Thứ tư 18/03/2026 16:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoạt động cho vay ngang hàng tại Việt Nam và một số vấn đề đặt ra

Cho vay ngang hàng (P2P lending) là mô hình kinh doanh mới, một loại hình dịch vụ sáng tạo, được thiết kế và xây dựng trên nền tảng ứng dụng công nghệ số để kết nối trực tiếp người đi vay với người cho vay (nhà đầu tư) mà không thông qua trung gian tài chính truyền thống như ngân hàng thương mại

Cho vay ngang hàng (P2P lending) là mô hình kinh doanh mới, một loại hình dịch vụ sáng tạo, được thiết kế và xây dựng trên nền tảng ứng dụng công nghệ số để kết nối trực tiếp người đi vay với người cho vay (nhà đầu tư) mà không thông qua trung gian tài chính truyền thống như ngân hàng thương mại, công ty tài chính, quỹ tín dụng... Với mô hình này, khách hàng không phải đến ngân hàng giao dịch mà giao dịch trực tuyến, thủ tục vay đơn giản, xét duyệt cho vay dễ dàng, thời gian xét duyệt cho vay nhanh, trái ngược với quy trình xét duyệt tín dụng khắt khe, tốn nhiều thời gian, chi phí tại ngân hàng truyền thống. Đồng thời, giao dịch qua công ty P2P lending có sự linh hoạt hơn, cho phép các bên tự thỏa thuận những điều kiện vay có lợi hơn cho mình. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích đem lại cho người cho vay và người đi vay, hoạt động của các công ty P2P lending này cũng nảy sinh nhiều nguy cơ, vấn đề phức tạp.

Bài viết đánh giá tổng quan về cho vay ngang hàng ở Việt Nam, phân tích những lợi ích và rủi ro, từ đó đưa ra một số đề xuất để quản lý loại hình này trong thời gian tới.

Xuất hiện lần đầu tiên tại Anh vào năm 2005, mô hình công ty cho vay ngang hàng (P2P lending) bắt đầu phát triển bao gồm các công ty như Zopa, Funding Circle. Đến năm 2006 và 2007, mô hình này phát triển mạnh tại Mỹ, nổi lên là các công ty như Lending Club, Prosper, SoFi, OnDeck, Avant. Từ năm 2007, Trung Quốc là quốc gia châu Á đầu tiên phát triển mô hình này, sau đó trở thành quốc gia phát triển mô hình P2P lending mạnh trên thế giới (bao gồm các công ty như Lufax, JimuBox, Dianrong, PPdai, Renrendai). Hiện nay, Lending Club, Prosper, SoFi (ở San Francisco), Zopa và RateSetter (ở London) là 05 công ty P2P lending lớn nhất thế giới[1].

Về bản chất, cho vay ngang hàng hay còn gọi là vay trực tuyến, là mô hình kinh doanh sử dụng nền tảng công nghệ số để kết nối người cho vay (nhà đầu tư) với người đi vay (cá nhân hay doanh nghiệp muốn vay), không thông qua trung gian tài chính truyền thống (như ngân hàng thương mại, công ty tài chính hay quỹ tín dụng…). Theo mô hình này, các công ty P2P lending không trực tiếp cho vay tiền mà chỉ tập trung phát triển phần mềm, hệ thống để kết nối giữa người cho vay và người đi vay. Toàn bộ hoạt động vay, trả nợ (gốc, lãi) giữa người đi vay và người cho vay được nền tảng giao dịch trực tuyến ghi nhận và lưu trữ bằng các bảng điện tử, số hóa. Những công ty P2P lending này sử dụng công nghệ big data để thu thập tất cả dữ liệu của cả hai phía người cho vay và người đi vay, nhiệm vụ chính bao gồm: Cung cấp nền tảng công nghệ kết nối bên cho vay và bên vay; tiếp nhận đề nghị vay vốn; thẩm định đặc điểm, năng lực, chấm điểm bên vay, quyết định cho vay và đưa ra mức lãi suất cho vay tương ứng với mức độ rủi ro (thể hiện qua số điểm) của bên vay; phân bổ nguồn vốn huy động được từ các nhà đầu tư để cho vay; thu hồi nợ và trả cho nhà đầu tư; kiểm tra hành vi rửa tiền; tuân thủ pháp luật và chế độ báo cáo; quản lý rủi ro bao gồm cả việc lập quỹ phòng ngừa rủi ro… Qua đó, công ty P2P lending sẽ được hưởng phí dịch vụ từ cả nhà đầu tư và bên vay.

Tại Việt Nam, từ năm 2017, mô hình P2P lending bắt đầu phổ biến, tuy nhiên, hiện nay chưa có công ty P2P lending nào được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp phép hoạt động, nên các công ty hoạt động trong lĩnh vực này thường đăng ký dưới hình thức công ty tư vấn đầu tư hoặc môi giới tài chính nhưng hoạt động theo mô hình P2P lending. Tính đến tháng 12/2019, Việt Nam đã có khoảng trên 40 công ty đang hoạt động theo mô hình P2P lending, tập trung ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh[2]. Phần lớn các công ty P2P lending ở Việt Nam đang tự áp lãi suất trên tiêu chí tự xây dựng; mức lãi suất này sẽ thay đổi dựa trên điểm tín nhiệm (do hệ thống chấm) đối với người cho vay, thời hạn vay và các tiêu chí khác của người đi vay. Các công ty này thường đưa ra mức lãi suất huy động vốn cao hơn ngân hàng và cho vay rẻ hơn công ty tài chính với lãi suất huy động vốn từ 10 - 20%/năm (cao gấp 02 lần, gấp 03 tiền lãi huy động tại ngân hàng, trong khi mức lãi suất tiền gửi tại ngân hàng hiện nay cao nhất là khoảng 8,4%/năm); lãi suất cho vay bằng lãi suất huy động trên cộng thêm chênh lệch 1 - 5%/năm, phổ biến là 15 - 25%/năm. Về hình thức vay bao gồm thế chấp, tín chấp hoặc mua trả góp như: Vay tín chấp theo lương; vay trả góp theo ngày; vay theo sổ hộ khẩu, hóa đơn điện nước, đăng ký xe máy, ôtô; vay cầm cố tài sản, vay cầm cố ô tô đang thế chấp ngân hàng; vay mua ô tô, nhà trả góp...

Với sự xuất hiện của mô hình P2P lending thì người đi vay sẽ chịu lãi suất thấp hơn và người cho vay sẽ nhận được lãi suất tiết kiệm cao hơn so với lãi suất của các ngân hàng. Bên cạnh đó, P2P lending giúp khách hàng không phải đến ngân hàng giao dịch mà giao dịch qua trực tuyến, thủ tục vay đơn giản, xét duyệt cho vay dễ dàng, thời gian xét duyệt cho vay nhanh, trái ngược với quy trình xét duyệt tín dụng khắt khe, tốn nhiều thời gian, chi phí tại ngân hàng truyền thống. Đồng thời, giao dịch qua công ty P2P lending có sự linh hoạt hơn, cho phép các bên tự thỏa thuận những điều kiện vay có lợi hơn cho mình.

Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích đem lại cho người cho vay và người đi vay, hoạt động của các công ty P2P lending này cũng nảy sinh nhiều nguy cơ, vấn đề phức tạp, nổi lên:

Một là, ở Việt Nam hiện nay chưa có hành lang pháp lý đối với công ty P2P lending, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng chưa cấp phép cho doanh nghiệp P2P lending nào nhưng đã có hàng loạt các công ty và website hoạt động theo mô hình này với đăng ký là công ty tư vấn đầu tư. Điều này gây khó khăn trong công tác quản lý và ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh tài chính ngân hàng nước ta. Bên cạnh đó, do các công ty P2P lending chỉ là môi giới, kết nối giữa người đi vay và người cho vay, nên khi tranh chấp, rủi ro xảy ra, trách nhiệm do hai bên tự giải quyết; lúc này, các cơ quan chức năng cũng không có cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp của hai bên.

Hai là, hoạt động “tín dụng đen” được hợp pháp hóa bằng cách các công ty cầm đồ, công ty tài chính đăng ký liên kết với các công ty P2P lending để cho vay. Trong trường hợp này, các công ty P2P lending đóng vai trò tìm kiếm khách hàng vay vốn và chuyển thông tin cho các công ty cầm đồ, công ty tài chính. Theo đó, công ty P2P lending không đóng vai trò trung gian kết nối giữa bên đi vay và bên cho vay như mô hình P2P lending truyền thống đang triển khai ở nhiều nước mà có dấu hiệu trở thành kênh phân phối, bán hàng cho các công ty cầm đồ, công ty tài chính. Công ty cầm đồ là bên cho vay nhưng lại là đầu mối thu gốc, lãi và phí từ khách hàng vay, sau đó thanh toán phí cho các công ty P2P lending. Theo những hợp đồng này, ngoài lãi theo thỏa thuận phải trả với người cho vay thì người đi vay còn phải chịu hàng loạt các chi phí khác như: Phí thẩm định tài sản, phí lưu giữ tài sản, phí tư vấn... Chính vì khoản phí cao hơn nhiều lần lãi suất, dẫn đến lãi suất thực tế khoản tiền người đi vay phải trả có thể lên tới 30 - 50%/tháng. Với “tín dụng đen”, nếu người vay không có khả năng trả nợ, thì có thể bị người cho vay thu hồi nợ theo cách không chính thống, bị ép buộc, đe dọa, hành hung, bắt cóc, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm, thậm chí đe dọa người thân của những người đi vay nhằm tạo sức ép buộc phải bán nhà, bán tài sản để trả nợ.

Ba là, nguy cơ các công ty nước ngoài lợi dụng mô hình P2P lending để cho vay tín dụng không phép. Nhiều công ty P2P lending 100% vốn nước ngoài, đăng ký dịch vụ tư vấn tài chính trong giấy phép đăng ký kinh doanh và có hệ thống máy chủ và hệ thống máy dự phòng đặt ở nước ngoài, dẫn đến khó có khả năng kiểm soát dữ liệu, có thể phát sinh rủi ro rất lớn nếu có phát sinh các vụ án hình sự hay các nhân sự chủ chốt của các công ty P2P lending này bỏ trốn ra nước ngoài hoặc không phối hợp với cơ quan chức năng thì việc truy cập thông tin để bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng trong nước là rất khó.

Bốn là, mô hình P2P lending tạo cơ hội cho tội phạm công nghệ cao gia tăng khi mà công nghệ số ngày càng phát triển. Các công ty P2P lending phần lớn là các doanh nghiệp khởi nghiệp, do đó, năng lực công nghệ, hạ tầng kỹ thuật có thể chưa đảm bảo an ninh, an toàn hệ thống; toàn bộ dữ liệu về người tham gia hình thức này đều được quản lý, lưu trữ trên hệ thống máy chủ và hoạt động trên môi trường internet. Vì thế, các hackers có thể lợi dụng lỗ hổng bảo mật để xâm nhập, đánh cắp thông tin cá nhân của các bên tham gia; hệ thống máy chủ của công ty P2P lending có thể bị chiếm quyền kiểm soát hoặc bị đánh sập, sửa, xóa dữ liệu có chủ đích dẫn đến toàn bộ thông tin giao dịch của các bên bị mất, thay đổi thông tin giao dịch gây ảnh hưởng trực tiếp tới tài sản của các nhà đầu tư và các bên tham gia giao dịch trong hệ thống. Bên cạnh đó, nếu công ty P2P lending bất ngờ rút khỏi thị trường Việt Nam thì toàn bộ thông tin giữa bên cho vay và bên vay có thể hoàn toàn không có khả năng tra soát và truy cập do công ty đối tác chiếm toàn bộ quyền kiểm soát cả nền tảng công nghệ lẫn máy chủ lưu trữ dữ liệu.

Năm là, tiềm ẩn nhiều rủi ro cho các nhà đầu tư. Cụ thể, các nhà đầu tư không được hưởng các quyền lợi liên quan đến việc bảo vệ người gửi tiền như ở hệ thống ngân hàng; nhưng vẫn phải chịu các rủi ro về tín dụng, thanh khoản, pháp lý… Đối với ngân hàng, thông tin từ Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam (CIC) rất quan trọng, qua đó mà các ngân hàng có cơ sở dữ liệu đánh giá tín dụng của khách hàng và quyết định phần lớn vào việc có cho vay không. Tuy nhiên, theo mô hình P2P lending, các nhà đầu tư phải tự thẩm định thông tin khách hàng nên có thể không chính xác. Thủ tục xác thực thông tin khách hàng được thực hiện chủ yếu dựa vào việc chụp ảnh và nhận diện chứng minh thư đối chiếu với khuôn mặt khi khách hàng đăng ký. Bên cạnh đó, việc xác minh mục đích vay vốn hoàn toàn dựa vào khai báo của khách hàng và không có biện pháp hậu kiểm để xác minh việc sử dụng vốn có đúng mục đích khai báo hay không. Vì vậy, nếu người cho vay không có kinh nghiệm thẩm định hồ sơ người vay, đặc biệt trong trường hợp thông tin khách hàng cung cấp sai lệch hoặc khách hàng sử dụng thông tin cá nhân để vay vốn tại nhiều công ty khác nhau... thì có thể dẫn đến đánh giá sai về khách hàng vay, dẫn đến rủi ro cao. Ngoài ra, trong một số trường hợp, công ty P2P lending huy động vốn nhưng không cho khách hàng vay và sử dụng vốn đó vào mục đích khác, dẫn đến khoản vay bị nợ xấu hoặc không thu hồi được.

Sáu là, tiềm ẩn nguy cơ các đối tượng lợi dụng mô hình P2P lending này để thực hiện các hoạt động rửa tiền, tài trợ khủng bố, trốn thuế, đa cấp... Trước hết, đối tượng tham gia sàn giao dịch bao gồm cả người cư trú và người không cư trú, đối tượng ẩn danh hoặc mạo danh vì thế rất khó để kiểm soát cũng như xác thực thông tin mà các đối tượng cung cấp. Cùng với đó, về nguồn gốc số tiền cho vay, các công ty P2P lending không kiểm soát được nguồn tiền đầu tư cho vay, nên tiền đầu tư của các tổ chức, cá nhân có thể trở thành kênh để các đối tượng phạm tội thực hiện hành vi rửa tiền, trốn thuế hoặc huy động vốn theo mô hình đa cấp nhằm lừa đảo, chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư…

Trong xu thế phát triển cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, mô hình P2P lending với những lợi ích vượt trội so với ngân hàng truyền thống, được coi là xu hướng phát triển tất yếu, “không thể cấm” và được dự báo sẽ bùng nổ mạnh mẽ tại Việt Nam trong thời gian tới. Tuy nhiên, thực tế trong nước và tình hình hoạt động tài chính P2P lending trên thế giới cho thấy bên cạnh những lợi ích mô hình này đem lại còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro, cơ hội cho các đối tượng lợi dụng hoạt động phạm tội. Để nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lý các công ty P2P lending cũng như phòng ngừa rủi ro nói chung, phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến mô hình này trong thời gian tới, cần tập trung một số nội dung cơ bản sau:

- Ngân hàng Nhà nước cần phối hợp với các bộ, ngành liên quan nhanh chóng nghiên cứu, khảo sát để xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý quản lý hoạt động của các công ty P2P lending. Có thể cho phép một số doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng được các tiêu chí của Ngân hàng Nhà nước về mô hình P2P lending được thí điểm hoạt động. Qua đó nhằm tổng kết, đánh giá các mặt ưu, nhược điểm của hoạt động này để hoàn thiện khung pháp lý cho phù hợp với tình hình thực tiễn tại Việt Nam. Về khung pháp lý, cần quy định cụ thể một số nội dung sau:

(i) Đối với các công ty P2P lending, cần quy định rõ các điều kiện đảm bảo an toàn hoạt động đối với công ty P2P lending cùng với quy định về kiểm tra, giám sát hoạt động của các công ty này, cụ thể: Quy định về vốn điều lệ nhất định, giới hạn vốn huy động, điều kiện cơ cấu sở hữu vốn; minh bạch thông tin; tiêu chuẩn đội ngũ cán bộ chủ chốt; hệ thống công nghệ thông tin, máy chủ đặt tại Việt Nam; báo cáo dữ liệu cho Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam, tra cứu thông tin phục vụ chấm điểm khách hàng; lập quỹ phòng ngừa rủi ro, mở tài khoản ủy thác tại bên thứ ba (có thể là tại các định chế tài chính) để quản lý tiền vốn của nhà đầu tư…

(ii) Đối với tổ chức, cá nhân là người cho vay và đi vay: Cần quy định rõ số tiền một tổ chức, cá nhân được cho vay và được vay; trách nhiệm của người cho vay và người vay; quy định về quyền tiếp cận thông tin…

(iii) Ban hành chế tài xử phạt cụ thể đối với các công ty P2P lending, tổ chức, cá nhân cho vay và đi vay cố tình vi phạm, không tuân thủ quy định.

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của các công ty P2P lending. Trước hết, Ngân hàng Nhà nước cần phối hợp với Bộ Công an, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các đơn vị có liên quan thực hiện rà soát, thanh tra, kiểm tra hoạt động P2P lending của các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài đang hoạt động kinh doanh theo mô hình P2P lending tại Việt Nam để kịp thời phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh và xử lý nghiêm đối với các hoạt động vi phạm pháp luật. Đồng thời, tăng cường các biện pháp hành chính trong xử phạt hành vi vi phạm nếu chưa đến mức phải truy tố trách nhiệm hình sự. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cần phối hợp đơn vị liên quan nghiên cứu, đưa ra các cơ sở pháp lý, giải pháp để quản lý thuế đối với hoạt động của các công ty P2P lending. Ngoài ra, tăng cường sự hợp tác quốc tế, tiếp thu những kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới như Anh, Liên bang Nga, Mỹ, Trung Quốc… trong việc hoàn thiện khung pháp lý và quản lý hoạt động của các công ty theo mô hình này.

- Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao hiểu biết của người dân về các quy định của Nhà nước về hoạt động P2P lending và những rủi ro, nguy cơ tiềm ẩn từ mô hình này. Trong đó, cần tập trung tuyên truyền, phổ biến về các phương thức, thủ đoạn hoạt động của các đối tượng lợi dụng mô hình này để phạm tội nhằm nâng cao cảnh giác của người dân trước thủ đoạn lừa đảo, cho vay nặng lãi, rửa tiền, đa cấp... Bên cạnh đó, khuyến khích người dân tích cực tố cáo, tố giác tội phạm khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật, hoạt động “tín dụng đen”; hợp tác chặt chẽ với cơ quan chức năng trong việc thu thập, cung cấp, trao đổi thông tin, tài liệu làm chứng cứ phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm liên quan đến mô hình P2P lending.

- Các cơ quan, đơn vị trong Ngành Công an theo chức năng nhiệm vụ của mình cần tăng cường công tác nắm tình hình hoạt động P2P lending, chủ động phát hiện được những phương thức, thủ đoạn hoạt động phạm tội trong lĩnh vực này, những biến tướng của các công ty lợi dụng mô hình P2P lending để hoạt động như ngân hàng, cho vay nặng lãi, thu hồi nợ không đúng quy định, chuyển tiền trái phép từ nước ngoài về Việt Nam… Thông qua đó, có những hình thức xử lý kịp thời, đồng thời tham mưu cho Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng trong việc quản lý đối với mô hình hoạt động này. Tăng cường sự phối hợp với tất cả các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Ngành Công an để nắm tình hình phát hiện vấn đề; đặc biệt phát huy vai trò, chức năng của lực lượng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao để tổ chức xác minh, đấu tranh với những hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động P2P lending.

Nguyễn Quang Tùng

Học viện An ninh nhân dân





[1]. http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/loi-ich-cua-mo-hinh-kinh-te-chia-se-va-nhung-thach-thuc-cho-nha-quan-ly-302048.html.

[2]. Lại Văn Công (2019), Một số yếu tố rủi ro của hình thức tín dụng “cho vay ngang hàng” và giải pháp phòng ngừa, Tạp chí Cảnh sát nhân dân.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: