Thứ năm 08/10/2026 14:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoạt động cho vay ngang hàng tại Việt Nam và một số vấn đề đặt ra

Cho vay ngang hàng (P2P lending) là mô hình kinh doanh mới, một loại hình dịch vụ sáng tạo, được thiết kế và xây dựng trên nền tảng ứng dụng công nghệ số để kết nối trực tiếp người đi vay với người cho vay (nhà đầu tư) mà không thông qua trung gian tài chính truyền thống như ngân hàng thương mại

Cho vay ngang hàng (P2P lending) là mô hình kinh doanh mới, một loại hình dịch vụ sáng tạo, được thiết kế và xây dựng trên nền tảng ứng dụng công nghệ số để kết nối trực tiếp người đi vay với người cho vay (nhà đầu tư) mà không thông qua trung gian tài chính truyền thống như ngân hàng thương mại, công ty tài chính, quỹ tín dụng... Với mô hình này, khách hàng không phải đến ngân hàng giao dịch mà giao dịch trực tuyến, thủ tục vay đơn giản, xét duyệt cho vay dễ dàng, thời gian xét duyệt cho vay nhanh, trái ngược với quy trình xét duyệt tín dụng khắt khe, tốn nhiều thời gian, chi phí tại ngân hàng truyền thống. Đồng thời, giao dịch qua công ty P2P lending có sự linh hoạt hơn, cho phép các bên tự thỏa thuận những điều kiện vay có lợi hơn cho mình. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích đem lại cho người cho vay và người đi vay, hoạt động của các công ty P2P lending này cũng nảy sinh nhiều nguy cơ, vấn đề phức tạp.

Bài viết đánh giá tổng quan về cho vay ngang hàng ở Việt Nam, phân tích những lợi ích và rủi ro, từ đó đưa ra một số đề xuất để quản lý loại hình này trong thời gian tới.

Xuất hiện lần đầu tiên tại Anh vào năm 2005, mô hình công ty cho vay ngang hàng (P2P lending) bắt đầu phát triển bao gồm các công ty như Zopa, Funding Circle. Đến năm 2006 và 2007, mô hình này phát triển mạnh tại Mỹ, nổi lên là các công ty như Lending Club, Prosper, SoFi, OnDeck, Avant. Từ năm 2007, Trung Quốc là quốc gia châu Á đầu tiên phát triển mô hình này, sau đó trở thành quốc gia phát triển mô hình P2P lending mạnh trên thế giới (bao gồm các công ty như Lufax, JimuBox, Dianrong, PPdai, Renrendai). Hiện nay, Lending Club, Prosper, SoFi (ở San Francisco), Zopa và RateSetter (ở London) là 05 công ty P2P lending lớn nhất thế giới[1].

Về bản chất, cho vay ngang hàng hay còn gọi là vay trực tuyến, là mô hình kinh doanh sử dụng nền tảng công nghệ số để kết nối người cho vay (nhà đầu tư) với người đi vay (cá nhân hay doanh nghiệp muốn vay), không thông qua trung gian tài chính truyền thống (như ngân hàng thương mại, công ty tài chính hay quỹ tín dụng…). Theo mô hình này, các công ty P2P lending không trực tiếp cho vay tiền mà chỉ tập trung phát triển phần mềm, hệ thống để kết nối giữa người cho vay và người đi vay. Toàn bộ hoạt động vay, trả nợ (gốc, lãi) giữa người đi vay và người cho vay được nền tảng giao dịch trực tuyến ghi nhận và lưu trữ bằng các bảng điện tử, số hóa. Những công ty P2P lending này sử dụng công nghệ big data để thu thập tất cả dữ liệu của cả hai phía người cho vay và người đi vay, nhiệm vụ chính bao gồm: Cung cấp nền tảng công nghệ kết nối bên cho vay và bên vay; tiếp nhận đề nghị vay vốn; thẩm định đặc điểm, năng lực, chấm điểm bên vay, quyết định cho vay và đưa ra mức lãi suất cho vay tương ứng với mức độ rủi ro (thể hiện qua số điểm) của bên vay; phân bổ nguồn vốn huy động được từ các nhà đầu tư để cho vay; thu hồi nợ và trả cho nhà đầu tư; kiểm tra hành vi rửa tiền; tuân thủ pháp luật và chế độ báo cáo; quản lý rủi ro bao gồm cả việc lập quỹ phòng ngừa rủi ro… Qua đó, công ty P2P lending sẽ được hưởng phí dịch vụ từ cả nhà đầu tư và bên vay.

Tại Việt Nam, từ năm 2017, mô hình P2P lending bắt đầu phổ biến, tuy nhiên, hiện nay chưa có công ty P2P lending nào được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp phép hoạt động, nên các công ty hoạt động trong lĩnh vực này thường đăng ký dưới hình thức công ty tư vấn đầu tư hoặc môi giới tài chính nhưng hoạt động theo mô hình P2P lending. Tính đến tháng 12/2019, Việt Nam đã có khoảng trên 40 công ty đang hoạt động theo mô hình P2P lending, tập trung ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh[2]. Phần lớn các công ty P2P lending ở Việt Nam đang tự áp lãi suất trên tiêu chí tự xây dựng; mức lãi suất này sẽ thay đổi dựa trên điểm tín nhiệm (do hệ thống chấm) đối với người cho vay, thời hạn vay và các tiêu chí khác của người đi vay. Các công ty này thường đưa ra mức lãi suất huy động vốn cao hơn ngân hàng và cho vay rẻ hơn công ty tài chính với lãi suất huy động vốn từ 10 - 20%/năm (cao gấp 02 lần, gấp 03 tiền lãi huy động tại ngân hàng, trong khi mức lãi suất tiền gửi tại ngân hàng hiện nay cao nhất là khoảng 8,4%/năm); lãi suất cho vay bằng lãi suất huy động trên cộng thêm chênh lệch 1 - 5%/năm, phổ biến là 15 - 25%/năm. Về hình thức vay bao gồm thế chấp, tín chấp hoặc mua trả góp như: Vay tín chấp theo lương; vay trả góp theo ngày; vay theo sổ hộ khẩu, hóa đơn điện nước, đăng ký xe máy, ôtô; vay cầm cố tài sản, vay cầm cố ô tô đang thế chấp ngân hàng; vay mua ô tô, nhà trả góp...

Với sự xuất hiện của mô hình P2P lending thì người đi vay sẽ chịu lãi suất thấp hơn và người cho vay sẽ nhận được lãi suất tiết kiệm cao hơn so với lãi suất của các ngân hàng. Bên cạnh đó, P2P lending giúp khách hàng không phải đến ngân hàng giao dịch mà giao dịch qua trực tuyến, thủ tục vay đơn giản, xét duyệt cho vay dễ dàng, thời gian xét duyệt cho vay nhanh, trái ngược với quy trình xét duyệt tín dụng khắt khe, tốn nhiều thời gian, chi phí tại ngân hàng truyền thống. Đồng thời, giao dịch qua công ty P2P lending có sự linh hoạt hơn, cho phép các bên tự thỏa thuận những điều kiện vay có lợi hơn cho mình.

Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích đem lại cho người cho vay và người đi vay, hoạt động của các công ty P2P lending này cũng nảy sinh nhiều nguy cơ, vấn đề phức tạp, nổi lên:

Một là, ở Việt Nam hiện nay chưa có hành lang pháp lý đối với công ty P2P lending, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng chưa cấp phép cho doanh nghiệp P2P lending nào nhưng đã có hàng loạt các công ty và website hoạt động theo mô hình này với đăng ký là công ty tư vấn đầu tư. Điều này gây khó khăn trong công tác quản lý và ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh tài chính ngân hàng nước ta. Bên cạnh đó, do các công ty P2P lending chỉ là môi giới, kết nối giữa người đi vay và người cho vay, nên khi tranh chấp, rủi ro xảy ra, trách nhiệm do hai bên tự giải quyết; lúc này, các cơ quan chức năng cũng không có cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp của hai bên.

Hai là, hoạt động “tín dụng đen” được hợp pháp hóa bằng cách các công ty cầm đồ, công ty tài chính đăng ký liên kết với các công ty P2P lending để cho vay. Trong trường hợp này, các công ty P2P lending đóng vai trò tìm kiếm khách hàng vay vốn và chuyển thông tin cho các công ty cầm đồ, công ty tài chính. Theo đó, công ty P2P lending không đóng vai trò trung gian kết nối giữa bên đi vay và bên cho vay như mô hình P2P lending truyền thống đang triển khai ở nhiều nước mà có dấu hiệu trở thành kênh phân phối, bán hàng cho các công ty cầm đồ, công ty tài chính. Công ty cầm đồ là bên cho vay nhưng lại là đầu mối thu gốc, lãi và phí từ khách hàng vay, sau đó thanh toán phí cho các công ty P2P lending. Theo những hợp đồng này, ngoài lãi theo thỏa thuận phải trả với người cho vay thì người đi vay còn phải chịu hàng loạt các chi phí khác như: Phí thẩm định tài sản, phí lưu giữ tài sản, phí tư vấn... Chính vì khoản phí cao hơn nhiều lần lãi suất, dẫn đến lãi suất thực tế khoản tiền người đi vay phải trả có thể lên tới 30 - 50%/tháng. Với “tín dụng đen”, nếu người vay không có khả năng trả nợ, thì có thể bị người cho vay thu hồi nợ theo cách không chính thống, bị ép buộc, đe dọa, hành hung, bắt cóc, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm, thậm chí đe dọa người thân của những người đi vay nhằm tạo sức ép buộc phải bán nhà, bán tài sản để trả nợ.

Ba là, nguy cơ các công ty nước ngoài lợi dụng mô hình P2P lending để cho vay tín dụng không phép. Nhiều công ty P2P lending 100% vốn nước ngoài, đăng ký dịch vụ tư vấn tài chính trong giấy phép đăng ký kinh doanh và có hệ thống máy chủ và hệ thống máy dự phòng đặt ở nước ngoài, dẫn đến khó có khả năng kiểm soát dữ liệu, có thể phát sinh rủi ro rất lớn nếu có phát sinh các vụ án hình sự hay các nhân sự chủ chốt của các công ty P2P lending này bỏ trốn ra nước ngoài hoặc không phối hợp với cơ quan chức năng thì việc truy cập thông tin để bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng trong nước là rất khó.

Bốn là, mô hình P2P lending tạo cơ hội cho tội phạm công nghệ cao gia tăng khi mà công nghệ số ngày càng phát triển. Các công ty P2P lending phần lớn là các doanh nghiệp khởi nghiệp, do đó, năng lực công nghệ, hạ tầng kỹ thuật có thể chưa đảm bảo an ninh, an toàn hệ thống; toàn bộ dữ liệu về người tham gia hình thức này đều được quản lý, lưu trữ trên hệ thống máy chủ và hoạt động trên môi trường internet. Vì thế, các hackers có thể lợi dụng lỗ hổng bảo mật để xâm nhập, đánh cắp thông tin cá nhân của các bên tham gia; hệ thống máy chủ của công ty P2P lending có thể bị chiếm quyền kiểm soát hoặc bị đánh sập, sửa, xóa dữ liệu có chủ đích dẫn đến toàn bộ thông tin giao dịch của các bên bị mất, thay đổi thông tin giao dịch gây ảnh hưởng trực tiếp tới tài sản của các nhà đầu tư và các bên tham gia giao dịch trong hệ thống. Bên cạnh đó, nếu công ty P2P lending bất ngờ rút khỏi thị trường Việt Nam thì toàn bộ thông tin giữa bên cho vay và bên vay có thể hoàn toàn không có khả năng tra soát và truy cập do công ty đối tác chiếm toàn bộ quyền kiểm soát cả nền tảng công nghệ lẫn máy chủ lưu trữ dữ liệu.

Năm là, tiềm ẩn nhiều rủi ro cho các nhà đầu tư. Cụ thể, các nhà đầu tư không được hưởng các quyền lợi liên quan đến việc bảo vệ người gửi tiền như ở hệ thống ngân hàng; nhưng vẫn phải chịu các rủi ro về tín dụng, thanh khoản, pháp lý… Đối với ngân hàng, thông tin từ Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam (CIC) rất quan trọng, qua đó mà các ngân hàng có cơ sở dữ liệu đánh giá tín dụng của khách hàng và quyết định phần lớn vào việc có cho vay không. Tuy nhiên, theo mô hình P2P lending, các nhà đầu tư phải tự thẩm định thông tin khách hàng nên có thể không chính xác. Thủ tục xác thực thông tin khách hàng được thực hiện chủ yếu dựa vào việc chụp ảnh và nhận diện chứng minh thư đối chiếu với khuôn mặt khi khách hàng đăng ký. Bên cạnh đó, việc xác minh mục đích vay vốn hoàn toàn dựa vào khai báo của khách hàng và không có biện pháp hậu kiểm để xác minh việc sử dụng vốn có đúng mục đích khai báo hay không. Vì vậy, nếu người cho vay không có kinh nghiệm thẩm định hồ sơ người vay, đặc biệt trong trường hợp thông tin khách hàng cung cấp sai lệch hoặc khách hàng sử dụng thông tin cá nhân để vay vốn tại nhiều công ty khác nhau... thì có thể dẫn đến đánh giá sai về khách hàng vay, dẫn đến rủi ro cao. Ngoài ra, trong một số trường hợp, công ty P2P lending huy động vốn nhưng không cho khách hàng vay và sử dụng vốn đó vào mục đích khác, dẫn đến khoản vay bị nợ xấu hoặc không thu hồi được.

Sáu là, tiềm ẩn nguy cơ các đối tượng lợi dụng mô hình P2P lending này để thực hiện các hoạt động rửa tiền, tài trợ khủng bố, trốn thuế, đa cấp... Trước hết, đối tượng tham gia sàn giao dịch bao gồm cả người cư trú và người không cư trú, đối tượng ẩn danh hoặc mạo danh vì thế rất khó để kiểm soát cũng như xác thực thông tin mà các đối tượng cung cấp. Cùng với đó, về nguồn gốc số tiền cho vay, các công ty P2P lending không kiểm soát được nguồn tiền đầu tư cho vay, nên tiền đầu tư của các tổ chức, cá nhân có thể trở thành kênh để các đối tượng phạm tội thực hiện hành vi rửa tiền, trốn thuế hoặc huy động vốn theo mô hình đa cấp nhằm lừa đảo, chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư…

Trong xu thế phát triển cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, mô hình P2P lending với những lợi ích vượt trội so với ngân hàng truyền thống, được coi là xu hướng phát triển tất yếu, “không thể cấm” và được dự báo sẽ bùng nổ mạnh mẽ tại Việt Nam trong thời gian tới. Tuy nhiên, thực tế trong nước và tình hình hoạt động tài chính P2P lending trên thế giới cho thấy bên cạnh những lợi ích mô hình này đem lại còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro, cơ hội cho các đối tượng lợi dụng hoạt động phạm tội. Để nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lý các công ty P2P lending cũng như phòng ngừa rủi ro nói chung, phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến mô hình này trong thời gian tới, cần tập trung một số nội dung cơ bản sau:

- Ngân hàng Nhà nước cần phối hợp với các bộ, ngành liên quan nhanh chóng nghiên cứu, khảo sát để xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý quản lý hoạt động của các công ty P2P lending. Có thể cho phép một số doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng được các tiêu chí của Ngân hàng Nhà nước về mô hình P2P lending được thí điểm hoạt động. Qua đó nhằm tổng kết, đánh giá các mặt ưu, nhược điểm của hoạt động này để hoàn thiện khung pháp lý cho phù hợp với tình hình thực tiễn tại Việt Nam. Về khung pháp lý, cần quy định cụ thể một số nội dung sau:

(i) Đối với các công ty P2P lending, cần quy định rõ các điều kiện đảm bảo an toàn hoạt động đối với công ty P2P lending cùng với quy định về kiểm tra, giám sát hoạt động của các công ty này, cụ thể: Quy định về vốn điều lệ nhất định, giới hạn vốn huy động, điều kiện cơ cấu sở hữu vốn; minh bạch thông tin; tiêu chuẩn đội ngũ cán bộ chủ chốt; hệ thống công nghệ thông tin, máy chủ đặt tại Việt Nam; báo cáo dữ liệu cho Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam, tra cứu thông tin phục vụ chấm điểm khách hàng; lập quỹ phòng ngừa rủi ro, mở tài khoản ủy thác tại bên thứ ba (có thể là tại các định chế tài chính) để quản lý tiền vốn của nhà đầu tư…

(ii) Đối với tổ chức, cá nhân là người cho vay và đi vay: Cần quy định rõ số tiền một tổ chức, cá nhân được cho vay và được vay; trách nhiệm của người cho vay và người vay; quy định về quyền tiếp cận thông tin…

(iii) Ban hành chế tài xử phạt cụ thể đối với các công ty P2P lending, tổ chức, cá nhân cho vay và đi vay cố tình vi phạm, không tuân thủ quy định.

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của các công ty P2P lending. Trước hết, Ngân hàng Nhà nước cần phối hợp với Bộ Công an, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các đơn vị có liên quan thực hiện rà soát, thanh tra, kiểm tra hoạt động P2P lending của các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài đang hoạt động kinh doanh theo mô hình P2P lending tại Việt Nam để kịp thời phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh và xử lý nghiêm đối với các hoạt động vi phạm pháp luật. Đồng thời, tăng cường các biện pháp hành chính trong xử phạt hành vi vi phạm nếu chưa đến mức phải truy tố trách nhiệm hình sự. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cần phối hợp đơn vị liên quan nghiên cứu, đưa ra các cơ sở pháp lý, giải pháp để quản lý thuế đối với hoạt động của các công ty P2P lending. Ngoài ra, tăng cường sự hợp tác quốc tế, tiếp thu những kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới như Anh, Liên bang Nga, Mỹ, Trung Quốc… trong việc hoàn thiện khung pháp lý và quản lý hoạt động của các công ty theo mô hình này.

- Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao hiểu biết của người dân về các quy định của Nhà nước về hoạt động P2P lending và những rủi ro, nguy cơ tiềm ẩn từ mô hình này. Trong đó, cần tập trung tuyên truyền, phổ biến về các phương thức, thủ đoạn hoạt động của các đối tượng lợi dụng mô hình này để phạm tội nhằm nâng cao cảnh giác của người dân trước thủ đoạn lừa đảo, cho vay nặng lãi, rửa tiền, đa cấp... Bên cạnh đó, khuyến khích người dân tích cực tố cáo, tố giác tội phạm khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật, hoạt động “tín dụng đen”; hợp tác chặt chẽ với cơ quan chức năng trong việc thu thập, cung cấp, trao đổi thông tin, tài liệu làm chứng cứ phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm liên quan đến mô hình P2P lending.

- Các cơ quan, đơn vị trong Ngành Công an theo chức năng nhiệm vụ của mình cần tăng cường công tác nắm tình hình hoạt động P2P lending, chủ động phát hiện được những phương thức, thủ đoạn hoạt động phạm tội trong lĩnh vực này, những biến tướng của các công ty lợi dụng mô hình P2P lending để hoạt động như ngân hàng, cho vay nặng lãi, thu hồi nợ không đúng quy định, chuyển tiền trái phép từ nước ngoài về Việt Nam… Thông qua đó, có những hình thức xử lý kịp thời, đồng thời tham mưu cho Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng trong việc quản lý đối với mô hình hoạt động này. Tăng cường sự phối hợp với tất cả các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Ngành Công an để nắm tình hình phát hiện vấn đề; đặc biệt phát huy vai trò, chức năng của lực lượng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao để tổ chức xác minh, đấu tranh với những hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động P2P lending.

Nguyễn Quang Tùng

Học viện An ninh nhân dân





[1]. http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/loi-ich-cua-mo-hinh-kinh-te-chia-se-va-nhung-thach-thuc-cho-nha-quan-ly-302048.html.

[2]. Lại Văn Công (2019), Một số yếu tố rủi ro của hình thức tín dụng “cho vay ngang hàng” và giải pháp phòng ngừa, Tạp chí Cảnh sát nhân dân.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: