Thứ sáu 10/04/2026 19:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số ý kiến về ghi chú kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam

Trường hợp quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài mà việc đăng ký kết hôn được thực hiện trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì đương nhiên có giá trị pháp lý tại Việt Nam. Tuy nhiên, có những trường hợp công dân Việt Nam kết hôn với nhau hoặc kết hôn với người nước ngoài trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì quan hệ hôn nhân của họ không đương nhiên được công nhận ở Việt Nam, ghi chú kết hôn đặt ra trong những trường hợp như vậy. Khi đó, việc kết hôn sẽ được ghi chú vào sổ đăng ký kết hôn nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam mà không cần phải đăng ký lại ở Việt Nam.

Từ thực tiễn thi hành có thể thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã có những quy định phù hợp đảm bảo tính đồng bộ, khả thi, đồng thời, bảo đảm được tính phù hợp với pháp luật quốc tế, nhưng vẫn còn tồn tại những bất cập nhất định trong các quy định liên quan đến ghi chú kết hôn. Do đó, trong bài viết này, tác giả phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn, điều kiện ghi chú kết hôn để thấy được điểm hạn chế của các quy định này, từ đó đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện.

Theo khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, các quan hệ hôn nhân và gia đình được coi là quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài khi có một trong những dấu hiệu sau: (i) Chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình là người nước ngoài; (ii) Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân và gia đình xảy ra ở nước ngoài; (iii) Tài sản liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình ở nước ngoài; (iv) Nơi cư trú của các bên đương sự tham gia vào quan hệ hôn nhân và gia đình ở nước ngoài. Do đó, kết hôn có yếu tố nước ngoài được hiểu là việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài.

1. Đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài

Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài là Ủy ban nhân dân cấp huyện (Điều 37 Luật Hộ tịch năm 2014). Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam có quy định trường hợp ngoại lệ về thẩm quyền đăng ký kết hôn. Theo đó, Ủy ban nhân dân xã ở khu vực biên giới thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam thường trú tại địa bàn xã đó với công dân của nước láng giềng thường trú tại đơn vị hành chính tương đương cấp xã của Việt Nam tiếp giáp với xã ở khu vực biên giới của Việt Nam nơi công dân Việt Nam thường trú (Điều 18 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch (Nghị định số 123/2015/NĐ-CP)). Ngoài ra, theo quy định tại Điều 53 Luật Hộ tịch năm 2014 thì cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài cũng có thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài cho công dân Việt Nam cư trú tại nước ngoài nếu việc đăng ký đó không trái pháp luật của nước tiếp nhận và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Để giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài, theo quy định tại Điều 126 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài (bao gồm công dân nước ngoài, người không quốc tịch) thì luật áp dụng để xác định điều kiện kết hôn của công dân Việt Nam là luật Việt Nam, đối với công dân nước ngoài thì luật được áp dụng là luật của nước mà người đó mang quốc tịch (trong trường hợp người nước ngoài có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài thì giấy tờ xác định điều kiện kết hôn của họ sẽ tuân theo luật của nước mà họ có quốc tịch và cư trú vào thời điểm đăng ký kết hôn; nếu người nước ngoài không cư trú ở một trong những nước mà họ có quốc tịch thì giấy tờ xác định điều kiện kết hôn của họ sẽ do cơ quan có thẩm quyền của nước họ mang hộ chiếu cấp. Đối với người không quốc tịch muốn kết hôn với công dân Việt Nam và đăng ký kết hôn trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì giấy tờ sử dụng trong việc đăng ký kết hôn là giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó thường trú cấp. Đối với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, giấy tờ sử dụng trong việc đăng ký kết hôn là giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người đó định cư cấp hoặc cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của Việt Nam ở nước đó cấp). Trong trường hợp đăng ký kết hôn tại Việt Nam thì người nước ngoài vừa phải tuân theo quy định của nước mà họ mang quốc tịch về điều kiện kết hôn, vừa phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn.

Trong trường hợp người nước ngoài thường trú tại Việt Nam kết hôn với nhau tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì luật được áp dụng để xác định điều kiện kết hôn của họ là Luật Hôn nhân và gia đình của Việt Nam. Tức là, trong trường hợp họ đăng ký kết hôn ở Việt Nam thì quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam sẽ được áp dụng để xác định điều kiện kết hôn của họ mà không cần quan tâm đến luật quốc tịch của họ. Nếu họ đáp ứng đủ điều kiện kết hôn và không vi phạm pháp luật Việt Nam về các trường hợp cấm kết hôn thì cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam sẽ làm thủ tục đăng ký kết hôn cho họ.

Do đó, trong trường hợp đăng ký kết hôn trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài đó đương nhiên có giá trị pháp lý tại Việt Nam.

Tuy nhiên, có những trường hợp công dân Việt Nam không đăng ký kết hôn ở Việt Nam hoặc trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam ở nước ngoài mà lại kết hôn trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì quan hệ hôn nhân của họ không đương nhiên được công nhận ở Việt Nam, ghi chú kết hôn đặt ra trong những trường hợp như vậy.

2. Ghi chú kết hôn

Theo quy định tại Điều 34 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, trong trường hợp công dân Việt Nam đăng ký kết hôn với nhau hoặc với người nước ngoài, để quan hệ hôn nhân đó được công nhận tại Việt Nam thì các bên không cần phải đăng ký kết hôn lại ở Việt Nam mà chỉ cần ghi chú kết hôn. Theo đó, pháp luật Việt Nam quy định phải ghi vào sổ hộ tịch việc kết hôn thì quan hệ hôn nhân đó mới được thừa nhận ở Việt Nam. Điều kiện để được ghi vào sổ hộ tịch như sau: Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài được ghi vào sổ hộ tịch nếu tại thời điểm kết hôn, các bên đáp ứng đủ điều kiện kết hôn và không vi phạm điều cấm theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Về điều kiện kết hôn, pháp luật Việt Nam quy định: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định; không bị mất năng lực hành vi dân sự; việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn (khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Các trường hợp cấm kết hôn được quy định cụ thể tại các điểm a, b, c, d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Ngoài ra, khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 còn quy định “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”. Hôn nhân đồng giới là hôn nhân giữa hai người có cùng giới tính sinh học.

So với quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có quy định mới. Nếu như luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 tại khoản 5 Điều 10 quy định: “Cấm kết hôn giữa những người có cùng giới tính” thì luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chỉ quy định “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”. Với quy định này được hiểu là Nhà nước vẫn tiếp tục không thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa những người có cùng giới tính nhưng không cấm việc chung sống giữa họ với nhau[1]. Theo đó, Nhà nước sẽ vẫn không công nhận hôn nhân đồng tính nhưng vẫn sẽ giải quyết hậu quả của việc chung sống giữa họ nếu có phát sinh mâu thuẫn. Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không cấm mà chỉ không thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa những người có cùng giới tính.

Như vậy, việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài chỉ được ghi vào sổ hộ tịch nếu tại thời điểm kết hôn cả hai bên đáp ứng đủ điều kiện kết hôn và không vi phạm điều cấm theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam. Cơ quan có thẩm quyền sẽ từ chối ghi chú vào sổ đăng ký kết hôn nếu một hoặc cả hai bên vi phạm điều cấm hoặc không đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Điều 33 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP).

Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam cũng quy định trường hợp ngoại lệ: Nếu vào thời điểm đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, việc kết hôn không đáp ứng điều kiện kết hôn, nhưng không vi phạm điều cấm theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, mà vào thời điểm yêu cầu ghi vào sổ hộ tịch việc kết hôn, hậu quả đã được khắc phục hoặc việc ghi chú kết hôn là nhằm bảo vệ quyền lợi của công dân Việt Nam và trẻ em, thì việc kết hôn cũng được ghi vào sổ hộ tịch (Điều 34 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP).

So sánh với quy định tại Điều 36 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình[2] thì: Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài được công nhận tại Việt Nam nếu các bên vi phạm pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn, nhưng vào thời điểm yêu cầu công nhận việc kết hôn, hậu quả của vi phạm đó đã được khắc phục hoặc việc công nhận kết hôn là có lợi để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em thì việc kết hôn đó cũng được công nhận tại Việt Nam. Theo đó, trường hợp điều kiện kết hôn ở đây bao gồm cả điều kiện kết hôn và những trường hợp cấm kết hôn. Do đó, nếu các bên vi phạm điều cấm kết hôn thì quan hệ hôn nhân đó vẫn được công nhận tại Việt Nam khi rơi vào trường hợp hậu quả của vi phạm đó đã được khắc phục hoặc việc công nhận kết hôn là có lợi để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em.

Như vậy, theo quy định tại Điều 34 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP thì nếu vào thời điểm đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, việc kết hôn không đáp ứng điều kiện kết hôn, nhưng không vi phạm điều cấm theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, mà vào thời điểm yêu cầu ghi vào sổ hộ tịch việc kết hôn, hậu quả đã được khắc phục hoặc việc ghi chú kết hôn là nhằm bảo vệ quyền lợi của công dân Việt Nam và trẻ em, thì việc kết hôn cũng được ghi vào sổ hộ tịch. Còn trong trường hợp vào thời điểm đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, việc kết hôn vi phạm điều cấm kết hôn thì sẽ không được ghi chú vào sổ đăng ký kết hôn.

Một vấn đề đặt ra là, trường hợp công dân Việt Nam đăng ký kết hôn với công dân Việt Nam hoặc công dân Việt Nam đăng ký kết hôn với người nước ngoài trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà họ lại là các cặp có cùng giới tính. Theo luật của nước đó thì cho phép kết hôn giữa những người có cùng giới tính như vậy họ có đủ điều kiện để đăng ký kết hôn tại nước ngoài đó và quan hệ hôn nhân của họ sẽ có giá trị trị pháp lý. Sau đó, họ về Việt Nam xin ghi chú kết hôn, nếu theo quy định của pháp luật Việt Nam thì họ không được vi phạm pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn thì mới được ghi chú. Tuy nhiên, nếu chỉ vi phạm điều kiện kết hôn mà không vi phạm điềm cấm kết hôn mà hậu quả đã được khắc phục hoặc bảo vệ quyền lợi của công dân Việt Nam và trẻ em thì vẫn ghi chú. Trường hợp “không thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa những người có cùng giới tính” là điều kiện kết hôn chứ không phải điều cấm. Do đó, họ chỉ vi phạm điều kiện kết hôn mà không vi phạm điều cấm thì chỉ cần hậu quả đã được khắc phục hoặc để bảo vệ quyền lợi cho công dân Việt Nam và trẻ em thì trong trường hợp này cơ quan có thẩm quyền có ghi chú kết hôn hay không? Trong trường hợp như vậy, nếu không ghi chú kết hôn thì căn cứ vào đâu cơ quan có thẩm quyền có thể từ chối ghi chú, vấn đề này chưa có quy định cụ thể.

Ngoài ra, pháp luật Việt Nam cũng có quy định, nếu thuộc các trường hợp sau thì việc ghi vào sổ việc kết hôn bị từ chối: (i) Việc kết hôn vi phạm điều cấm theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; (ii) Công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự nước ngoài tại Việt Nam (khoản 1 Điều 36 Nghị định 123/2015/NĐ-CP).

Tóm lại, với những quy định vừa mang tính chất kế thừa vừa mang tính mới về kết hôn có yếu tố nước ngoài cho thấy pháp luật Việt Nam đã có những quy định phù hợp đảm bảo tính đồng bộ, khả thi của Luật Hôn nhân và gia đình với các văn bản có liên quan, đồng thời, bảo đảm được tính phù hợp của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế. Quy định không cấm nhưng cũng không thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa những người có cùng giới tính sẽ tạo ra những bất cập từ thực tiễn hiện nay. Do đó, khi sửa đổi các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, thiết nghĩ, trong tương lai, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần tính đến các vấn đề có thể nảy sinh từ các quy định này và nên thừa nhận quan hệ hôn nhân đồng giới và cho phép ghi chú kết hôn đối với những trường hợp đó khi họ xin ghi chú vào sổ hộ tịch. Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Hộ tịch chưa thể sửa đổi được ngay nên cần có hướng dẫn cụ thể về trường hợp ghi chú kết hôn trong trường hợp công dân Việt Nam kết hôn với nhau hoặc với người nước ngoài trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn trong trường hợp họ có cùng giới tính và vẫn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành là không cấm nhưng cũng không thừa nhận, do đó, sẽ chỉ cho phép ghi chú vào sổ hộ tịch nếu họ vi phạm điều kiện kết hôn khi hậu quả đã được khắc phục… trừ quy định tại khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

TS. Vũ Thị Hương
Trường Đại học Luật, Đại học Huế



[1]. Năm 2019, trong số 220 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, đã có 28 quốc gia/vùng lãnh thổ chính thức công nhận hôn nhân đồng giới. Có hơn 80 quốc gia/vùng lãnh thổ coi hành vi đồng tính luyến ái là tội phạm, một số còn áp dụng hình phạt tử hình đối với những người có hành vi đồng tính luyến ái. Số quốc gia/vùng lãnh thổ còn lại có chính sách trung dung, không coi đồng tính luyến ái là bất hợp pháp nhưng cũng không công nhận hôn nhân đồng tính.

[2]. Nghị định này đã hết hiệu lực một phần từ ngày 01/01/2016 do bị bãi bỏ, sửa đổi bởi Nghị định số 123/2015/NĐ-CP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.

Theo dõi chúng tôi trên: