Thứ sáu 16/01/2026 10:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số bất cập của các quy định pháp luật về tổ chức quản lý lưu vực sông ở nước ta hiện nay

Bài viết phân tích những bất cập của các quy định pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý lưu vực sông cần được khắc phục, nhằm phù hợp hơn với bối cảnh và chủ trương quản lý tổng hợp theo lưu vực sông trước thách thức về bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

Nhận thức được tầm quan trọng của việc quản l‎ý tổng hợp theo lưu vực sông, ngày 01/12/2008 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 120/2008/NĐ-CP về quản lý lưu vực sông (Nghị định số 120/2008/NĐ-CP) đánh dấu mốc quan trọng trong việc chuyển hướng triệt để từ cách quản lý lưu vực sông theo ranh giới hành chính sang cách tiếp cận quản lý kết hợp mô hình quản lý theo ranh giới thủy văn và ranh giới hành chính. Theo đó, một hình thức quản lý lưu vực sông mới được xác lập đó là Ủy ban lưu vực sông[1]. Tuy nhiên, sau 10 năm Nghị định ra đời, mô hình này chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý tài nguyên lưu vực sông trước những thách thức về bảo vệ môi trường như kiểm soát ô nhiễm, bảo tồn đa dạng sinh học, chống biến đổi khí hậu và phát triển bền vững[2]. Nguyên nhân của tình trạng này phần lớn là do vẫn còn rất nhiều vướng mắc, bất cập trong các quy định pháp luật về tổ chức quản lý lưu vực sông.


1. Về thành lập tổ chức Ủy ban lưu vực sông

Tháng 4/2016, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã đề xuất thành lập 06 Ủy ban lưu vực sông gồm: Ủy ban lưu vực sông Hồng - Thái Bình[3], Ủy ban lưu vực sông Cửu Long[4], Ủy ban lưu vực sông khu vực Bắc Trung Bộ[5], Ủy ban lưu vực sông khu vực Nam Trung Bộ, Ủy ban lưu vực sông Sê San – Sêrêpốk[6], Ủy ban lưu vực sông Đồng Nai[7], nhưng cho đến hiện nay vẫn chưa có Ủy ban lưu vực sông nào được phê duyệt và thành lập trên cơ sở Nghị định số 120/2008/NĐ-CP. Trên thực tế nước ta mới chỉ có một Ủy ban lưu vực sông là Ủy ban sông Mê Công Việt Nam được thành lập để thúc đẩy, hỗ trợ hợp tác, điều phối và phối hợp trong việc phát triển mọi tiềm năng vì lợi ích bền vững của tất cả các quốc gia ven sông và ngăn ngừa sử dụng lãng phí nước trong lưu vực sông quốc tế là sông Mê Công[8]. Còn đối với những lưu vực sông lớn khác vẫn do Ban quản lý quy hoạch lưu vực sông và Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông quản lý, thậm chí đối với sông Đồng Nai, sông Cầu có đến hai cơ quan cùng quản lý.

Nhưng về thực chất, các tổ chức này chưa có đầy đủ chức năng, quyền hạn của một tổ chức quản lý lưu vực sông mà chỉ có chức năng tư vấn, phối hợp (Ban quản lý quy hoạch lưu vực sông), hoặc chức năng điều phối liên ngành, liên vùng trong phạm vi hẹp để chỉ đạo thực hiện các đề án bảo vệ môi trường lưu vực sông trong khuôn khổ đã được Thủ tướng phê duyệt (Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông)[9]. Hơn nữa, do pháp luật Việt Nam chưa có cơ sở pháp lý cụ thể trong việc hợp tác chung giữa các ngành, lĩnh vực cùng tham gia quản lý lưu vực sông nên còn xảy ra hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm trên thực tiễn[10]. Bên cạnh đó, tình trạng thiếu thống nhất và phân công trách nhiệm giữa các cấp quản l‎ý lưu vực (cấp trung ương và địa phương), giữa các địa phương trong cùng lưu vực vẫn còn tồn tại… đã gây ra nhiều mâu thuẫn, bất cập và chậm trễ đáng kể đối với việc thực hiện các dự án phát triển và bảo vệ môi trường[11].

Theo quan điểm của tác giả, để tránh trùng lặp, mâu thuẫn chức năng, nhiệm vụ các tổ chức có chung mục tiêu hoạt động, cần giải thể Ban quản lý quy hoạch lưu vực sông và Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông, chỉ nên tồn tại duy nhất Ủy ban lưu vực sông có chức năng quản lý và điều phối các vấn đề có liên quan đến lưu vực sông. Nếu vẫn giữ mô hình quản lý như hiện nay sẽ làm phân tán nguồn lực cho quản lý lưu vực sông, gây khó khăn cho chủ trương quản lý tổng hợp, thống nhất, thậm chí tạo cơ hội cho gia tăng mâu thuẫn lợi ích của các bên trên cùng một lưu vực sông. Vì vậy, việc nhanh chóng thành lập Ủy ban lưu vực sông theo Nghị định số 120/2008/NĐ-CP là cấp thiết, nhằm thúc đẩy quản lý thích ứng và tổng hợp tài nguyên môi trường hiệu quả trên các lưu vực sông trong bối cảnh các sức ép về mối đe dọa khai thác không bền vững ngày càng tăng.

2. Về trách nhiệm của Ủy ban lưu vực sông

Trên thế giới có ba loại hình tổ chức lưu vực sông phổ biến là: Cơ quan thủy vụ lưu vực sông; Ủy hội lưu vực sông; Hội đồng lưu vực sông. Mỗi loại có một mức độ tập trung quyền lực cũng như mức độ tham gia vào quản lý nước khác nhau[12]. Mô hình Ủy ban lưu vực sông ở Việt Nam được xây dựng theo hướng Ủy hội lưu vực sông. Theo đó, Ủy ban lưu vực sông có chức năng giám sát, điều phối hoạt động của các Bộ, ngành, địa phương liên quan trong việc thực hiện quy hoạch lưu vực sông; đề xuất ban hành các chính sách, kiến nghị các giải pháp về bảo vệ môi trường nước, khai thác, sử dụng và phát triển tài nguyên nước, phòng, chống và giảm thiểu tác hại do nước gây ra trên lưu vực sông[13]. Như vậy, trách nhiệm của Ủy ban lưu vực sông tương đối giống như tổ chức quản lý nhà nước về tài nguyên nước trên lưu vực sông nhưng không thụ động theo chỉ đạo hành chính nhà nước mà có thể chủ động can thiệp quản lý thích ứng với hoàn cảnh và thực tiễn biến động trên các lưu vực sông cụ thể. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng trên thực tiễn còn có nhiều Bộ, ngành, cơ quan cùng tham gia quản lý lưu vực sông nhưng lại không có quy định phân rõ trách nhiệm và quyền hạn của các bên[14]. Do đó, Ủy ban lưu vực sông ở Việt Nam hiện nay khó có thể thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm của mình nếu không có đủ quyền năng và hoạt động độc lập.

Vì vậy, để đảm bảo quản lý tổng hợp và thống nhất lưu vực sông, chúng ta nên mở rộng trách nhiệm của tổ chức điều phối lưu vực sông giống như cơ quan thủy vụ lưu vực sông nhằm hạn chế những bất cập trong vấn đề phối hợp giữa các ngành, lĩnh vực cũng như đảm bảo việc ra quyết định nhanh chóng, kịp thời trong xử lý các vấn đề liên quan đến môi trường lưu vực sông. Điều đó có nghĩa là cần thiết lập một tổ chức liên ngành lớn, tiếp nhận hầu hết các chức năng của các cơ quan quản lý lưu vực sông hiện hữu. Nói cách khác là trao cho tổ chức quản lý lưu vực sông quyền hạn cao nhất, độc lập, không trực thuộc bất cứ bộ, ngành nào. Khi đó, Ủy ban lưu vực sông sẽ ra quyết định và dựa trên nghị quyết chuyên môn, từng tỉnh sẽ ra quyết định hành chính để thi hành. Và văn phòng lưu vực sông khi đó sẽ phải đóng vai trò là văn phòng kỹ thuật chuyên sâu để đảm bảo hỗ trợ Tổ chức lưu vực sông khi ra các quyết định quản lý. Để đạt được mục tiêu này, văn phòng lưu vực sông cũng phải có vị trí khách quan trong quan hệ với chính quyền địa phương; có bộ máy chuyên nghiệp và đóng trụ sở tại địa bàn lưu vực. Tuy vậy, việc xác định trách nhiệm của tổ chức lưu vực sông không áp dụng tương tự cho tất cả các lưu vực sông mà phải tương xứng với yêu cầu quản lý của lưu vực sông trong thực tế để tránh lãng phí về nguồn lực. Đối với các lưu vực sông lớn, lưu vực sông quốc tế, tổ chức lưu vực sông phải có quyền hạn lớn trong quản lý kể cả quy hoạch, điều tra quan trắc, số liệu chất lượng môi trường, đầu tư xây dựng và quản lý vận hành các công trình sử dụng tài nguyên[15]. Ngược lại, đối với các lưu vực sông nhỏ thì nên giới hạn trách nhiệm của các tổ chức này, chỉ đóng vai trò như là một tổ chức tư vấn đóng góp các ý kiến về quản lý lưu vực sông cho các cấp chính quyền, không tham gia bất kỳ các hoạt động quản lý nước cụ thể nào[16].

3. Thành phần tham gia tổ chức của Ủy ban lưu vực sông

Theo quy định của pháp luật, Ủy ban lưu vực sông được thành lập đối với lưu vực sông thuộc Danh mục lưu vực sông lớn[17] hoặc lưu vực sông thuộc Danh mục lưu vực sông liên tỉnh[18]. Lưu vực sông lớn có nhiều tiểu lưu vực sông liên tỉnh thì có thể thành lập Tiểu ban lưu vực sông liên tỉnh. Riêng đối với lưu vực sông nội tỉnh, việc điều phối các hoạt động bảo vệ môi trường nước, khai thác, sử dụng và phát triển tài nguyên nước, phòng, chống và giảm thiểu tác hại do nước gây ra trên lưu vực sông do Chủ tịch Ủy ban nhân dân chỉ đạo. Thành phần tham gia của Ủy ban lưu vực sông lớn, Ủy ban lưu vực sông liên tỉnh hoặc Tiểu ban lưu vực sông liên tỉnh được tổ chức khác nhau[19].

Có thể nói, về cơ cấu tổ chức của Ủy ban lưu vực sông nói trên có nhiều điểm tiến bộ so hơn với Ban quản lý quy hoạch lưu vực sông và Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông vì trong thành phần tham gia tổ chức không chỉ gồm đại diện của các cơ quan quản lý nhà nước[20] mà còn có đại diện của các đơn vị quản lý công trình khai thác, sử dụng tài nguyên môi trường. Việc mở rộng đối tượng tham gia là phù hợp với xu thế quản lý theo hướng quan hệ đối tác công tư, cũng như tạo ra sự thay đổi quan trọng trong sử dụng hợp lý, công bằng và bền vững tài nguyên môi trường[21]. Tuy nhiên, cơ cấu tham gia Ủy ban lưu vực sông nói trên còn hạn chế khi không có đại diện của các tổ chức ngoài nhà nước (như các tổ chức phi chính phủ, các nhà khoa học…), đặc biệt là sự tham gia của đại diện cộng đồng địa phương với vai trò là chủ sở hữu và là nhóm có lợi ích bị ảnh hưởng nhất khi tài nguyên môi trường trên lưu vực sông bị suy thoái[22], mặc dù trong các bản Hiến pháp đều ghi nhận tài nguyên môi trường thuộc sở hữu toàn dân.

Xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, là quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân[23], theo quan điểm của tác giả, tổ chức lưu vực sông không chỉ là cơ quan quản lý hành chính mà còn phải là một diễn đàn để tất cả các bên liên quan trao đổi, thảo luận, giải quyết các tranh chấp và tìm tiếng nói chung trong quản lý sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường. Vì thế, tổ chức lưu vực sông cần hội tụ tất cả các thành phần liên quan và phải có đầy đủ quy chế cho sự tham gia này. Theo đó, cơ cấu trong một tổ chức lưu vực sông nên bao gồm cơ quan quản lý cấp trung ương, đại diện của các tỉnh và địa phương, đại diện của các Bộ và ngành, đại diện của cộng đồng lưu vực sông, các nhà khoa học, các chủ thể khai thác và sử dụng tài nguyên, các tổ chức phi chính phủ, những chủ thể quan tâm… Tùy theo chức năng và nhiệm vụ của mỗi tổ chức lưu vực sông mà mức độ tham gia của các thành phần này có thể khác nhau, tạo nên đặc điểm riêng về hoạt động của mỗi tổ chức lưu vực sông.

4. Cơ quan giúp việc cho các Ủy ban lưu vực sông

Điều 31 Nghị định số 120/2008/NĐ-CP quy định giúp việc cho các Ủy ban lưu vực sông là Văn phòng lưu vực sông đặt tại một đơn vị thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường. Văn phòng lưu vực sông có con dấu và tài khoản, biên chế riêng, kinh phí hoạt động do ngân sách nhà nước cấp trong kinh phí hoạt động hàng năm của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Tổ chức và hoạt động của Văn phòng lưu vực sông do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định trên cơ sở thống nhất với Ủy ban lưu vực sông. Ngoài ra, tại các tỉnh trong lưu vực sẽ có một Văn phòng điều phối Dự án tổng thể lưu vực sông, còn gọi là các văn phòng sông địa phương, đặt tại các Sở Tài nguyên và Môi trường thuộc các tỉnh lưu vực sông, có kinh phí hoạt động do ngân sách nhà nước cấp trong kinh phí hoạt động hàng năm của Sở Tài nguyên và Môi trường. Các thành viên Văn phòng sông địa phương này hoạt động theo cơ chế kiêm nhiệm. Tổ chức và hoạt động của Văn phòng sông địa phương do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường tỉnh quy định trên cơ sở thống nhất với Ủy ban lưu vực sông. Tuy nhiên, để vai trò của Văn phòng lưu vực sông phát huy hiệu quả trên thực tiễn, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng cần nghiên cứu và xem xét để tránh trùng lặp chức năng, nhiệm vụ với các cơ quan hành chính giúp việc của Bộ[24]. Đồng thời, cần phân định và phân cấp để đảm bảo cho cơ quan này hoạt động một cách độc lập, không bị chi phối bởi các quyết định của các cơ quan hành chính quản lý.

5. Nguồn tài chính hoạt động

Cũng tương đồng với quốc tế[25], nguồn tài chính phục vụ cho hoạt động của tổ chức lưu vực sông ở Việt Nam được huy động dựa trên sự trợ giúp của nhà nước, các tổ chức quốc tế hoặc đóng góp tài chính của các tỉnh, các hộ dùng nước được hưởng lợi trên lưu vực sông[26]. Trong đó, nguồn tài chính đảm bảo ổn định và lâu dài cho hoạt động của lưu vực sông chủ yếu đến từ ngân sách nhà nước. Theo Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã, đang phối hợp Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư lập đề án, tổ chức và triển khai chi 1% ngân sách hàng năm cho sự nghiệp môi trường. Tuy nhiên, do cho đến nay chúng ta chưa có đề án quy hoạch, kế hoạch lưu vực sông cụ thể nào nên việc đầu tư, phân phổ ngân sách cho nội dung này không được minh bạch[27] và không được phân bổ thành mục chi riêng mà nằm chung trong ngân sách của Bộ, ngành quản lý[28]. Chính vì lẽ đó mà hiệu quả sử dụng vốn nhà nước trong quản lý lưu vực sông còn kém, chưa xác định được các ưu tiên để đầu tư tập trung có trọng điểm, đầu tư còn trùng lặp. Đối với việc huy động các nguồn tài chính khác cho quản lý lưu vực sông trên thực tế cũng không khả thi về cả khía cạnh pháp luật và tính chủ động, chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Bởi trước tiên các nhà quản lý Việt Nam chưa đánh giá đúng giá trị của các nguồn tài nguyên môi trường và coi đó là hàng hóa để đặt ra trách nhiệm chi trả và bù đắp chi phí bảo vệ, phát triển tài nguyên nên thuế và phí thu được từ tài nguyên là rất thấp. Bên cạnh đó, xã hội chưa nhận thức hết được tầm quan trọng của quản lý nước lưu vực sông nên nguồn tài chính từ đóng góp tự nguyện vô cùng hạn chế. Chính vì vậy, để tăng nguồn lực tài chính cho hoạt động quản lý lưu vực sông thì chính bản thân các Ủy ban lưu vực sông trong tương lai cũng phải chủ động tạo nguồn kinh phí bằng cách đề xuất với Chính phủ các giải pháp đầu tư tài chính như cho phép kêu gọi các quỹ ủy thác để huy động nguồn tài chính, lồng ghép, sử dụng kinh phí từ các chương trình mục tiêu, dự án phát triển hạ tầng lưu vực sông…

ThS. Nguyễn Thị Bảo Nga

Viện Nhà nước và Pháp luật


[1] “Ủy ban lưu vực sông có chức năng giám sát, điều phối hoạt động của các Bộ, ngành, địa phương liên quan trong việc thực hiện quy hoạch lưu vực sông; đề xuất ban hành các chính sách, kiến nghị các giải pháp về bảo vệ môi trường nước, khai thác, sử dụng và phát triển tài nguyên nước, phòng, chống và giảm thiểu tác hại do nước gây ra trên lưu vực sông” điểm a khoản 1 Điều 30 Nghị định số 120/2008/NĐ-CP.

[2] Xem thêm: Nguyễn Thượng Hiền – Nguyễn Thị Lệ Anh, Bảo vệ môi trường nước theo lưu vực sông: Bài học thực tiễn từ quá trình triển khai các đề án bảo vệ môi trường lưu vực sông, Tạp chí Môi trường, số 12/2013.

[3] Chịu trách nhiệm đối với lưu vực sông Hồng - Thái Bình, Bằng Giang, Kỳ Cùng, Tiên Yên, Ba Chẽ.

[4] Chịu trách nhiệm đối với hệ thống sông thuộc đồng bằng sông Cửu Long.

[5] Chịu trách nhiệm đối với 09 lưu vực sông Mã, Cả, Hương, Tống, Yên, Lạch Bạng, Gianh, Bến Hải và Ô Lâu

[6] chịu trách nhiệm đối với lưu vực sông Sê San và Sêrêpốk.

[7] Chịu trách nhiệm đối với 08 lưu vực sông Đồng Nai – Sài Gòn, Cạn, Trâu, Cái Phan Rang, Lũy, Cái Phan Thiết, Dinh, Đu Đủ, Ray.

[8] Giới thiệu về Ủy ban sông Mê Công Việt Nam, http://vnmc.gov.vn, truy cập ngày 12/6/2017.

[9] Xem thêm: Luận văn thạc sỹ: “Pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông ở Việt Nam” của Tiêu Hà, Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2010.

[10] Ví dụ như khi thủy điện xả lũ gây ra nhiều vấn đề ô nhiễm, suy thoái môi trường, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người dân có sinh kế phụ thuộc vào sông, cơ quan nào sẽ đứng ra chịu trách nhiệm giải quyết. Trong khi, trong lĩnh vực quản lý tài nguyên nước, Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông (trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường) chỉ chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về nước dưới góc độ tài nguyên, môi trường với chức năng quy hoạch về sử dụng, quản lý tổng hợp và bảo vệ tài nguyên nước ở các lưu vực sông chính; còn Ban quản lý quy hoạch lưu vực sông (thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) chỉ quản lý vật thể chứa nước (lưu vực sông), thực hiện chức năng rà soát, sửa đổi, bổ sung quy hoạch phát triển hệ thống tưới tiêu, rừng và nông nghiệp đặc biệt là cho các mục đích sử dụng nước trong tưới tiêu, cấp nước, phát triển thủy điện và nuôi trồng thủy sản. Xem thêm: https://baomoi.com/cuoc-song-cua-cu-dan-song-hong-sau-xa-lu-song-da/c/23146012.epi, truy cập ngày 12/4/2018.

[11] Điển hình như quản trị tại lưu vực sông Sê San và Srêpôk hiện nay rất nhiều vướng mắc. Bởi hai lưu vực sông này không chỉ là lưu vực sông liên tỉnh mà còn là lưu vực sông quốc tế và đang được quản lý theo pháp luật Việt Nam trên đoạn thượng lưu và theo pháp luật Campuchia ở đoạn hạ lưu. Chính vì những ảnh hưởng lợi ích và thể chế địa phương mà tình hình quản lý trên hai lưu vực sông Sê San và Sêrêpốk cũng trở lên phức tạp hơn. Xem thêm: Daniel Constable (2014), “Các lưu vực sông Sê San và Sêrêpốk”, Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế, tr. 4.

[12] Cơ quan thuỷ vụ lưu vực sông có đầy đủ quyền hạn và phạm vi quản lý lớn nhất (Mỹ, Úc). Đây là những tổ chức liên ngành lớn, tiếp nhận hầu hết các chức năng của các cơ quan hiện hữu, trong đó bao gồm tất cả chức năng điều hành và quản lý nước. Ủy hội lưu vực sông là mô hình thấp hơn cơ quan thuỷ vụ lưu vực sông về quyền hạn cũng như sức mạnh của tổ chức và ảnh hưởng của nó trong quản lý lưu vực sông. Ủy hội lưu vực sông liên quan chủ yếu đến xây dựng chính sách, lập quy hoạch phát triển lưu vực, xây dựng thủ tục và kiểm soát sử dụng nước. Hội đồng lưu vực sông là mô hình yếu hoặc có ít quyền lực nhất hiện nay. Hội đồng lưu vực sông hoạt động chỉ như là một diễn đàn mà tại đó cơ quan nhà nước, người dân chia sẻ trách nhiệm phân phối nước, thúc đẩy toàn diện quản lý nước tại cấp lưu vực. Các Hội đồng lưu vực sông thường hoạt động theo nguyên tắc đồng thuận.

Jonathan Lautze - Kai Wegerich - Jusipbek Kazbekov - Murat Yakubov (2013), International river basin organizations: variation, options and insights, Journal Water international, page 30-42.

[13] Điểm a khoản 1 Điều 30 Nghị định số 120/2008/NĐ-CP.

[14] Điều 34 – Điều 38 Nghị định số 20/2008/NĐ-CP.

[15] Điển hình là các Tổ chức quản lý lưu vực các sông lớn của Trung Quốc như sông Trường Giang, Hoàng Hà…

[16] Bùi Đức Hiển, “Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ môi trường nước theo lưu vực sông”, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, 2017.

[17] Danh mục lưu vực sông lớn được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị định số 120/NĐ-CP bao gồm các lưu vực sông Hồng, sông Thái Bình, sông Bằng Giang, sông Kỳ Cùng, sông Mã, sông Cả, sông Vũ Gia, sông Thu Bồn, sông Ba, sông Đồng Nai, sông Cửu Long (Mê Công).

[18] Danh mục lưu vực sông liên tỉnh được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 6 Nghị định số 120/NĐ-CP, bao gồm các lưu vực sông có diện tích lưu vực nằm trên địa bàn từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên.

[19] Ủy ban lưu vực sông lớn gồm đại diện lãnh đạo các Bộ, ngành liên quan, đại diện lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh của một số tỉnh có lãnh thổ nằm trong lưu vực sông, đại diện một số đơn vị quản lý công trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước có quy mô lớn (nếu có) do một Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường làm Chủ tịch Ủy ban.

Ủy ban lưu vực sông tỉnh hoặc Tiểu ban lưu vực sông liên tỉnh gồm đại diện lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh của các tỉnh có lãnh thổ nằm trong lưu vực sông, đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Bộ, ngành có liên quan khác và các đơn vị quản lý công trình bảo vệ, khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước có quy mô lớn (nếu có) trong lưu vực sông. Chủ tịch Ủy ban là một lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh do các tỉnh có lãnh thổ nằm trong lưu vực sông cử với nhiệm kỳ 02 năm theo chế độ luân phiên giữa các tỉnh.

[20] Chủ tịch Ủy ban lưu vực sông lớn là cấp Thứ trưởng của Bộ chuyên trách (tương tự như Ban quản lý quy hoạch lưu vực sông) hay Chủ tịch Ủy ban lưu vực sông liên tỉnh là một lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong lưu vực theo chế độ luân phiên (tương tự Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông).

[21] Ví dụ như các công ty, doanh nghiệp như thủy điện, thủy nông tham gia vấn đề quản lý vận hành liên hồ chứa của các công trình thủy điện trên cùng một dòng sông.

[22] Xem thêm: Bùi Đức Hiển, Pháp luật về sự tham gia của cộng đồng dân cư trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay, của, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8, năm 2017.

[23] Xuyên suốt các phiên bản Luật Môi trường, Nhà nước ta luôn khẳng định toàn dân đều có quyền tham gia bảo vệ môi trường. Xem thêm: Điều 6 Luật Bảo vệ môi trường năm 1993; khoản 2 Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005; khoản 1 Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2015.

[24] Ví dụ như Cục Quản lý tài nguyên nước là cơ quan tham mưu cho Bộ trưởng thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên nước lưu vực sông trên phạm vi toàn quốc. Xem thêm: Quyết định số 1035/QĐ-BTNMT ngày 19/5/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý tài nguyên nước.

[25] Để đảm bảo cho mục đích quản lý tài nguyên, xây dựng và bảo trì cơ sở hạ tầng và vận hành các tổ chức lưu vực sông được ổn định và lâu dài, kinh nghiệm quốc tế cho thấy thường trích nguồn tài chính từ thuế, phí, nguồn tự đầu tư của chủ cơ sở sản xuất, nguồn vốn tài trợ quốc tế dành cho bảo vệ môi trường; quỹ bảo vệ môi trường. Xem thêm: Charles L Abernethy (2001), “Financing River-Basin Organisations”, Intersectoral Management of River Basins, International Water Management Institute, page 121 – 135.

[26] Điều 42 Nghị định số 120/2008/NĐ-CP.

[27] Điển hình tại các tỉnh lưu vực sông Đồng Nai, từ lúc thực hiện đề án bảo vệ hệ thống sông Đồng Nai đến nay, các địa phương vẫn hầu như không bố trí được mục chi riêng cho các dự án, nhiệm vụ thuộc đề án, mà sử dụng nguồn chi chung của công tác bảo vệ môi trường. Theo báo cáo, nguồn đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường hầu hết đều bằng, hoặc hơn 1% chi ngân sách. Nhưng việc sử dụng nguồn ngân sách này lại chưa đúng sự nghiệp môi trường khi sử dụng kinh phí này cho đầu tư xây dựng, cải tạo hệ thống thoát nước đô thị, hoặc khu chôn lấp, xử lý chất thải rắn… Còn những tỉnh chi dưới 1% lại đều nằm ở thượng nguồn lưu vực sông, như: Bình Thuận, Bình Phước... Xem thêm: Lê Anh Tuấn, Từ quản lý sông Đồng Nai nhìn lại vai trò của các tổ chức lưu vực sông, https://www.thiennhien.net/2015/09/29/tu-quan-ly-song-dong-nai-nhin-lai-vai-tro-cua-cac-chuc-luu-vuc-song/, truy cập ngày 20/02/2018.

[28] Khoản chi này chủ yếu nằm trong ngân sách của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (đối với cấp trung ương) và Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (đối với cấp địa phương).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: