Thứ hai 16/03/2026 07:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kiểm toán nhà nước - Công cụ pháp lý quan trọng trong kiểm soát vốn của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và quản lý. Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp nhà nước phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo toàn và phát triển số vốn mà Nhà nước giao cho để duy trì khả năng kinh doanh của doanh nghiệp.

Vốn nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý và sử dụng là vốn ngân sách cấp. Vì vậy, doanh nghiệp nhà nước cần sử dụng vốn một cách hợp lý, có hiệu quả, đem lại lợi ích cho nền kinh tế. Tuy nhiên, làm thế nào để đánh giá tình hình sử dụng và kiểm soát vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước? Một trong những công cụ pháp lý quan trọng và hiệu quả đó là kiểm toán nhà nước. Trong bài viết này, tác giả phân tích vai trò của kiểm toán nhà nước trong kiểm soát vốn của doanh nghiệp nhà nước; thẩm quyền của kiểm toán nhà nước trong kiểm soát vốn của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay và đưa ra một số kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả của kiểm toán nhà nước trong kiểm soát vốn của doanh nghiệp nhà nước.

1. Vai trò của Kiểm toán nhà nước trong kiểm soát vốn của doanh nghiệp nhà nước

Hoạt động kiểm toán xuất phát từ yêu cầu sử dụng hợp lệ và hợp lý các nguồn tài chính của Nhà nước, bởi vậy, mục tiêu cụ thể của công tác này là sử dụng xác thực và có hiệu quả nguồn kinh phí công, phấn đấu đạt được sự quản lý kinh tế chặt chẽ, tính hợp lệ của công tác quản lý hành chính và việc thông tin cho các cơ quan nhà nước, công luận thông qua việc công bố các báo cáo khách quan về sự ổn định và phát triển của nền tài chính quốc gia. Kiểm toán nhà nước là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và tuân theo pháp luật, thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công.

Ở Việt Nam, các doanh nghiệp nhà nước có một vị trí đặc biệt trong nền kinh tế, bởi đây là các doanh nghiệp được Nhà nước chủ trương tăng cường đầu tư, đẩy mạnh tích tụ về vốn và quy mô, định hướng trở thành các tập đoàn lớn, “đầu tàu” của các ngành kinh tế then chốt. Các doanh nghiệp nhà nước không chỉ có nguồn vốn lớn mà nó còn chiếm giữ các lợi thế cạnh tranh lớn cũng như được hưởng những chính sách đầu tư ưu đãi từ phía Nhà nước, do đó, quá trình sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp nhà nước chịu sự tác động của nhiều yếu tố mà nếu không có sự giám sát chặt chẽ sẽ có thể gây ra tình trạng thua lỗ, mất vốn và thất thoát tài sản nhà nước. Thực tế cũng đã cho thấy, việc quản lý sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp có nhiều yếu kém và nhiều doanh nghiệp trong số đó không chỉ gây ra tình trạng thua lỗ, mất vốn của Nhà nước, mà còn để lại những hệ lụy không nhỏ cho nền kinh tế. Chính vì những nguyên nhân cơ bản trên mà việc kiểm soát vốn nhà nước tại các doanh nghiệp cũng là vấn đề sống còn của hoạt động quản lý nền kinh tế. Vai trò của Kiểm toán nhà nước trong kiểm soát vốn của doanh nghiệp nhà nước thể hiện ở những khía cạnh sau:

Thứ nhất, góp phần kiểm tra việc chấp hành những quy định hiện hành về quản lý và sử dụng vốn của Nhà nước tại các doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nhà nước. Thông qua hoạt động kiểm toán, các doanh nghiệp nhà nước buộc phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật về quản lý và sử dụng vốn nhà nước cũng như tuân thủ các quy định về quản lý tài chính trong doanh nghiệp nhà nước, bởi nếu không, sự kiểm tra, đánh giá của Kiểm toán nhà nước đều có khả năng phát hiện các hành vi gian dối, không tuân thủ các quy định về quản lý tài chính trong doanh nghiệp.

Thứ hai, thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện các hành vi làm thất thoát, mất mát tài sản và vốn của Nhà nước. Việc phát hiện các hành vi làm thất thoát, mất mát vốn và tài sản của Nhà nước thông thường phải dựa trên những kỹ năng phân tích và nghiệp vụ kinh tế - tài chính nhất định. Do đó, để phát hiện kịp thời các vi phạm này, thì tổ chức thực hiện phải có chuyên môn về nghiệp vụ kinh tế - tài chính. Chỉ trên cơ sở kiểm tra, tìm hiểu hoạt động tài chính của doanh nghiệp, tổ chức kiểm tra, giám sát mới có thể đưa ra các kết luận về việc sử dụng vốn và tài sản của Nhà nước tại doanh nghiệp và là cơ sở để xác định hành vi vi phạm của doanh nghiệp trong quá trình quản lý và sử dụng vốn nhà nước.

Thứ ba, cung cấp cơ sở dữ liệu cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đưa ra các quyết định quản lý nhà nước về kiểm soát vốn trong doanh nghiệp nhà nước. Thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước là cơ quan nắm rõ tình hình sử dụng vốn và tài sản của Nhà nước tại các doanh nghiệp. Các kết luận của Kiểm toán nhà nước sẽ là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đưa ra các quyết định điều hành liên quan đến quá trình sử dụng vốn và tài sản tại doanh nghiệp. Trong thực tiễn, các kết luận của Kiểm toán nhà nước cho thấy tình trạng thất thoát vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp và đòi hỏi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải có những biện pháp can thiệp kịp thời nhằm chấm dứt tình trạng thất thoát vốn.

Thứ tư, thông qua hoạt động kiểm toán, đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế về quản lý và sử dụng vốn của Nhà nước tại các doanh nghiệp. Thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước là cơ quan nắm rõ tình hình sử dụng, quản lý vốn và tài sản của doanh nghiệp, đồng thời cũng là người phát hiện các hành vi vi phạm và nguyên nhân cơ bản dẫn đến những tình trạng sử dụng làm thất thoát vốn và tài sản nhà nước. Các nguyên nhân mà Kiểm toán nhà nước nhận thấy có thể từ lỗ hổng của quy trình quản lý, điều hành doanh nghiệp; do cơ chế, do chính sách… từ đó, góp phần đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế về quản lý và sử dụng vốn của Nhà nước tại các doanh nghiệp.

2. Thẩm quyền của Kiểm toán nhà nước trong kiểm soát vốn của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Địa vị pháp lý của Kiểm toán nhà nước đã được chính thức ghi nhận tại Hiến pháp năm 2013. Theo đó, Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015 đã tiếp tục kế thừa tư tưởng và triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 nhằm cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm toán nhà nước. Đặc biệt, các quy định pháp luật về thẩm quyền và việc thực hiện thẩm quyền của Kiểm toán nhà nước cũng được áp dụng đối với trường hợp kiểm toán doanh nghiệp nhà nước, trong đó có nội dung liên quan đến kiểm soát vốn của doanh nghiệp nhà nước. Điều 9 Luật Kiểm toán nhà nước 2015 xác định rõ: “Kiểm toán nhà nước có chức năng đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị đối với việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công”. Như vậy, chức năng này bao gồm cả việc đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị đối với việc quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước. Nói cách khác, việc sử dụng và quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước cũng là đối tượng thuộc phạm vi kiểm toán của Kiểm toán nhà nước.

Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015 đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2016, nhưng đến nay chưa có văn bản hướng dẫn thi hành, nên các văn bản hướng dẫn Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005 vẫn còn giá trị sử dụng, cụ thể là quy trình kiểm toán doanh nghiệp nhà nước được ban hành theo Quyết định số 04/2012/QĐ-KTNN ngày 06/4/2012 của Tổng Kiểm toán nhà nước về ban hành quy trình kiểm toán doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là Quyết định số 04/2012/QĐ-KTNN). Theo quy trình này, thì sự tham gia của Kiểm toán nhà nước vào bất kỳ giai đoạn nào cũng sẽ có tác dụng không nhỏ lên quá trình kiểm soát vốn của doanh nghiệp nhà nước, thể hiện ở những điểm sau:

Một là, thông tin về tình hình tài chính và các thông tin về có liên quan tới tài chính là một trong số nội dung quan trọng của quy trình kiểm toán doanh nghiệp nhà nước. Các thông tin này bao gồm các nội dung như chế độ quản lý tài chính, chế độ kế toán đối với doanh nghiệp và các quy định đặc thù của doanh nghiệp. Tình hình kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nguồn vốn, tài sản, các hoạt động và giao dịch có ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Đặc biệt, thông tin tài chính còn có thể bao gồm cả các thông tin về tình hình tài chính của các công ty con, các công ty thành viên (trực thuộc tổng công ty).

Hai là, kiểm toán các doanh nghiệp nhà nước tuân theo quy trình pháp lý chặt chẽ nhất định. Quy trình này gồm các bước sau đây:

(i) Ban hành quyết định kiểm toán: Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành quyết định kiểm toán khi có một trong các căn cứ là theo kế hoạch kiểm toán hàng năm của Kiểm toán nhà nước hoặc theo yêu cầu của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc theo yêu cầu Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cơ quan, tổ chức không có trong kế hoạch kiểm toán năm của Kiểm toán nhà nước (khoản 2, 3 Điều 10 Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015). Quyết định kiểm toán sẽ được gửi cho đơn vị được kiểm toán chậm nhất là 3 ngày làm việc và phải được công bố chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày ký, trừ trường hợp kiểm toán đột xuất.

(ii) Nội dung kiểm toán: Nội dung kiểm toán được xác định trước gồm kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động. Kiểm toán tài chính là việc kiểm toán để đánh giá, xác nhận tính đúng đắn, trung thực của các thông tin tài chính và báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán. Kiểm toán tuân thủ là việc kiểm toán để đánh giá và xác nhận việc tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế mà đơn vị được kiểm toán phải thực hiện. Kiểm toán hoạt động là việc kiểm toán để đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý và sử dụng tài chính công, tài sản công. Tuy nhiên, có thể căn cứ vào yêu cầu của từng cuộc kiểm toán, Tổng Kiểm toán nhà nước quyết định nội dung kiểm toán của từng cuộc kiểm toán (khoản 2 Điều 32 Luật Kiểm toán nhà nước 2015).

(iii) Thiết chế đoàn kiểm toán: Đoàn kiểm toán được thành lập để thực hiện nhiệm vụ kiểm toán của Kiểm toán nhà nước. Tổng Kiểm toán nhà nước quyết định thành lập Đoàn kiểm toán theo đề nghị của Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước chuyên ngành hoặc Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước khu vực. Căn cứ vào quy mô cuộc kiểm toán, Đoàn kiểm toán có thể có Tổ kiểm toán. Đoàn kiểm toán tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ kiểm toán nhưng phải chịu trách nhiệm về những đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị trong báo cáo kiểm toán (Điều 36 Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015).

(iv) Quy trình kiểm toán: Quá trình kiểm toán trải qua các bước chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán, lập và gửi báo cáo kiểm toán, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán. Chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày kết thúc kiểm toán tại đơn vị được kiểm toán, Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm hoàn thiện dự thảo báo cáo kiểm toán và gửi lấy ý kiến của đơn vị được kiểm toán. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được dự thảo báo cáo kiểm toán, đơn vị được kiểm toán phải có ý kiến bằng văn bản gửi Kiểm toán nhà nước; quá thời hạn trên, đơn vị được kiểm toán không có ý kiến thì được coi là đã nhất trí với dự thảo báo cáo kiểm toán. Báo cáo kiểm toán được Kiểm toán nhà nước gửi cho đơn vị được kiểm toán và cơ quan có liên quan theo quy định của Tổng Kiểm toán nhà nước chậm nhất là 45 ngày, kể từ ngày kết thúc kiểm toán tại đơn vị được kiểm toán; trường hợp đặc biệt thì có thể kéo dài, nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày kết thúc kiểm toán tại đơn vị được kiểm toán.

(v) Công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán: Báo cáo kiểm toán sau khi phát hành được công bố công khai. Tổng Kiểm toán nhà nước tổ chức công khai báo cáo kiểm toán theo một hoặc một số hình thức họp báo, công bố trên công báo và phương tiện thông tin đại chúng, đăng tải trên trang thông tin điện tử và các ấn phẩm của Kiểm toán nhà nước; niêm yết tại trụ sở của đơn vị được kiểm toán.

Ba là, quy trình kiểm toán doanh nghiệp nhà nước đã quy định cụ thể về nghĩa vụ của đơn vị được kiểm toán. Đơn vị được kiểm toán phải chấp hành quyết định kiểm toán, đồng thời lập và gửi đầy đủ, kịp thời báo cáo tài chính, báo cáo tình hình thực hiện, quyết toán vốn, quản lý dự án đầu tư; kế hoạch thu, chi; báo cáo tình hình chấp hành và quyết toán ngân sách cho Kiểm toán nhà nước theo yêu cầu. Đơn vị được kiểm toán phải cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin, tài liệu cần thiết để thực hiện việc kiểm toán theo yêu cầu của Kiểm toán nhà nước, kiểm toán viên nhà nước và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, khách quan của thông tin, tài liệu đã cung cấp. Đồng thời, đơn vị được kiểm toán phải có nghĩa vụ trả lời và giải trình đầy đủ, kịp thời các vấn đề do Đoàn kiểm toán, kiểm toán viên nhà nước yêu cầu liên quan đến nội dung kiểm toán. Đơn vị được kiểm toán phải ký biên bản kiểm toán và thực hiện đầy đủ, kịp thời kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán nhà nước về quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; thực hiện biện pháp để khắc phục yếu kém trong hoạt động của mình theo kết luận, kiến nghị của Kiểm toán nhà nước; báo cáo bằng văn bản về việc thực hiện kết luận, kiến nghị đó cho Kiểm toán nhà nước. Trong thời gian giải quyết khiếu nại, đơn vị được kiểm toán vẫn phải thực hiện đầy đủ, kịp thời kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, trừ trường hợp Tổng Kiểm toán nhà nước, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định tạm đình chỉ thực hiện các kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán nhà nước.

Có thể nói, quy trình kiểm toán của Kiểm toán nhà nước đã tạo lập cơ sở pháp lý quan trọng cho quá trình kiểm toán tại các doanh nghiệp nhà nước, đảm bảo cho việc kiểm toán được tiến hành theo những kế hoạch nhất định. Tuy nhiên, các quy định pháp luật vẫn còn một số nội dung hạn chế như:

- Hiện chưa có văn bản hướng dẫn thi hành Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015, trong khi Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005 - cơ sở pháp lý của Quyết định số 04/2012/QĐ-KTNN đã hết hiệu lực. Vì vậy, vẫn còn tồn tại một số quy định chưa có sự thống nhất với Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015, ví dụ như quy định về giá trị pháp lý của báo cáo kiểm toán. Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015 đã quy định rõ báo cáo kiểm toán của Kiểm toán nhà nước sau khi phát hành và công khai có giá trị bắt buộc phải thực hiện đối với đơn vị được kiểm toán về sai phạm trong việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công, trong khi đó, Quyết định số 04/2012/QĐ-KTNN không có quy định về vấn đề này.

- Luật Kiểm toán nhà nước mới chỉ quy định về trường hợp kiểm toán định kỳ mà chưa có quy định về trường hợp kiểm toán đột xuất. Do đó, việc kiểm toán tại các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn mang nặng tính chất hành chính, kế hoạch, thiếu sự chủ động và linh hoạt, làm hạn chế phần nào yếu tố bất ngờ của các cuộc kiểm toán. Vai trò phát hiện các hành vi vi phạm liên quan đến kiểm toán tài chính của kiểm toán nhà nước phần nào bị giảm sút.

- Mặc dù Luật Kiểm toán nhà nước đã quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan kiểm toán nhà nước, tuy nhiên, quá trình thực hiện cho thấy, việc không có chế tài xử phạt đối với các đơn vị có vi phạm trong việc thực hiện kiến nghị kiểm toán đã làm hạn chế hiệu quả hoạt động này. Một số kiến nghị của Kiểm toán nhà nước phù hợp với quy định của pháp luật nhưng do cơ chế, chính sách có những vướng mắc, bất cập, không còn phù hợp với thực tiễn nên việc các đơn vị thực hiện kiến nghị của kiểm toán theo các cơ chế, chính sách không còn phù hợp thực tiễn, tính khả thi không cao.

3. Một số kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả của Kiểm toán nhà nước trong kiểm soát vốn của doanh nghiệp nhà nước

Nghị quyết A/66/209 ngày 22/12/2011 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc về “thúc đẩy tính hiệu lực, trách nghiệm giải trình, tính hiệu quả và minh bạch của quản lý công bằng cách tăng cường các cơ quan kiểm toán tối cao” đã đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng trong gần 60 năm hoạt động của Tổ chức quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI). Lần đầu tiên, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc công nhận hoàn toàn tính độc lập của cơ quan Kiểm toán tối cao. Theo đó, các cơ quan Kiểm toán tối cao chỉ có thể hoàn thành trách nhiệm của mình một cách khách quan và hiệu quả khi các cơ quan này độc lập với đối tượng kiểm toán và được bảo vệ chống lại ảnh hưởng bên ngoài và ghi nhận tầm quan trọng của các cơ quan kiểm toán tối cao trong việc thúc đẩy tính hiệu lực, trách nhiệm giải trình, hiệu quả và tính minh bạch của quản lý công, giúp thực hiện các mục tiêu và ưu tiên phát triển quốc gia cũng như các mục tiêu phát triển quốc tế, gồm cả mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Vì vậy, để thực hiện các khuyến nghị của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, Nhà nước cần xác định mục tiêu, định hướng phát triển hệ thống kiểm toán và thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và phát huy vai trò của Kiểm toán nhà nước nói chung và vai trò của Kiểm toán nhà nước đối với kiểm soát vốn trong doanh nghiệp nhà nước nói riêng.

Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030, mục tiêu phát triển hệ thống kiểm toán Việt Nam đến năm 2020 đã xác định: “Phát triển đồng bộ hệ thống kiểm toán Việt Nam trở thành công cụ mạnh để thiết lập, củng cố và duy trì các quan hệ tài chính - tiền tệ lành mạnh trong nền kinh tế, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, hình thành mạng lưới kiểm tra, kiểm soát tài chính - tiền tệ từ nội bộ các cơ quan, đơn vị, các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế”. Bởi vậy, nhằm nâng cao hiệu quả kiểm toán trong kiểm soát vốn của doanh nghiệp nhà nước, chúng ta cần quan tâm một số vấn đề sau đây:

Một là, cần nhanh chóng ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm cập nhật hóa những sửa đổi, bổ sung của Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015 nhằm làm đồng bộ hóa hệ thống quy phạm pháp luật. Trong đó, yếu tố tuân thủ pháp luật luôn là điều kiện cần để hệ thống kiểm toán phát triển theo đúng định hướng, trở thành công cụ không thể thiếu trong hoạt động kiểm tra, giám sát tài chính hướng tới mục tiêu xây dựng nền tài chính quốc gia minh bạch và vững bền.

Hai là, cần ban hành hướng dẫn chi tiết cho các trường hợp kiểm toán đột xuất, bất thường đối với doanh nghiệp nhà nước để làm tăng khả năng phát hiện các hành vi vi phạm khi doanh nghiệp không có sự chuẩn bị trước cuộc kiểm toán. Việc quy định các trường hợp nào được kiểm toán đột xuất phải có sự cẩn trọng nhất định vì chúng rất có khả năng xâm phạm đến quyền tự do kinh doanh, cũng như tổn hại đến các hoạt động kinh doanh bình thường của doanh nghiệp.

Vũ Thị Nhung
Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nguyễn Văn Hoan, Một số vấn đề bất cập của Luật Kiểm toán nhà nước hiện hành, Tạp chí Kiểm toán số 10/2012
[2]. TS. Đặng Văn Hải, Vai trò của Kiểm toán nhà nước với việc bảo đảm tính minh bạch quản trị quốc gia

[3]. ThS. Cù Hoàng Diệu, Kiểm soát chất lượng - Kinh nghiệm cho Kiểm toán nhà nước Việt Nam, Tạp chí Kế toán & Kiểm toán

[4]. Báo cáo của Tổng Kiểm toán nhà nước về công tác của Kiểm toán nhà nước nhiệm kỳ 2011 - 2016.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.

Theo dõi chúng tôi trên: