Thứ tư 18/03/2026 16:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân

Bài 2: Từ lời Bác đến chủ trương, chính sách trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

Tham nhũng là biểu hiện của sự tha hóa quyền lực, khi quyền lực công bị lợi ích nhóm chi phối, phản bội sứ mệnh công bộc và nguyên lý của Nhà nước pháp quyền. Suốt 80 năm qua, từ tư tưởng Hồ Chí Minh đến đường lối của Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực luôn là nhiệm vụ trọng yếu. Ba thập kỷ gần đây, pháp luật về lĩnh vực này đã chuyển từ bị động sang chủ động, từ “chống là chính” sang “phòng là gốc”, mở rộng từ khu vực công sang khu vực ngoài Nhà nước. Pháp luật ngày càng trở thành công cụ sắc bén, thể hiện bản lĩnh chính trị và tư duy pháp lý tiến bộ của Đảng, Nhà nước vì một nền công vụ liêm chính và phát triển bền vững.

Tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

Ngay từ thời kỳ đầu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề “chống giặc nội xâm”, coi tham ô, lãng phí, quan liêu là những “kẻ thù nguy hiểm”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, chí công vô tư, cần - kiệm - liêm - chính là kim chỉ nam cho cán bộ, đảng viên. Dù chưa có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, nhưng tinh thần “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”[1], xây dựng Đảng trong sạch đã trở thành phương châm hành động của hệ thống chính trị.

Từ những ngày đầu giành được độc lập, trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” (tỉnh Nghệ An, ngày 17/9/1945), Bác viết: “Cán bộ ta nhiều người “cúc cung tận tụy”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành, độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư”[2].

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Người thăm lại ngôi nhà quê nội ở làng Sen, xã Kim Liên, tỉnh Nghệ An (12-1961). Nguồn: Ảnh tư liệu

Sau Đổi mới, trong bối cảnh đất nước bước đầu chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nguy cơ tham nhũng, tiêu cực gia tăng. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) lần đầu tiên đặt ra yêu cầu xây dựng pháp luật về chống tham nhũng. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996) nhấn mạnh “đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, nhất là tham nhũng, lãng phí” là nhiệm vụ cấp bách. Đảng tiếp tục cụ thể hóa chủ trương phòng chống tham nhũng qua nhiều văn kiện, tiêu biểu như: Nghị quyết số 04/NQ-TW ngày 21/8/2006 của Hội nghị Trung ương 3 khóa X (năm 2006) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Đặc biệt, Quyết định số 162-QĐ/TW ngày 01/02/2013 của Bộ Chính trị.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (2016), nhận thức toàn diện, hành động quyết liệt về phòng chống tham nhũng đã chuyển biến căn bản: Tham nhũng, tiêu cực được nhìn nhận là nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII với chủ trương mạnh mẽ “ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”; coi tự diễn biến, tự chuyển hóa, lợi ích nhóm là căn nguyên gốc rễ của tham nhũng[3].

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (Nguồn: Ảnh tư liệu)

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng[4] xác định Cần triển khai đồng bộ, hiệu quả các quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng, nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng và thực hiện nghiêm minh, quyết liệt cuộc đấu tranh này. Đặc biệt, Đảng nhấn mạnh yêu cầu phòng ngừa là trọng tâm, thông qua việc xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực, răn đe tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cùng với kiểm soát chặt chẽ việc kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, nhất là người có chức vụ, quyền hạn. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cũng đề ra chủ trương phát huy vai trò giám sát xã hội, huy động sức mạnh tổng hợp của báo chí, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp và Nhân dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Hành trình thể chế hóa cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

Sự ra đời của Sắc lệnh số 64-SL ngày 23/11/1945 thành lập Ban Thanh tra đặc biệt. Sắc lệnh gồm 08 điều, nêu rõ Chính phủ sẽ lập ngay Ban Thanh tra đặc biệt, có ủy nhiệm là đi giám sát tất cả công việc và các nhân viên của Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ; sẽ thiết lập ngay tại Hà Nội một Tòa án đặc biệt để xử những nhân viên của các Ủy ban nhân dân hay các cơ quan của Chính phủ do Ban thanh tra truy tố. Toà án đặc biệt có toàn quyền định ấn, có thể tuyên án tử hình[5].

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân

Ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 64-SL thành lập Ban Thanh tra Đặc biệt - là văn kiện mang tính pháp lý về công tác thanh tra cũng như xây dựng hệ thống pháp luật về ngành Thanh tra Việt Nam (Nguồn: Ảnh tư liệu)

Mặc dù không được quy định trực tiếp như các văn bản pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước, về quyền con người, quyền công dân, nhưng phòng, chống tham nhũng luôn được xác định là một nhiệm vụ quan trọng, gắn với quá trình thực hiện các nhiệm vụ chính trị khác nhau. Ngay từ những năm 1960, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp lý thể hiện rõ quyết tâm chống tham nhũng, tiêu cực như: Quyết định số 207/CP ngày 06/12/1962 của Hội đồng Chính phủ về việc thành lập Ban chỉ đạo Trung ương cuộc vận động “Nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế, tài chính, chống tham ô, lãng phí, quan liêu”; Chỉ thị số 84-TTg/3X ngày 09/9/1964 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổng hợp tình hình tham ô, lãng phí, quan liêu.

Đặc biệt, Pháp lệnh số 149-LCT ngày 21/10/1970 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, đã đặt nền tảng pháp lý cho việc xử lý các hành vi tham nhũng. Trong đó, Điều 8 quy định cụ thể về tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa. Ngày 20/5/1981, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ gồm 13 điều, trong đó quy định rõ tội hối lộ bao gồm: Nhận hối lộ, đưa hối lộ và môi giới hối lộ với mức phạt tù khá cao. Pháp lệnh nêu “Để góp phần bảo đảm chấp hành nghiêm chỉnh các chính sách và pháp luật, tăng cường quản lý Nhà nước; khuyến khích cán bộ, nhân viên nêu cao đức tính liêm khiết; động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ tập thể, tích cực đấu tranh chống tệ hối lộ”.

Ngay từ giai đoạn đầu sau Đổi mới, các văn bản pháp luật về phòng, chống tham nhũng được ban hành thể hiện chủ trương phòng, chống tham nhũng với buôn lậu, lãng phí, thất thoát trong xây dựng cơ bản[6]. Ngày 26/02/1998, Pháp lệnh Chống tham nhũng được ban hành là văn bản pháp lý chuyên biệt đầu tiên về phòng, chống tham nhũng, trong đó quy định một số nội dung như: Định nghĩa về hành vi tham nhũng, người có chức vụ quyền hạn, các biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng; quy định về những việc mà người có chức vụ, quyền hạn không được làm hoặc phải làm; nghiêm cấm việc tự đặt ra các thủ tục, phí, lệ phí ngoài quy định của pháp luật; trách nhệm nêu gương của người đứng đầu;... Sự ra đời của Pháp lệnh phòng chống tham nhũng năm 1998 đã đánh dấu bước khởi đầu của tư duy lập pháp phòng ngừa và xử lý tham nhũng một cách hệ thống. Song song với đó, các quy định trong Luật Cán bộ, công chức năm 1998, Bộ luật Hình sự năm 1999,… đã bước đầu hình thành những chuẩn mực hành vi, nghĩa vụ liêm chính, trách nhiệm giải trình của đội ngũ công chức.

Một bước ngoặt quan trọng được thiết lập với sự ra đời của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005[7] (được sửa đổi, bổ sung các năm 2007, 2012). Đây là văn bản đánh dấu giai đoạn xây dựng khung pháp lý đầy đủ, đồng bộ, thể chế hóa tương đối toàn diện các nhóm giải pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng. Luật đã đặt nền tảng pháp lý cho cơ chế kê khai tài sản, minh bạch trong hoạt động công vụ, đề cao vai trò của người đứng đầu, của báo chí và Nhân dân trong giám sát phòng, chống tham nhũng. Cùng với đó, các luật liên quan như Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005 (sửa đổi năm 2013), Luật Tố cáo năm 2011, Luật Khiếu nại năm 2011 và các quy định hình sự, hành chính khác đã góp phần tạo dựng một hệ thống pháp luật thống nhất và tương đối toàn diện liên quan đến phòng, chống tham nhũng.

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 được Quốc hội khóa XI thông qua. Nguồn: Ảnh tư liệu

Tư duy pháp luật về phòng, chống tham nhũng tiếp tục được đổi mới mạnh mẽ. Quốc hội khóa XIV thông qua Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, thể hiện bước phát triển đột phá cả về phạm vi, nội dung và phương pháp tiếp cận. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 mở rộng phạm vi điều chỉnh sang khu vực ngoài Nhà nước, khẳng định nguyên tắc xử lý “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập được cụ thể hóa với các quy định chặt chẽ hơn, đồng thời tăng cường trách nhiệm, tính minh bạch trong quản lý, điều hành.

Nhiều nghị định, thông tư hướng dẫn, quy tắc ứng xử, bộ quy tắc đạo đức công vụ, quy trình kiểm tra, giám sát nội bộ trong Đảng và quy định về kê khai tài sản, chuyển đổi vị trí công tác… được ban hành, tạo khung pháp lý vững chắc, như: Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng, Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị… đã bảo đảm việc triển khai hiệu quả Luật trong thực tiễn.

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Thanh tra Chính phủ tổ chức Hội nghị tổng kết công tác đánh giá thực thi Công ước Liên hợp quốc về Chống tham nhũng (UNCAC) (Nguồn: Ảnh tư liệu)

Bên cạnh công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật, Việt Nam chủ động gia nhập và thực thi Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC)[8]. Với cấp độ ngành, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ký 17 thỏa thuận hợp tác, hàng năm triển khai các hoạt động hợp tác song phương với Viện kiểm sát, Viện Công tố, Cơ quan thực thi pháp luật của các quốc gia có nền công tố mạnh, có hệ thống Tư pháp phát triển như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a; Hung-ga-ri, Nga, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Đức; Kiểm toán Nhà nước Việt Nam đã thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác song phương với hàng chục các cơ quan kiểm toán tối cao trên thế giới và tổ chức quốc tế tại Việt Nam[9].

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân

Ths. Nguyễn Thị Diệp Linh

Ths Trần Xuân Hiến

Bài 1: Dấu ấn truyền thống phòng, chống tham nhũng trong lịch sử dân tộc.

Bài cuối: Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực không chỉ bằng pháp luật.

Tài liệu tham khảo:

1. Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

2. Sắc lệnh số 64-SL ngày 23/11/1945 thành lập Ban Thanh tra đặc biệt.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, 2021, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

4. PGS.TS. Nguyễn Văn Thế & ThS. Nguyễn Huy Đại, Tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” với việc phòng, chống nguy cơ suy thoái về đạo đức của Đảng ta hiện nay, https://ubkttw.vn/danh-muc/hoc-tap-va-lam-theo-tu-tuong-dao-duc-phong-cach-ho-chi-minh/tac-pham-nang-cao-dao-duc-cach-mang.-quet-sach-chu-nghia-ca-nhan-voi-viec-phong-chong-nguy-co-suy-thoai-ve-dao-duc-cua-d.html.

5. Sở Tư pháp thành phố Huế, Pháp luật phòng, chống tham nhũng của nước ta từ 1945 đến nay, stp.hue.gov.vn/?gd=12&cn=82&tc=6698.

6. Lê Minh Khái, Việt Nam thực thi Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng - Kết quả và những vấn đề đặt ra, https://www.tapchicongsan.org.vn/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/820447/viet-nam-thuc-thi-cong-uoc-cua-lien-hop-quoc-ve-chong-tham-nhung---ket-qua-va-nhung-van-de-dat-ra.aspx.

7. Đào Trung Kiên, Hợp tác quốc tế của Việt Nam trong phòng, chống tham nhũng – Thành công và những vấn đề đặt ra, https://phaply.net.vn/hop-tac-quoc-te-cua-viet-nam-trong-phong-chong-tham-nhung-thanh-cong-va-nhung-van-de-dat-ra-a259252.html.


  1. Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh T.L đăng trên trang nhất Báo Nhân Dân vào ngày 03/2/1969 nhân kỷ niệm 39 năm ngày thành lập Đảng, https://ubkttw.vn/danh-muc/hoc-tap-va-lam-theo-tu-tuong-dao-duc-phong-cach-ho-chi-minh/tac-pham-nang-cao-dao-duc-cach-mang.-quet-sach-chu-nghia-ca-nhan-voi-viec-phong-chong-nguy-co-suy-thoai-ve-dao-duc-cua-d.html, truy cập ngày 05/7/2025.

  2. Bài viết: Pháp luật phòng, chống tham nhũng của nước ta từ 1945 đến nay, stp.hue.gov.vn/?gd=12&cn=82&tc=6698, truy cập ngày 05/7/2025.

  3. Nghị quyết số 04-NQ/TW, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xii/nghi-quyet-so-04nq-tw-ngay-30102016-hoi-nghi-lan-thu-tu-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xii-ve-tang-cuong-xay-dung-chinh-550, truy cập ngày 05/7/2025.

  4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, 2021, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

  5. Sắc lệnh số 64-SL ngày 23/11/1945 thành lập Ban Thanh tra đặc biệt.

  6. Có thể kể đến các văn bản: Quyết định số 240/HĐBT ngày 26/6/1990 của Hội đồng Bộ trưởng về đấu tranh chống tham nhũng; Chỉ thị số 416/CT ngày 03/12/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc tăng cường công tác thanh tra, xử lý các việc tham nhũng, buôn lậu; Công văn số 08/CT-TATC ngày 06/12/1990 của Tòa án nhân dân tối cao về đường lối xử lý một số tội phạm phục vụ Chỉ thị 416/CT ngày 3/12/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc tăng cường công tác thanh tra, xử lý các việc tham nhũng, buôn lậu; Chỉ thị số 171/TTg ngày 16/12/1992 của Thủ tướng Chính phủ về việc chống tham nhũng, lãng phí, thất thoát trong xây dựng cơ bản; Quyết định số 114/TTg ngày 21/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ về những biện pháp cấp bách nhằm ngăn chặn tham nhũng, buôn lậu.

  7. Luật có 8 chương, 92 điều

  8. Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng gồm 08 chương, 71 điều quy định về các biện pháp mang tính phòng ngừa và xử phạt, hợp tác quốc tế và thu hồi tài sản tham nhũng nhằm tạo ra một khuôn khổ pháp lý toàn diện thúc đẩy công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở tất cả các quốc gia thành viên. Tính đến ngày 06/02/2020, Công ước đã có 187 thành viên, trong đó có 181 quốc gia là thành viên của Liên Hợp Quốc (trên tổng số 193 quốc gia). Việt Nam tham gia Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng kể từ ngày 19/8/2009 (Lê Minh Khái, Việt Nam thực thi Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng - Kết quả và những vấn đề đặt ra, https://www.tapchicongsan.org.vn/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/820447/viet-nam-thuc-thi-cong-uoc-cua-lien-hop-quoc-ve-chong-tham-nhung---ket-qua-va-nhung-van-de-dat-ra.aspx, truy cập ngày 05/7/2025).

  9. Đào Trung Kiên, Hợp tác quốc tế của Việt Nam trong phòng, chống tham nhũng – Thành công và những vấn đề đặt ra, https://phaply.net.vn/hop-tac-quoc-te-cua-viet-nam-trong-phong-chong-tham-nhung-thanh-cong-va-nhung-van-de-dat-ra-a259252.html, truy cập ngày 05/7/2025.

TỪ KHOÁ:

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: