trả ngân sách nhà nước” khi “thực hiện mà kết quả không hoàn thành hoặc hoàn thành một phần mục tiêu đề ra”. Trên tinh thần đó, cán bộ mới có thể tự tin, năng động, sáng tạo vì lợi ích chung và thấy được pháp luật, cơ quan, đơn vị khuyến khích, bảo vệ.

2.2. Trình tự, thủ tục phê duyệt đề xuất đổi mới, sáng tạo

Theo Dự thảo, sau khi xác định chủ thể có thẩm quyền xét duyệt là người đứng đầu cơ quan, tổ chức hoặc người đứng đầu của cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp, cán bộ có đề xuất sáng tạo, đổi mới gửi đề xuất và trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề xuất, người đứng đầu “chủ trì họp tập thể lãnh đạo để xem xét, thảo luận, biểu quyết về việc thực hiện đề xuất. Đề xuất được thông qua khi đạt tỷ lệ trên 50% ý kiến biểu quyết tán thành…”. Nội dung quy định này có một số vấn đề cần làm rõ:

Một là, Dự thảo xác định thẩm quyền và trình tự xét duyệt các đề xuất sáng tạo, đổi mới được thực hiện theo quy trình nghiêm ngặt là thông qua một thẩm quyền cả tập thể lãnh đạo, cấp ủy cùng cấp, người đứng đầu hoặc thậm chí là cả một hội đồng ngay tại chính cơ quan, đơn vị của họ. Tuy nhiên, trên thực tế, những vấn đề bất cập, vướng mắc trong thực thi nhiệm vụ của cán bộ, công chức và viên chức có thể phát sinh một cách thường xuyên, liên tục và cụ thể. Đơn cử như một điều, khoản trong quy định, một nội dung trong biểu mẫu, một yêu cầu trong hồ sơ không còn phù hợp hay chồng chéo… Nếu phải được chấp thuận bằng một quy trình hành chính phức tạp với nội dung văn bản đề xuất, thông qua cấp ủy, lãnh đạo đơn vị thì bản thân cán bộ phải xác định vấn đề đó phải lớn, quan trọng và cũng rất quyết tâm với sự đổi mới, đề xuất mới đó.

Có thể thấy, thẩm quyền, trình tự và thủ tục được xác định trong Dự thảo chỉ phù hợp với những vấn đề mang tính chất trọng đại, có tính chiến lược và kế hoạch dài hạn. Quy trình đó sẽ không phù hợp với những đề xuất, kiến nghị mang tính chất quy trình hành chính, văn bản, biểu mẫu hay quy chế, quy định trong hoạt động thường xuyên của cơ quan, tổ chức. Thậm chí, trong nhiều trường hợp, quy trình phê duyệt đề xuất đổi mới, sáng tạo còn phức tạp hơn cả nội dung được đề xuất. Vì vậy, theo nhóm tác giả, Dự thảo nên có sự phân loại rõ ràng giữa nội dung đề xuất sáng tạo, đổi mới mang tính chất hành chính trong nội bộ của cơ quan, tổ chức và nội dung mang tính chất chiến lược, quyết định định hướng phát triển của cơ quan, tổ chức, hoặc ảnh hưởng lớn đến các chủ thể có liên quan để xác định quy trình, trình tự, thủ tục, thẩm quyền phê duyệt cho phù hợp, khả thi, bảo đảm sự linh hoạt cũng như tương xứng với nội dung của từng loại đề xuất.

Hai là, việc “hợp pháp hóa” các cơ chế mới hay “vượt rào” bằng sự phê duyệt thông qua một thủ tục hành chính tại chính cơ quan, đơn vị sẽ tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các lợi ích nhóm, tham nhũng cơ chế, chính sách. Mặc dù, Dự thảo đã xác định rõ, cán bộ phải “vì lợi ích chung là lợi ích của quốc gia, dân tộc, của ngành, lĩnh vực, địa phương, cơ quan, đơn vị mà không vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, không có động cơ vụ lợi”, tuy nhiên, việc xác định lợi ích nhóm và minh định với lợi ích của cơ quan, đơn vị, địa phương là không hề đơn giản nếu như thiếu các tiêu chí cụ thể. Đơn cử như, khi cơ quan, địa phương đạt thành tích tốt thì bản thân người đứng đầu cũng sẽ được đánh giá cao để khen thưởng, đề bạt các vị trí cao hơn.

Để khắc phục tình trạng này, nhóm tác giả cho rằng, quy trình đánh giá, phê duyệt đổi mới này cần phải được công khai, minh bạch, có sự tham gia của toàn xã hội, đặc biệt là các chuyên gia, nhà nghiên cứu để sàng lọc những người “núp bóng”, phục vụ lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm.

Ba là, những đề xuất, kiến nghị phải dựa trên thực tiễn chưa có quy định hoặc quy định chồng chéo, mâu thuẫn, không phù hợp với thực tiễn và hơn ai hết, cán bộ, đảng viên phải chấp hành quy định của Đảng cũng như thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, hoạt động công vụ còn phải bảo đảm sự kiểm soát của các cơ quan có thẩm quyền như giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán cũng như Ủy ban kiểm tra đối với đảng viên. Việc phê duyệt sự năng động, sáng tạo theo một thủ tục hành chính ngay tại chính cơ quan, đơn vị của họ liệu rằng đã đủ cơ sở pháp lý để giải trình, thuyết phục với các cơ quan có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước khi thực hiện thanh tra, kiểm tra hay chưa? Bởi lẽ, hành vi trái pháp luật được xác định rất định lượng, tức là, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành để xác định. Tuy nhiên, đối với kết quả thực hiện thí điểm đề xuất có hiệu quả hay không, có mang lại lợi ích quốc gia hay không thì việc đánh giá nhiều lúc lại rất định tính, hoặc khó đánh giá một cách toàn diện trong quá trình thực hiện. Đơn cử như, một đề xuất có thể thất thu một khoản tiền cho ngân sách nhưng mang lại hiệu quả kinh tế lớn cho xã hội, niềm tin cho người dân có được xem xét là đạt kết quả thì vẫn cần phải được nghiên cứu, thảo luận chi tiết. Thậm chí, kết quả thực hiện đề xuất không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại thì phải xác định rõ nguyên nhân, các yếu tố tác động, sự thay đổi của chính sách. Đặc biệt, cần đánh giá đúng chủ trương, động cơ trong sáng, có vì lợi ích chung để làm cơ sở xem xét, xử lý phù hợp, bảo vệ được cán bộ trước các trách nhiệm pháp lý mới là mục đích cuối cùng của cơ chế này.

Ngoài ra, xét giá trị pháp lý của Dự thảo về cơ chế này thì không thể nào điều chỉnh được quy định của pháp luật chuyên ngành có liên quan hoặc văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn như các bộ luật, luật... Vì vậy, quy định tại Dự thảo cần được nghiên cứu thêm để đồng bộ giữa quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước có liên quan. Đồng thời, để bảo đảm sự thống nhất về giá trị pháp lý, nâng tầm giá trị nội dung văn bản, nhóm tác giả kiến nghị ban hành nghị quyết của Quốc hội để điều chỉnh cơ chế này thay vì là nghị định của Chính phủ.

2.3. Xác định ranh giới đề xuất sáng tạo, đột phá và bảo đảm pháp chế trong hoạt động công vụ của cán bộ

Một trong những nguyên tắc của hoạt động công vụ đặt ra đối với cán bộ, công chức là: “Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật”[4], còn trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức là: “Tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật trong quá trình thực hiện hoạt động nghề nghiệp”[5]. Theo Điều 5 của Dự thảo, điều kiện thỏa mãn để khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo khi nội dung đề xuất đáp ứng đủ các tiêu chí: “1. Có khả năng tháo gỡ điểm nghẽn, nút thắt trong cơ chế, chính sách, giải quyết hiệu quả vấn đề chưa được pháp luật quy định hoặc đã được pháp luật quy định nhưng chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu tính thống nhất, đồng bộ, không còn phù hợp với thực tiễn. 2. Đem lại giá trị, hiệu quả thiết thực, tạo sự bứt phá, chuyển biến, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị. 3. Xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn; không ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của địa phương, cơ quan, đơn vị khác”. Theo đó, cả 03 tiêu chí trên đều quy định rõ ràng, làm cơ sở đánh giá nội dung được đề xuất nhưng lại được xác định ở các giai đoạn khác nhau. Có tiêu chí xác định được trước khi nội dung đề xuất được thông qua và thực hiện như: “…chưa được pháp luật quy định hoặc đã được pháp luật quy định nhưng chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu tính thống nhất, đồng bộ, không còn phù hợp với thực tiễn”. Tuy nhiên, lại có tiêu chí chỉ có thể đánh giá sau khi đề xuất đó được thực thi trên thực tế: “Đem lại giá trị, hiệu quả thiết thực, tạo sự bứt phá, chuyển biến, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị; không ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của địa phương, cơ quan, đơn vị khác”.

Như vậy, có những chính sách, đề xuất phải áp dụng trên thực tế thì mới có cơ sở đánh giá, kết luận được giá trị, hiệu quả, tạo sự bứt phá, chuyển biến và không ảnh hưởng đến các vấn đề có liên quan. Có những trường hợp nếu đánh giá một cách định tính thì đề xuất có hiệu quả, tuy nhiên tính hiệu quả, khả thi và giá trị của nó lại là một vấn đề khác khi áp dụng vào thực tiễn. Nói cách khác, chính người đề xuất và Hội đồng xét duyệt cũng không lường trước được hết nguyên nhân và khả năng có thể xảy ra trên thực tế đối với đề xuất đó. Vì vậy, nhóm tác giả cho rằng, không xem xét, truy cứu trách nhiệm đối với những đổi mới, sáng tạo bảo đảm nguyên tắc không trái Hiến pháp, điều lệ Đảng và đã được thông qua công khai, minh bạch theo đúng trình tự, thủ tục quy định, đồng thời, được đánh giá có hiệu quả nhất định đối với giải quyết vấn đề, cơ chế, chính sách.

Tóm lại, việc ban hành Nghị định là hết sức cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh việc nghiên cứu cơ chế thiết thực, hiệu quả để khuyến khích cán bộ thì phân định giữa lợi ích chung với lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm cũng là điều kiện tiên quyết để triển khai cơ chế. Về lâu dài, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần tăng cường tiếp thu ý kiến từ các chủ thể có liên quan cũng như dư luận xã hội để nhanh chóng sửa đổi, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, tránh tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn thiếu tính thống nhất, đồng bộ trong cơ chế chính sách và không phù hợp với thực tiễn như hiện nay.

Lâm Bá Khánh Toàn

Huỳnh Thị Cẩm Hồng

Trường Đại học Cần Thơ

[1]. Khoản 4 Điều 3 Dự thảo Nghị định quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung (lần 3).

[2]. Khoản 3 Điều 4 Dự thảo Nghị định quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung (lần 3).

[3]. Điều 9 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

[4]. Khoản 1 Điều 3 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

[5]. Khoản 1 Điều 5 Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 388), tháng 9/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và tạo đột phá chiến lược được đặt ra với tính cấp thiết và chiều sâu chưa từng có. Đột phá thể chế không chỉ là yêu cầu cải cách quản lý, mà là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với năng lực phát triển, sức cạnh tranh và bản lĩnh tự chủ của nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn mới. Trên cơ sở tiếp cận thể chế như hạ tầng mềm của phát triển, bài viết phân tích vai trò trung tâm của đột phá thể chế - đặc biệt là thể chế bảo đảm thực hiện pháp luật hiệu quả, nghiêm minh và nhất quán - đối với việc hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030. Thông qua làm rõ những điểm mới về thể chế trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết khẳng định: chỉ khi nâng cao thực chất hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật, thể chế mới thực sự trở thành nền móng cải cách và động lực nội sinh cho phát triển nhanh, bền vững.
Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an đã xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng Luật An ninh mạng theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo Luật gồm 09 chương với 58 điều, đang được thảo luận tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV; đã có 70 lượt đại biểu phát biểu ý kiến tại tổ (ngày 31/10/2025), 15 lượt đại biểu phát biểu tại hội trường (ngày 06/11/2025) và 05 Đoàn đại biểu Quốc hội gửi ý kiến bằng văn bản.
Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, phát triển kinh tế số, chuyển đổi số quốc gia, khắc phục sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) và Luật An ninh mạng năm 2018, dự án Luật An ninh mạng đã được xây dựng trên cơ sở hợp nhất 02 luật nêu trên và đang được Quốc hội khóa XV xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 10.
Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; đồng thời, bổ sung một số nội dung mới để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là một trong những hình thức hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, đồng thời, mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.
Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó.
Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Việc xây dựng Luật Tương trợ tư pháp về dân sự là yêu cầu cấp thiết khách quan, nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay trong hoạt động TTTP nói chung và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 nói riêng, đáp ứng yêu cầu của công tác này trong tình hình mới.
Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Hiện, Bộ Tư pháp đang dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự (dự thảo Luật). Trong chế định tương trợ tư pháp về dân sự, thuật ngữ “ủy thác tư pháp” được sử dụng tương đối phổ biến. Nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng thuật ngữ “ủy thác tư pháp” để thiết lập các quy phạm điều chỉnh lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự là không phù hợp và dự thảo Luật không sử dụng thuật ngữ này là hợp lý.
Yêu cầu và định hướng hoàn thiện pháp luật tương trợ tư pháp về dân sự trong giai đoạn mới

Yêu cầu và định hướng hoàn thiện pháp luật tương trợ tư pháp về dân sự trong giai đoạn mới

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng trên mọi mặt của đời sống xã hội, hoạt động TTTP về dân sự đòi hỏi có những bước phát triển mới phù hợp với bối cảnh, điều kiện và tình hình mới trong nước và quốc tế.
Điểm mới tại dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự kỳ vọng giải quyết nhiều vướng mắc, bất cập hiện nay

Điểm mới tại dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự kỳ vọng giải quyết nhiều vướng mắc, bất cập hiện nay

Sáng ngày 27/10/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội thảo luận ở hội trường về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của 04 dự thảo: Luật Dẫn độ; Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Luật Tương trợ tư pháp về hình sự; Luật Tương trợ tư pháp về dân sự. Trong đó có nhiều điểm mới quan trọng góp phần giải quyết những vướng mắc, bất cập trong hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự.
Xây dựng và hoàn thiện pháp luật gắn với nâng cao năng lực, hiệu quả thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Xây dựng và hoàn thiện pháp luật gắn với nâng cao năng lực, hiệu quả thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, hệ thống pháp luật Việt Nam cần phải đáp ứng các yêu cầu cốt lõi, mang tính chiến lược nhằm phát huy tối đa vai trò của pháp luật trong sự phát triển của đất nước.
Hoàn thiện pháp luật về hình sự, hành chính, tổ chức bộ máy đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Hoàn thiện pháp luật về hình sự, hành chính, tổ chức bộ máy đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Sự phát triển mạnh mẽ của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang đặt ra những yêu cầu mới, mang tính nền tảng và chiến lược đối với công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Để tạo động lực cho sự phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước, làm tiền đề vững chắc để đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình phát triển bứt phá, giàu mạnh, hùng cường dưới sự lãnh đạo của Đảng thì hoàn thiện pháp luật nói chung, trong đó có pháp luật hình sự, hành chính và tổ chức bộ máy nói riêng là yêu cầu tất yếu.
Phát huy truyền thống - Bộ, ngành Tư pháp tiếp tục đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy truyền thống - Bộ, ngành Tư pháp tiếp tục đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Từ những ngày đầu kiến tạo nền Tư pháp dân chủ Nhân dân cho đến nay, chức năng, nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp có những thay đổi và bước phát triển thăng trầm khác nhau nhưng về cơ bản, với hệ thống tổ chức đồng bộ từ trung ương đến địa phương, vị thế, vai trò của Bộ, ngành Tư pháp ngày càng được khẳng định, xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, đóng vai trò nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, phát triển nền Tư pháp Nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, góp phần tích cực trong công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, bảo vệ biên giới, phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước.
Sửa đổi Luật Viên chức hướng tới xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, phục vụ Nhân dân

Sửa đổi Luật Viên chức hướng tới xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, phục vụ Nhân dân

Dự thảo Luật Viên chức (sửa đổi) được Bộ Nội vụ xây dựng có nhiều điểm mới quan trọng hướng tới mô hình quản trị chuyên nghiệp, hiện đại trong đơn vị sự nghiệp; xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, có trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp, năng động, phục vụ tốt cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của người dân, doanh nghiệp.
Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu bài viết "Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới" trong ấn phẩm 200 trang "Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong giai đoạn mới" xuất bản tháng 7/2025.

Theo dõi chúng tôi trên: