Thứ tư 18/03/2026 20:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Mô hình chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn - Thực trạng và giải pháp

Để đạt được mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2045, Việt Nam phải thay đổi toàn diện về diện mạo kinh tế, đô thị và thể chế theo hướng đô thị hóa, chính quyền số, nền kinh tế thị trường. Điều đó, đòi hỏi các cấp chính quyền địa phương phải năng động, sáng tạo, dám làm, dám chịu trách nhiệm, giảm đầu mối, giảm cấp trung gian, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động đáp ứng giải quyết nhanh chóng các vấn đề phát sinh ở địa phương, cắt giảm thủ tục hành chính, thu hút đầu tư.

1. Đặt vấn đề

Gắn với ba mốc lịch sử quan trọng của đất nước, Đại hội khóa XIII của Đảng đã đề ra các mục tiêu cụ thể phát triển đất nước trong những năm tới: Đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Để đạt mục tiêu trên, Đảng và Nhà nước đã xác định nhiều giải pháp toàn diện như đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện thể chế nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì Nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước… Trong đó, tiếp tục hoàn thiện tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với địa bàn nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt theo luật định; thực hiện và tổng kết việc thí điểm chính quyền đô thị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả[1].

Cấp chính quyền địa phương được hiến định tại khoản 2 Điều 111 Hiến pháp năm 2013, gồm có Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định. Trong đó, HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. HĐND quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND. UBND ở cấp chính quyền địa phương do HĐND cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. UBND tổ chức việc thi hành Hiến pháp, pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của HĐND và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao.

Theo đó, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2019 (Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015) đã có sự phân định rõ ràng giữa chính quyền ở đô thị, chính quyền ở nông thôn, hải đảo và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt nhằm phát huy tối đa nguồn lực của địa phương. Tất cả các đơn vị hành chính đều tổ chức HĐND và UBND (cấp chính quyền địa phương).

- Mô hình chính quyền ở đô thị: Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành. Mô hình chính quyền đô thị được tổ chức ở thành phố trực thuộc trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phường, thị trấn và khác với chính quyền nông thôn. Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở thành phố, thị xã ngoài việc quyết định các vấn đề của địa phương như đối với địa bàn nông thôn, còn tập trung quyết định các vấn đề quy hoạch phát triển đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị, quản lý và tổ chức đời sống dân cư đô thị... Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương quận và phường đã được điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu quản lý thống nhất, liên thông trong khu vực nội thành, nội thị tại các đô thị. Ngoài việc thực hiện chức năng đại diện và giám sát theo quy định chung, tập trung thực hiện hai nhóm nhiệm vụ liên quan đến việc quyết định các vấn đề ở địa phương, gồm: (i) Thông qua ngân sách quận, phường theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước; (ii) Bầu nhân sự của HĐND, UBND cùng cấp.

- Mô hình chính quyền ở nông thôn: Dân cư ở địa bàn nông thôn phân bố không đồng đều giữa các vùng, có nhiều hộ gia đình gắn kết với nhau trong sản xuất, sinh hoạt hoặc các hoạt động xã hội khác trong một phạm vi khu vực nhất định, được hình thành do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán và các yếu tố khác. Kinh tế nông thôn chủ yếu là kinh tế nông nghiệp mang nhiều yếu tố tự nhiên. Chính quyền địa phương ở nông thôn được tổ chức ở tỉnh, huyện, xã; cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

- Mô hình chính quyền ở hải đảo: Được tổ chức theo hai cấp (cấp huyện và cấp xã), có đủ hai thiết chế (HĐND và UBND). Tổ chức chính quyền ở hải đảo bảo đảm tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ quan nhà nước tại địa phương, bảo đảm tính chủ động ứng phó khi có sự kiện, tình huống đột xuất, bất ngờ xảy ra nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia trên các vùng biển, hải đảo, phát huy lợi thế, tiềm năng kinh tế biển của đất nước.

- Mô hình chính quyền ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt: Việc tổ chức mô hình chính quyền ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội quy định khi thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt thường có những lợi thế về vị trí địa lý, đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, xuất khẩu. Do đó, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt có thể theo mô hình một cấp chính quyền, hai cấp hành chính, có cơ cấu gọn nhẹ, ít đầu mối trung gian, vận hành thông suốt, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng tốt, nhanh những yêu cầu của các nhà đầu tư, doanh nghiệp trong và ngoài nước.

2. Những vấn đề thực tiễn đặt ra đối với mô hình chính quyền đô thị và nông thôn hiện nay

Đối với chính quyền đô thị và nông thôn ở Việt Nam được tổ chức theo ba cấp hành chính và đủ hai thiết chế (HĐND và UBND) theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015. Hiện nay, Quốc hội đang thực hiện thí điểm chính quyền đô thị hai cấp ở Thành phố Hà Nội và chính quyền đô thị một cấp ở Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng thông qua các Nghị quyết số 97/2019/QH14 ngày 27/11/2019 của Quốc hội về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại Thành phố Hà Nội; Nghị quyết số 119/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của Quốc hội về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị và một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng; Nghị quyết số 131/2020/QH14 ngày 16/11/2020 của Quốc hội về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Về ưu điểm của mô hình chính quyền đô thị không tổ chức HĐND quận, phường: (i) Khắc phục hiện tượng “núp bóng” tập thể để né tránh trách nhiệm khi xảy ra những vụ việc vi phạm pháp luật của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước. Đề cao trách nhiệm của chính quyền, UBND trước người dân, đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền. (ii) Giảm đầu mối, cấp trung gian HĐND quận, phường, bảo đảm sự chỉ đạo điều hành của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên và cấp dưới được thông suốt, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, gần dân, sát dân, phục vụ Nhân dân tốt hơn, Nhân dân được tiếp xúc trực tiếp với chính quyền, được chính quyền trực tiếp nghe các ý kiến phản ánh tâm tư, nguyện vọng của mình, được chính quyền trực tiếp giải quyết các vấn đề bức xúc của mình và được trực tiếp đóng góp ý kiến của mình cho việc xây dựng chính quyền, chuyển từ hình thức dân chủ đại diện sang hình thức dân chủ trực tiếp. (iii) Biên chế công chức UBND phường thuộc biên chế công chức UBND quận, do UBND quận quản lý, sử dụng, không có sự phân biệt giữa công chức cấp xã (phường) và công chức cấp huyện.

Một số vấn đề đặt ra cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện đối với mô hình chính quyền đô thị một cấp, hai cấp: Chính quyền địa phương ở quận, phường không phải là cấp chính quyền địa phương. Khi không tổ chức HĐND ở quận, phường thì một số vấn đề pháp lý đặt ra như sau: (i) Cơ chế bầu cử HĐND quận, phường đại diện cho ý chí, nguyện vọng cho Nhân dân ở địa phương không được thực thi như hiến định; quyền đại diện của người dân trực tiếp thông qua đại biểu HĐND phường và HĐND quận không còn. (ii) Con đường hình thành UBND cũng không được HĐND như quy định của pháp luật mà UBND ở quận, phường được chỉ định, bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, biệt phái, khen thưởng, kỷ luật, đình chỉ công tác theo quyết định của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên; hoạt động của UBND thực hiện theo cơ chế thủ trưởng chỉ đạo, trong khi chức năng quản lý nhà nước của UBND là quản lý chung trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội ở địa phương, đòi hỏi năng lực thực sự của người đứng đầu cơ quan hành chính. (iii) Cơ chế quản lý tài chính - ngân sách, chế độ công vụ chưa có quy định riêng cho chính quyền đô thị, được áp dụng chung theo mô hình chính quyền nông thôn. Tư duy quản lý theo lối mòn, chưa thay đổi nhận thức, chưa quyết tâm chính trị cao trong một bộ phận cán bộ, công chức.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền đô thị và nông thôn

Để đạt được mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2045, Việt Nam phải thay đổi toàn diện về diện mạo kinh tế, đô thị và thể chế theo hướng đô thị hóa, chính quyền số, nền kinh tế thị trường. Điều đó đòi hỏi các cấp chính quyền địa phương phải năng động, sáng tạo, dám làm, dám chịu trách nhiệm, giảm đầu mối, giảm cấp trung gian, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, đáp ứng giải quyết nhanh chóng các vấn đề phát sinh ở địa phương, cắt giảm thủ tục hành chính, thu hút đầu tư. Từ cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức chính quyền đô thị và nông thôn, tác giả kiến nghị một số nội dung nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay:

3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật

Một là, luật hóa mô hình chính quyền đô thị một cấp ở thành phố trực thuộc trung ương, thành phố thuộc tỉnh, thị xã, thị trấn có HĐND và UBND, còn các cấp dưới chỉ tổ chức cơ quan hành chính ở quận, phường do chính quyền địa phương cấp trên thành lập, khi đó, quận và phường không phải là một cấp chính quyền địa phương. Qua đó, giảm được cấp trung gian, tăng cường dân chủ trực tiếp, xây dựng chính quyền địa phương thực sự là chính quyền dân chủ Nhân dân, để hành chính thông suốt từ trung ương đến cơ sở, trong đó cần:

- Tăng cường phân cấp quản lý, phân quyền cho chính quyền ở đô thị nhằm tập trung quyền lực về một đầu mối quản lý và chịu trách nhiệm với Chính phủ cho chính quyền thành phố, giải quyết tốt mối quan hệ giữa chính quyền đô thị và các thành phần khác trong đô thị. Cần xác định việc gì, cấp nào có điều kiện, khả năng thực hiện tốt nhất thì phân giao đầy đủ thẩm quyền, bảo đảm điều kiện cần thiết cho cấp đó giải quyết như về kinh phí, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực… nhằm tránh trùng lặp thẩm quyền giải quyết. Thay đổi phương thức quản lý nhà nước trong các lĩnh vực, giải quyết thủ tục hành chính cho người dân không phụ thuộc vào nơi cư trú, bảo đảm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân, không tốn chi phí đi lại.

- Thực hiện cơ chế dân bầu trực tiếp Chủ tịch UBND nơi không tổ chức HĐND quận, phường nhằm tăng cường dân chủ và tăng cường tính chịu trách nhiệm với Nhân dân địa phương. Có cơ chế bảo đảm kiểm soát quyền lực đối với chức danh Chủ tịch UBND quận, phường.

- Ưu tiên đào tạo và phát huy nguồn lực con người đến mức tối đa ở chính quyền đô thị, có chính sách đãi ngộ hợp lý đối với cán bộ, công chức, viên chức và nguồn tài chính hoạt động được bảo đảm từ ngân sách nhà nước. Tinh giản thủ tục hành chính triệt để, tinh giản biên chế công chức và ứng dụng công nghệ thông tin là phương tiện, giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hiệu quả hoạt động, giảm đầu mối trung gian.

Hai là, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 cần xác định rõ tiêu chí phân biệt chính quyền địa phương ở nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Hoặc xây dựng riêng cho chính quyền đô thị phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội và phương pháp quản lý đối với đô thị. Điều chỉnh chức năng, thẩm quyền của HĐND và UBND ở địa bàn đô thị để bảo đảm tính tập trung, thống nhất, chủ động, trách nhiệm của chính quyền địa phương.

Ba là, phát huy dân chủ, tăng cường tính tự quản trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở nông thôn, đô thị. Bởi vì, xu hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, tất cả các hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân đều phải tuân thủ pháp luật. Giao quyền tự quản cho chính quyền địa phương cũng là một yêu cầu đáp ứng xây dựng Nhà nước pháp quyền. Ở đó, chính quyền địa phương có quyền quyết định mọi vấn đề của địa phương trên cơ sở quy định của Hiến pháp và pháp luật. Tiếp tục đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng ở các vùng nông thôn, góp phần khắc phục trở ngại về khoảng cách địa lý, bảo đảm sự thuận lợi cho Nhân dân trong việc thụ hưởng các dịch vụ công và tham gia quản lý nhà nước, xã hội.

Bốn là, tiếp tục thực hiện thống nhất chủ trương sắp xếp, kiện toàn các cơ cấu bên trong của HĐND và UBND các cấp theo hướng giảm đầu mối, giảm tối đa cấp trung gian, giảm cấp phó.

3.2. Giải pháp về mặt nhận thức

Một là, tăng cường và nâng cao chất lượng công tác phổ biến, quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng chính quyền ở đô thị và nông thôn đến Đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, các tầng lớp Nhân dân; bảo đảm sự thống nhất trong nhận thức quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới, tổ chức kiện toàn chính quyền địa phương các cấp.

Hai là, các cấp ủy Đảng, chính quyền thường xuyên kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời đối với những cơ quan, tổ chức Đảng, Đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương.

Ba là, tổng kết thực tiễn thí điểm mô hình chính quyền đô thị của Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng, để có cơ sở đánh giá hiệu quả hoạt động của chính quyền đô thị không tổ chức HĐND quận, phường. Từ đó, có giải pháp khắc phục hạn chế và triển khai tại các địa bàn đô thị khác làm căn cứ hoàn thiện thể chế về chính quyền đô thị theo hướng chính quyền đô thị là một loại hình thức của chính quyền địa phương, một bộ phận của chính quyền địa phương phù hợp với nguyên tắc Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Bốn là, xem trọng công tác đánh giá, lựa chọn, bố trí cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực đảm nhiệm các chức vụ người đứng đầu cơ quan hành chính ở quận, phường./.

ThS. Trần Thị Tỵ

Trường Cao đẳng Luật miền Nam

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 178.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 407), tháng 6/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: