Thứ tư 21/01/2026 01:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số ý kiến về ghi chú kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam

Trường hợp quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài mà việc đăng ký kết hôn được thực hiện trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì đương nhiên có giá trị pháp lý tại Việt Nam. Tuy nhiên, có những trường hợp công dân Việt Nam kết hôn với nhau hoặc kết hôn với người nước ngoài trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì quan hệ hôn nhân của họ không đương nhiên được công nhận ở Việt Nam, ghi chú kết hôn đặt ra trong những trường hợp như vậy. Khi đó, việc kết hôn sẽ được ghi chú vào sổ đăng ký kết hôn nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam mà không cần phải đăng ký lại ở Việt Nam.

Từ thực tiễn thi hành có thể thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã có những quy định phù hợp đảm bảo tính đồng bộ, khả thi, đồng thời, bảo đảm được tính phù hợp với pháp luật quốc tế, nhưng vẫn còn tồn tại những bất cập nhất định trong các quy định liên quan đến ghi chú kết hôn. Do đó, trong bài viết này, tác giả phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn, điều kiện ghi chú kết hôn để thấy được điểm hạn chế của các quy định này, từ đó đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện.

Theo khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, các quan hệ hôn nhân và gia đình được coi là quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài khi có một trong những dấu hiệu sau: (i) Chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình là người nước ngoài; (ii) Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân và gia đình xảy ra ở nước ngoài; (iii) Tài sản liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình ở nước ngoài; (iv) Nơi cư trú của các bên đương sự tham gia vào quan hệ hôn nhân và gia đình ở nước ngoài. Do đó, kết hôn có yếu tố nước ngoài được hiểu là việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài.

1. Đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài

Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài là Ủy ban nhân dân cấp huyện (Điều 37 Luật Hộ tịch năm 2014). Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam có quy định trường hợp ngoại lệ về thẩm quyền đăng ký kết hôn. Theo đó, Ủy ban nhân dân xã ở khu vực biên giới thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam thường trú tại địa bàn xã đó với công dân của nước láng giềng thường trú tại đơn vị hành chính tương đương cấp xã của Việt Nam tiếp giáp với xã ở khu vực biên giới của Việt Nam nơi công dân Việt Nam thường trú (Điều 18 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch (Nghị định số 123/2015/NĐ-CP)). Ngoài ra, theo quy định tại Điều 53 Luật Hộ tịch năm 2014 thì cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài cũng có thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài cho công dân Việt Nam cư trú tại nước ngoài nếu việc đăng ký đó không trái pháp luật của nước tiếp nhận và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Để giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài, theo quy định tại Điều 126 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài (bao gồm công dân nước ngoài, người không quốc tịch) thì luật áp dụng để xác định điều kiện kết hôn của công dân Việt Nam là luật Việt Nam, đối với công dân nước ngoài thì luật được áp dụng là luật của nước mà người đó mang quốc tịch (trong trường hợp người nước ngoài có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài thì giấy tờ xác định điều kiện kết hôn của họ sẽ tuân theo luật của nước mà họ có quốc tịch và cư trú vào thời điểm đăng ký kết hôn; nếu người nước ngoài không cư trú ở một trong những nước mà họ có quốc tịch thì giấy tờ xác định điều kiện kết hôn của họ sẽ do cơ quan có thẩm quyền của nước họ mang hộ chiếu cấp. Đối với người không quốc tịch muốn kết hôn với công dân Việt Nam và đăng ký kết hôn trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì giấy tờ sử dụng trong việc đăng ký kết hôn là giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó thường trú cấp. Đối với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, giấy tờ sử dụng trong việc đăng ký kết hôn là giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người đó định cư cấp hoặc cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của Việt Nam ở nước đó cấp). Trong trường hợp đăng ký kết hôn tại Việt Nam thì người nước ngoài vừa phải tuân theo quy định của nước mà họ mang quốc tịch về điều kiện kết hôn, vừa phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn.

Trong trường hợp người nước ngoài thường trú tại Việt Nam kết hôn với nhau tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì luật được áp dụng để xác định điều kiện kết hôn của họ là Luật Hôn nhân và gia đình của Việt Nam. Tức là, trong trường hợp họ đăng ký kết hôn ở Việt Nam thì quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam sẽ được áp dụng để xác định điều kiện kết hôn của họ mà không cần quan tâm đến luật quốc tịch của họ. Nếu họ đáp ứng đủ điều kiện kết hôn và không vi phạm pháp luật Việt Nam về các trường hợp cấm kết hôn thì cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam sẽ làm thủ tục đăng ký kết hôn cho họ.

Do đó, trong trường hợp đăng ký kết hôn trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài đó đương nhiên có giá trị pháp lý tại Việt Nam.

Tuy nhiên, có những trường hợp công dân Việt Nam không đăng ký kết hôn ở Việt Nam hoặc trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam ở nước ngoài mà lại kết hôn trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì quan hệ hôn nhân của họ không đương nhiên được công nhận ở Việt Nam, ghi chú kết hôn đặt ra trong những trường hợp như vậy.

2. Ghi chú kết hôn

Theo quy định tại Điều 34 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, trong trường hợp công dân Việt Nam đăng ký kết hôn với nhau hoặc với người nước ngoài, để quan hệ hôn nhân đó được công nhận tại Việt Nam thì các bên không cần phải đăng ký kết hôn lại ở Việt Nam mà chỉ cần ghi chú kết hôn. Theo đó, pháp luật Việt Nam quy định phải ghi vào sổ hộ tịch việc kết hôn thì quan hệ hôn nhân đó mới được thừa nhận ở Việt Nam. Điều kiện để được ghi vào sổ hộ tịch như sau: Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài được ghi vào sổ hộ tịch nếu tại thời điểm kết hôn, các bên đáp ứng đủ điều kiện kết hôn và không vi phạm điều cấm theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Về điều kiện kết hôn, pháp luật Việt Nam quy định: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định; không bị mất năng lực hành vi dân sự; việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn (khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Các trường hợp cấm kết hôn được quy định cụ thể tại các điểm a, b, c, d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Ngoài ra, khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 còn quy định “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”. Hôn nhân đồng giới là hôn nhân giữa hai người có cùng giới tính sinh học.

So với quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có quy định mới. Nếu như luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 tại khoản 5 Điều 10 quy định: “Cấm kết hôn giữa những người có cùng giới tính” thì luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chỉ quy định “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”. Với quy định này được hiểu là Nhà nước vẫn tiếp tục không thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa những người có cùng giới tính nhưng không cấm việc chung sống giữa họ với nhau[1]. Theo đó, Nhà nước sẽ vẫn không công nhận hôn nhân đồng tính nhưng vẫn sẽ giải quyết hậu quả của việc chung sống giữa họ nếu có phát sinh mâu thuẫn. Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không cấm mà chỉ không thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa những người có cùng giới tính.

Như vậy, việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài chỉ được ghi vào sổ hộ tịch nếu tại thời điểm kết hôn cả hai bên đáp ứng đủ điều kiện kết hôn và không vi phạm điều cấm theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam. Cơ quan có thẩm quyền sẽ từ chối ghi chú vào sổ đăng ký kết hôn nếu một hoặc cả hai bên vi phạm điều cấm hoặc không đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Điều 33 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP).

Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam cũng quy định trường hợp ngoại lệ: Nếu vào thời điểm đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, việc kết hôn không đáp ứng điều kiện kết hôn, nhưng không vi phạm điều cấm theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, mà vào thời điểm yêu cầu ghi vào sổ hộ tịch việc kết hôn, hậu quả đã được khắc phục hoặc việc ghi chú kết hôn là nhằm bảo vệ quyền lợi của công dân Việt Nam và trẻ em, thì việc kết hôn cũng được ghi vào sổ hộ tịch (Điều 34 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP).

So sánh với quy định tại Điều 36 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình[2] thì: Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài được công nhận tại Việt Nam nếu các bên vi phạm pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn, nhưng vào thời điểm yêu cầu công nhận việc kết hôn, hậu quả của vi phạm đó đã được khắc phục hoặc việc công nhận kết hôn là có lợi để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em thì việc kết hôn đó cũng được công nhận tại Việt Nam. Theo đó, trường hợp điều kiện kết hôn ở đây bao gồm cả điều kiện kết hôn và những trường hợp cấm kết hôn. Do đó, nếu các bên vi phạm điều cấm kết hôn thì quan hệ hôn nhân đó vẫn được công nhận tại Việt Nam khi rơi vào trường hợp hậu quả của vi phạm đó đã được khắc phục hoặc việc công nhận kết hôn là có lợi để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em.

Như vậy, theo quy định tại Điều 34 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP thì nếu vào thời điểm đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, việc kết hôn không đáp ứng điều kiện kết hôn, nhưng không vi phạm điều cấm theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, mà vào thời điểm yêu cầu ghi vào sổ hộ tịch việc kết hôn, hậu quả đã được khắc phục hoặc việc ghi chú kết hôn là nhằm bảo vệ quyền lợi của công dân Việt Nam và trẻ em, thì việc kết hôn cũng được ghi vào sổ hộ tịch. Còn trong trường hợp vào thời điểm đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, việc kết hôn vi phạm điều cấm kết hôn thì sẽ không được ghi chú vào sổ đăng ký kết hôn.

Một vấn đề đặt ra là, trường hợp công dân Việt Nam đăng ký kết hôn với công dân Việt Nam hoặc công dân Việt Nam đăng ký kết hôn với người nước ngoài trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà họ lại là các cặp có cùng giới tính. Theo luật của nước đó thì cho phép kết hôn giữa những người có cùng giới tính như vậy họ có đủ điều kiện để đăng ký kết hôn tại nước ngoài đó và quan hệ hôn nhân của họ sẽ có giá trị trị pháp lý. Sau đó, họ về Việt Nam xin ghi chú kết hôn, nếu theo quy định của pháp luật Việt Nam thì họ không được vi phạm pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn thì mới được ghi chú. Tuy nhiên, nếu chỉ vi phạm điều kiện kết hôn mà không vi phạm điềm cấm kết hôn mà hậu quả đã được khắc phục hoặc bảo vệ quyền lợi của công dân Việt Nam và trẻ em thì vẫn ghi chú. Trường hợp “không thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa những người có cùng giới tính” là điều kiện kết hôn chứ không phải điều cấm. Do đó, họ chỉ vi phạm điều kiện kết hôn mà không vi phạm điều cấm thì chỉ cần hậu quả đã được khắc phục hoặc để bảo vệ quyền lợi cho công dân Việt Nam và trẻ em thì trong trường hợp này cơ quan có thẩm quyền có ghi chú kết hôn hay không? Trong trường hợp như vậy, nếu không ghi chú kết hôn thì căn cứ vào đâu cơ quan có thẩm quyền có thể từ chối ghi chú, vấn đề này chưa có quy định cụ thể.

Ngoài ra, pháp luật Việt Nam cũng có quy định, nếu thuộc các trường hợp sau thì việc ghi vào sổ việc kết hôn bị từ chối: (i) Việc kết hôn vi phạm điều cấm theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; (ii) Công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự nước ngoài tại Việt Nam (khoản 1 Điều 36 Nghị định 123/2015/NĐ-CP).

Tóm lại, với những quy định vừa mang tính chất kế thừa vừa mang tính mới về kết hôn có yếu tố nước ngoài cho thấy pháp luật Việt Nam đã có những quy định phù hợp đảm bảo tính đồng bộ, khả thi của Luật Hôn nhân và gia đình với các văn bản có liên quan, đồng thời, bảo đảm được tính phù hợp của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế. Quy định không cấm nhưng cũng không thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa những người có cùng giới tính sẽ tạo ra những bất cập từ thực tiễn hiện nay. Do đó, khi sửa đổi các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, thiết nghĩ, trong tương lai, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần tính đến các vấn đề có thể nảy sinh từ các quy định này và nên thừa nhận quan hệ hôn nhân đồng giới và cho phép ghi chú kết hôn đối với những trường hợp đó khi họ xin ghi chú vào sổ hộ tịch. Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Hộ tịch chưa thể sửa đổi được ngay nên cần có hướng dẫn cụ thể về trường hợp ghi chú kết hôn trong trường hợp công dân Việt Nam kết hôn với nhau hoặc với người nước ngoài trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn trong trường hợp họ có cùng giới tính và vẫn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành là không cấm nhưng cũng không thừa nhận, do đó, sẽ chỉ cho phép ghi chú vào sổ hộ tịch nếu họ vi phạm điều kiện kết hôn khi hậu quả đã được khắc phục… trừ quy định tại khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

TS. Vũ Thị Hương
Trường Đại học Luật, Đại học Huế



[1]. Năm 2019, trong số 220 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, đã có 28 quốc gia/vùng lãnh thổ chính thức công nhận hôn nhân đồng giới. Có hơn 80 quốc gia/vùng lãnh thổ coi hành vi đồng tính luyến ái là tội phạm, một số còn áp dụng hình phạt tử hình đối với những người có hành vi đồng tính luyến ái. Số quốc gia/vùng lãnh thổ còn lại có chính sách trung dung, không coi đồng tính luyến ái là bất hợp pháp nhưng cũng không công nhận hôn nhân đồng tính.

[2]. Nghị định này đã hết hiệu lực một phần từ ngày 01/01/2016 do bị bãi bỏ, sửa đổi bởi Nghị định số 123/2015/NĐ-CP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: