Thứ sáu 11/09/2026 14:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vướng mắc về trình tự, thủ tục đấu giá tài sản và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích một số vướng mắc, bất cập trong trình tự, thủ tục đấu giá tài sản, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm tháo gỡ những vướng mắc, bất cập đó.

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích một số vướng mắc, bất cập trong trình tự, thủ tục đấu giá tài sản, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm tháo gỡ những vướng mắc, bất cập đó.

Abstract: Within this article, the author analyzes some entanglements and shortcomings in the order and procedures of property auction and from that making a number of recommendations to remove such entanglements and shortcomings.

1. Một số vướng mắc về trình tự, thủ tục đấu giá trong Luật Đấu giá tài sản

Thứ nhất, vướng mắc trong việc lựa chọn tổ chức đấu giá

Căn cứ vào khoản 4 Điều 56 Luật Đấu giá tài sản thì người có tài sản phải thực hiện việc lựa chọn tổ chức đấu giá theo các tiêu chí như sau:

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết bảo đảm cho việc đấu giá đối với loại tài sản đấu giá;

- Phương án đấu giá khả thi, hiệu quả;

- Năng lực, kinh nghiệm và uy tín của tổ chức đấu giá tài sản;

- Thù lao dịch vụ đấu giá, chi phí đấu giá tài sản phù hợp;

- Có tên trong danh sách các tổ chức đấu giá tài sản do Bộ Tư pháp công bố;

- Các tiêu chí khác phù hợp với tài sản đấu giá do người có tài sản đấu giá quyết định.

Nhiều tổ chức đấu giá cho rằng, để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức đấu giá được cạnh tranh bình đẳng, ngoài các tiêu chí chung về lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản, Luật Đấu giá tài sản cần phải quy định cụ thể “các tiêu chí khác phù hợp với tài sản đấu giá do người có tài sản đấu giá quyết định” là những tiêu chí cụ thể gì. Ví dụ, cần quy định rõ tổ chức đấu giá tài sản có bao nhiêu năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực đấu giá tài sản; số lượng hợp đồng bán đấu giá loại tài sản tương tự đã từng thực hiện; giá bán chênh lệch cao nhất so với giá khởi điểm; số lượng đấu giá viên có kinh nghiệm… Tuy nhiên, trong thực tiễn thì người có tài sản hầu như chỉ quan tâm đến duy nhất mức thù lao mà tổ chức đấu giá đưa ra là bao nhiêu. Nhiều doanh nghiệp đấu giá tài sản nếu xét về bề dày kinh nghiệm và đội ngũ đấu giá viên thì không bằng các Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thuộc Sở Tư pháp nhưng đã đưa ra mức thù lao dịch vụ chỉ bằng 50% mức thù lao dịch vụ quy định, thậm chí là “0 đồng” để được người có tài sản lựa chọn. Vì vậy, có thể nói, khi người có tài sản đấu giá thực hiện quy định tại Điều 56 Luật Đấu giá tài sản có thể đã làm “điêu đứng” các Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản. Trong khi khung thù lao dịch vụ đấu giá được quy định cứng thì nhiều tổ chức đấu giá lại dùng khung thù lao để cạnh tranh không lành mạnh trong việc lựa chọn tổ chức đấu giá.

Thứ hai, những nội dung quy định trong Quy chế cuộc đấu giá còn chưa có bước giá

Tác giả cho rằng, bước giá là nội dung rất quan trọng trong việc tổ chức đấu giá tài sản, tuy nhiên, nội dung của Quy chế cuộc đấu giá tài sản lại không quy định bước giá. Trong khi đó, theo điểm đ khoản 1 Điều 41 Luật Đấu giá tài sản quy định về đấu giá trực tiếp bằng lời nói thì tại cuộc đấu giá, đấu giá viên thông báo bước giá là một thủ tục bắt buộc. Đối với đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá tại Điều 42 Luật Đấu giá tài sản, đấu giá viên cũng phải thông báo bước giá. Điều này dẫn đến sự mâu thuẫn trong quy trình đấu giá tài sản là Quy chế cuộc đấu giá tài sản không bắt buộc quy định bước giá thì tại cuộc đấu giá căn cứ vào đâu để thông báo bước giá?

Thứ ba, vướng mắc trong thủ tục thông báo đấu giá

Khoản 1 Điều 57 Luật Đấu giá tài sản quy định, “đối với tài sản đấu giá là động sản có giá khởi điểm từ năm mươi triệu đồng trở lên và bất động sản thì tổ chức đấu giá tài sản phải thông báo công khai ít nhất hai lần trên báo in hoặc báo hình của trung ương hoặc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản đấu giá và trang thông tin điện tử chuyên ngành về đấu giá tài sản; mỗi lần thông báo công khai cách nhau ít nhất 02 ngày làm việc”.

Thực tiễn cho thấy, các tổ chức đấu giá khi áp dụng quy định trên rất khác nhau và khó có thể kiểm soát việc đăng thông báo đấu giá của tổ chức đấu giá như thế nào là phù hợp. Do pháp luật chỉ quy định chung chung là đăng trên báo in, báo hình mà không quy định cụ thể là báo in nào, báo hình nào nên đã xảy ra những bất cập như: (i) Đăng trên nhiều báo khác nhau và thông tin rất khó đến được với khách hàng; (ii) Đăng thông báo bán đấu giá trên báo mua bán với chi chít các thông tin, ở đó, thông tin về đấu giá được in rất nhỏ, khách hàng khó có thể tìm được về thông tin bán tài sản; (iii) Đăng trên báo có lượng độc giả ít; (iv) Có tổ chức đấu giá lý luận rằng, pháp luật chỉ quy định là báo in mà không quy định cụ thể là báo nào nên đăng thông báo bán đấu giá trên bất kỳ báo in nào cũng được thậm chí là Báo Hoa học trò, Báo Nhi đồng và chỉ cần tiêu chí mỗi lần cách nhau ít nhất 02 ngày làm việc; (v) Việc đăng báo trên báo hình của trung ương cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự vì có quá nhiều kênh truyền hình, có tổ chức đăng thông báo đấu giá trên kênh học tiếng dân tộc cho người thiểu số, có tổ chức đăng thông báo trên các kênh truyền hình VOV, VTC nhưng ở những khung giờ rất ít người xem như 3 giờ sáng, 12 giờ đêm… để tiết kiệm chi phí hoặc với mục đích bưng bít thông tin, hạn chế khách hàng đăng ký tham gia đấu giá…

Việc thông báo bán đấu giá tài sản trên trang thông tin điện tử là một bước tiến lớn của Luật Đấu giá tài sản, bảo đảm tính công khai, minh bạch trong trình tự, thủ tục; là kênh thông tin về tài sản đấu giá cho phép các khách hàng có thể lựa chọn mua tài sản đấu giá ở mọi lúc, mọi nơi trong thời đại công nghệ thông tin. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có trang thông tin điện tử để các tổ chức đấu giá đăng tải thông báo về bán đấu giá, đã làm giảm tính chất công khai, minh bạch trong thủ tục đấu giá tài sản. Vì vậy, việc xây dựng và vận hành trang thông tin điện tử là vấn đề cần phải thực hiện ngay để đảm bảo hoạt động đấu giá tài sản công khai, minh bạch.

Thứ tư, bất cập trong việc xác định người trúng đấu giá

Trong quá trình thực hiện cho thấy có sự bất bình đẳng trong quy định của Luật Đấu giá tài sản về việc xác định người trúng đấu giá giữa hình thức đấu giá bằng lời nói và hình thức đấu giá bằng bỏ phiếu tại cuộc đấu giá.

Với hình thức đấu giá trực tiếp bằng lời nói tại cuộc đấu giá, Luật Đấu giá tài sản quy định rõ: “Người tham gia đấu giá trả giá. Giá trả phải ít nhất bằng giá khởi điểm trong trường hợp công khai giá khởi điểm” (điểm b khoản 2 Điều 41); “Đấu giá viên công bố người đã trả giá cao nhất là người trúng đấu giá sau khi nhắc lại ba lần giá trả cao nhất đã trả và cao hơn giá khởi điểm mà không có người trả giá cao hơn” (điểm d khoản 2 Điều 41), như vậy thì để xác định người trúng đấu giá bắt buộc phải là người trả giá cao hơn giá khởi điểm. Tuy nhiên, về đấu giá bằng hình thức bỏ phiếu, Luật Đấu giá tài sản (khoản 2 Điều 42) lại không quy định các khách hàng tham gia hình thức đấu giá này phải trả giá ít nhất bằng giá khởi điểm. Việc trả giá trong trường hợp đấu giá theo phương thức trả giá lên với hình thức bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá được thực hiện như sau: Đấu giá viên công bố giá cao nhất đã trả của vòng đấu giá đó và đề nghị người tham gia đấu giá tiếp tục trả giá cho vòng tiếp theo, giá khởi điểm của vòng đấu giá tiếp theo là giá cao nhất đã trả ở vòng đấu giá trước liền kề; cuộc đấu giá kết thúc khi không còn ai tham gia trả giá, đấu giá viên công bố người trả giá cao nhất và công bố người đó là người trúng đấu giá.

Tình huống thực tiễn: Doanh nghiệp đấu giá A tổ chức đấu giá tài sản thi hành án dân sự là chiếc ô tô với hình thức bỏ phiếu trực tiếp. Tại cuộc đấu giá có 05 khách hàng tham gia đấu giá. Ở vòng bỏ phiếu thứ nhất có 03 khách hàng đã trả giá thấp hơn giá khởi điểm, 02 khách hàng còn lại chỉ trả bằng giá khởi điểm. Đối với 03 khách hàng trả giá thấp hơn giá khởi điểm sẽ không bị vi phạm Luật Đấu giá tài sản. Đối với 02 khách hàng ở vòng bỏ phiếu thứ nhất chỉ trả bằng giá khởi điểm, sau đó, họ đã đề nghị không tiếp tục trả giá ở vòng thứ hai. Để xác định người trúng đấu giá, đấu giá viên yêu cầu họ đấu giá tiếp nhưng họ lại có quyền không đấu giá tiếp. Sau đó, để xác định người trúng đấu giá, đấu giá viên phải cho 02 khách hàng này bốc thăm để xác định người trúng đấu giá. Như vậy, tài sản thi hành án dân sự nêu trên chỉ được bán bằng giá khởi điểm, tạo cơ hội cho khách hàng thông đồng, dìm giá khi áp dụng hình thức đấu giá bỏ phiếu tại cuộc đấu giá.

Thứ năm, chưa thể áp dụng được hình thức đấu giá trực tuyến

Mặc dù Luật Đấu giá tài sản đã có quy định về hình thức đấu giá trực tuyến nhưng cho đến thời điểm hiện nay chưa có tổ chức đấu giá nào áp dụng được hình thức đấu giá trực tuyến. Việc đấu giá theo hình thức đấu giá trực tuyến là một trong những điểm tiến bộ của Luật Đấu giá tài sản, tuy nhiên, để triển khai áp dụng đòi hòi sự hỗ trợ từ phía cơ quan quản lý cũng như nguồn vốn đầu tư vào việc xây dựng hình thức đấu giá này chứ không chỉ đơn thuần là ghi nhận trong quy định của pháp luật.

Thứ sáu, thiếu căn cứ để áp dụng đấu giá tài sản thi hành án dân sự theo thủ tục rút gọn

Một trong những điểm mới của Luật Đấu giá tài sản so với những văn bản pháp luật về bán đấu giá tài sản trước đó là quy định đấu giá tài sản theo thủ tục rút gọn tại Điều 53:

“1. Tổ chức đấu giá tài sản và người có tài sản đấu giá thỏa thuận thực hiện việc đấu giá theo thủ tục rút gọn trong các trường hợp sau đây:

a) Đấu giá tài sản thi hành án dân sự, tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu mà giá khởi điểm của tất cả tài sản đấu giá trong một cuộc đấu giá dưới năm mươi triệu đồng;

b) Đấu giá lại trong trường hợp đã đấu giá lần thứ hai nhưng vẫn không thành;

c) Đấu giá tài sản quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật này trong trường hợp lựa chọn trình tự, thủ tục rút gọn”.

Việc đấu giá tài sản thi hành án dân sự là bất động sản được thực hiện khi có thỏa thuận giữa người có tài sản và tổ chức đấu giá tài sản, nhưng việc triển khai hiện nay đang có vướng mắc. Trước hết, trong quá trình thực hiện, chấp hành viên vẫn lo ngại do các văn bản pháp luật về thi hành án dân sự không có quy định dẫn chiếu để xác định chấp hành viên có quyền bán tài sản thi hành án dân sự là bất động sản theo thủ tục rút gọn tại Điều 53 Luật Đấu giá tài sản. Mặt khác, sau hai lần bán đấu giá không thành, nếu chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản thi hành án dân sự là bất động sản theo thủ tục đấu giá rút gọn sẽ bị vi phạm thời hạn bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự là bất động sản theo quy định tại Điều 101 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014): “Việc bán đấu giá đối với động sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng”. Đặc biệt, nếu thực hiện đấu giá tài sản thi hành án dân sự là bất động sản theo thủ tục rút gọn thì thời gian về quyền nhận lại tài sản của người phải thi hành án chỉ còn lại rất ít, thực tế thường là 04 ngày kể từ ngày ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản thay vì là 44 ngày theo thủ tục của pháp luật thi hành án dân sự. Do pháp luật về thi hành án dân sự chưa có quy định nào hướng dẫn về việc đấu giá tài sản thi hành án dân sự là bất động sản theo thủ tục rút gọn và Luật Đấu giá tài sản quy định việc đấu giá theo thủ tục rút gọn không phải là bắt buộc, chỉ là thỏa thuận của chấp hành viên và tổ chức đấu giá nên từ thời điểm Luật Đấu giá tài sản có hiệu lực, các chấp hành viên và tổ chức đấu giá rất ngại phải đấu giá tài sản theo thủ tục rút gọn. Điều này cho thấy, tiến trình đấu giá tài sản thi hành án dân sự là bất động sản vẫn chưa thể đẩy nhanh được dù cho Luật Đấu giá tài sản đã có quy định rút gọn thủ tục đấu giá đối với tài sản này.

2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trình tự, thủ tục đấu giá tài sản

Thứ nhất, bổ sung quy định về tiêu chí lựa chọn tổ chức đấu giá của người có tài sản đấu giá

Luật Đấu giá tài sản đã quy định cách thức và tiêu chí lựa chọn tổ chức đấu giá để thực hiện việc đấu giá và phần nào đã hạn chế được việc thông đồng, dìm giá tài sản giữa người có tài sản với một tổ chức đấu giá “thân thuộc”. Tuy nhiên, để bảo đảm thực hiện quy định này trên thực tế được khách quan, công khai, minh bạch hơn cần phải quy định rõ “những tiêu chí khác về việc thực hiện lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản”, chẳng hạn như: Tổ chức đấu giá tài sản có bao nhiêu năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực đấu giá tài sản; cơ sở vật chất bảo đảm được cho cuộc đấu giá có từ 10 đến 20 khách hàng tham gia đấu giá; số lượng hợp đồng bán đấu giá loại tài sản tương tự đã từng thực hiện; giá bán chênh lệch cao nhất so với giá khởi điểm; số lượng đấu giá viên có kinh nghiệm… Cần phải công khai kết quả lựa chọn tổ chức đấu giá và nghiêm cấm việc cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức đấu giá bằng việc lựa chọn tổ chức đấu giá đưa ra khung thù lao dịch vụ đấu giá thấp.

Thứ hai, bổ sung bước giá là một trong những nội dung cần phải có trong Quy chế cuộc đấu giá

Pháp luật về đấu giá tài sản không nên quy định cứng nội dung của Quy chế cuộc đấu giá mà chỉ quy định những nội dung cơ bản, bên cạnh đó tùy từng loại tài sản sẽ có quy định cần thiết khác. Thực tiễn cho thấy, Quy chế cuộc đấu giá không chỉ là văn bản để quy định về tài sản, thời gian, địa điểm xem tài sản, thời gian, địa điểm bán hồ sơ, cách thức đấu giá thông qua hình thức, phương thức đấu giá mà còn cần phải quy định các điều kiện cơ bản mà người trúng đấu giá phải thực hiện khi ký kết hợp đồng mua bán tài sản sau này. Xuất phát từ thực tiễn là tài sản đưa ra đấu giá rất đa dạng nên nếu đóng khung các nội dung như đã quy định trong Quy chế cuộc đấu giá sẽ không đảm bảo điều chỉnh được những nội dung phát sinh xuất phát từ đặc thù của loại tài sản đưa ra đấu giá. Từ đó, tác giả đề xuất sửa đổi khoản 2 Điều 34 Luật Đấu giá tài sản như sau: “Quy chế cuộc đấu giá bao gồm những nội dung chính sau đây:

a) Tên tài sản hoặc danh mục tài sản, số lượng, chất lượng của tài sản đấu giá; nơi có tài sản đấu giá; giấy tờ về quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản đấu giá;

b) Thời gian, địa điểm xem tài sản đấu giá;

c) Bước giá, phương thức, hình thức đấu giá...

k) Một số quy định khác nếu thấy cần thiết không trái quy định của Luật Đấu giá tài sản và pháp luật chuyên ngành có liên quan”.

Để bảo đảm không mâu thuẫn giữa điểm d khoản 1 Điều 41 Luật Đấu giá tài sản với Điều 42 Luật Đấu giá tài sản, tác giả đề nghị bổ sung quy định về bước giá trong Quy chế đấu giá tài sản và quy định về bước giá là một trong những nội dung bắt buộc trong Quy chế cuộc đấu giá.

Thứ ba, sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến thông báo đấu giá theo hướng chặt chẽ hơn

Pháp luật về đấu giá tài sản cần quy định về đăng thông báo trên một báo in chuyên trách về đấu giá thay cho việc đăng thông báo bán đấu giá trên tất cả các loại báo in hiện nay. Chúng ta đã có một báo riêng về hoạt động đấu thầu thì cũng cần phải xây dựng một báo riêng về hoạt động đấu giá. Bên cạnh đó, trong các kênh phát sóng của truyền hình cũng cần xây dựng chuyên mục về đấu giá tài sản và pháp luật về đấu giá cũng cần quy định việc đăng báo hình trên truyền hình trung ương phải đăng trong chuyên mục về đấu giá tài sản để khách hàng có thể nắm bắt được thông tin về đấu giá mọi loại tài sản. Bên cạnh đó, cần sớm xây dựng và vận hành trang thông tin điện tử chuyên ngành về đấu giá tài sản để bảo đảm tất cả các thông báo đấu giá được đăng tải công khai, minh bạch.

Thứ tư, sửa đổi quy định về cách thức xác định người trúng đấu giá đối với hình thức đấu giá bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá giống như cách thức xác định người trúng đấu giá đối với hình thức đấu giá trực tiếp bằng lời nói

Quy định hiện hành cho phép việc xác định người trúng đấu giá theo hình thức bỏ phiếu chỉ cần trả bằng giá khởi điểm, trong khi đó, khi áp dụng hình thức đấu giá bằng lời nói thì người trúng đấu giá chỉ trúng đấu giá khi trả cao hơn giá khởi điểm ít nhất 01 bước giá. Từ bất cập này mà quy định về đấu giá bằng hình thức bỏ phiếu phải sửa đổi. Theo đó, người trả giá từ vòng bỏ phiếu đầu tiên phải chấp nhận giá khởi điểm (trong trường hợp công bố công khai giá khởi điểm) và giá trúng đấu giá phải cao hơn giá khởi điểm thì mới đúng với nguyên tắc đấu giá lên. Như vậy, Điều 42 Luật Đấu giá tài sản cần phải được sửa đổi như sau: “Cuộc đấu giá kết thúc khi không còn ai tham gia trả giá. Đấu giá viên công bố người trả giá cao nhất và công bố người đó là người trúng đấu giá với điều kiện giá đã trả ít nhất phải cao hơn giá khởi điểm trong trường hợp công bố công khai giá khởi điểm”.

Thứ năm, cần có quy định cụ thể để khuyến khích các doanh nghiệp triển khai hình thức đấu giá trực tuyến

Cho tới thời điểm hiện nay, khi Luật Đấu giá tài sản đã có hiệu lực thi hành hơn 02 năm nhưng chưa có tổ chức đấu giá nào triển khai áp dụng được hình thức đấu giá trực tuyến vào hoạt động đấu giá tài sản. Lý giải nguyên nhân này là do việc đầu tư cơ sở vật chất để áp dụng mô hình hoạt động đấu giá trực tuyến rất lớn và các quy định về đấu giá trực tuyến còn khá sơ khai, mới mẻ, chủ yếu mang tính nguyên tắc. Ví dụ, khi khách hàng đăng ký tham gia đấu giá bằng hình thức đấu giá trực tuyến, tổ chức đấu giá sẽ thu phí tham gia đấu giá là bao nhiêu tiền? Nếu áp dụng mức thu phí như hiện hành theo Thông tư số 45/2017/TT-BTC ngày 12/5/2017 của Bộ Tài chính quy định khung thù lao dịch vụ bán đấu giá tài sản theo quy định tại Luật Bán đấu giá tài sản sẽ không thể phù hợp về chi phí để vận hành hình thức đấu giá này (hiện đại, hiệu quả nhưng chi phí rất lớn). Bên cạnh đó, trong các quy định của pháp luật hiện hành về đấu giá trực tuyến chưa có quy định nào tạo ra hành lang pháp lý khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng và áp dụng hình thức đấu giá trực tuyến. Đặc biệt, tiền hồ sơ tham gia đấu giá của khách hàng đăng ký tham gia đấu giá hiện nay lại thuộc về người có tài sản chứ không phải tổ chức đấu giá nên khi đầu tư hình thức đấu giá này, tổ chức đấu giá không biết sẽ thu hồi vốn đầu tư như thế nào. Tác giả thấy rằng, cần bổ sung quy định khuyến khích tổ chức đấu giá xây dựng và áp dụng hình thức đấu giá trực tuyến tại Chương III Nghị định số 62/2017/NĐ-CP ngày 16/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu giá tài sản như sau: “Khi triển khai hình thức đấu giá trực tuyến, tổ chức đấu giá được phép thu tiền đăng ký tham gia đấu giá của khách hàng để bảo đảm vận hành hệ thống đấu giá trực tuyến”.

Thứ sáu, bổ sung quy định trong pháp luật thi hành án dân sự về việc chấp hành viên phải bán tài sản thi hành án dân sự là bất động sản theo thủ tục rút gọn sau 02 lần bán đấu giá không thành

Một trong những điểm tiến bộ của Luật Đấu giá tài sản là quy định đấu giá tài sản theo thủ tục rút gọn. Thủ tục này tháo gỡ được bất cập trong đấu giá tài sản thi hành án dân sự trong trường hợp đấu giá nhiều lần không thành. Tuy nhiên, để quy định này được triển khai trên thực tế đòi hỏi pháp luật thi hành án dân sự phải có quy định để xác định cụ thể người có tài sản thi hành án dân sự là chủ thể nào trong trình tự, thủ tục đấu giá tài sản thi hành án dân sự. Như vậy, chấp hành viên mới có căn cứ để đấu giá tài sản theo thủ tục rút gọn. Để thực hiện quy định này thì pháp luật thi hành án dân sự cần quy định cụ thể như sau: “Sau 02 lần bán đấu giá không thành, đối với tài sản thi hành án dân sự là bất động sản, chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản theo thủ tục rút gọn tại Điều 53 Luật Đấu giá tài sản”.

TS. Lê Thị Hương Giang

Học viện Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: