Chủ nhật 15/03/2026 08:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền giữ giống cây trồng của người nông dân theo Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới và quá trình thực thi tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết khái quát sự hình thành và phát triển của quy định về quyền giữ gống cây trồng theo Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (UPOV) mà Việt Nam đã gia nhập vào năm 2006 và quá trình ban hành, sửa đổi trong khuôn khổ pháp luật quốc gia về vấn đề này.

Abstract: The article summarizes the formation and development of regulations on the right to keep plant varieties under the International Convention for the Protection of New Plant Varieties (UPOV) which Vietnam has acceded to in 2006 and the process of promulgating and amending them within the framework of national legislation in this regard.

1. Bối cảnh quốc tế

1.1. Quá trình ra đời của Liên minh quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới và quy định về đặc quyền của người nông dân

Năm 1961, Liên minh quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (UPOV) ra đời. Giống cây trồng được bảo hộ phải bảo đảm đáp ứng tiêu chí “mới”, “khác biệt”, “đồng nhất” và “ổn định” (các điều 6, 7, 8, 9 Công ước UPOV năm 1961). Đối tượng bảo hộ của quyền đối với giống cây trồng bao gồm cả vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch (khoản 1, khoản 2 Điều 14 Công ước UPOV năm 1961). Như vậy, đặc quyền của chủ bằng bảo hộ giống cây trồng sẽ tồn tại trong suốt các chu kỳ nhân giống của giống cây trồng được bảo hộ. Điều 5 Công ước UPOV năm 1961 giới hạn quyền của chủ bằng bảo hộ giống cây trồng bằng việc quy định lợi ích của người nông dân. Hành vi giữ giống cây trồng của nông dân từ sản phẩm thu hoạch trên mảnh ruộng của mình để trao đổi cho nhau hoặc để gieo trồng cho mùa vụ sau không được coi là nhằm mục đích thương mại nên không được coi là vi phạm quyền của chủ bằng bảo hộ giống cây trồng. Tuy nhiên, đặc quyền đó không tồn tại một cách ổn định qua các lần sửa đổi Công ước UPOV vào các năm 1972, 1978 và 1991. Hiện tại, có 02 lần sửa đổi chính vào năm 1978 và năm 1991 chi phối các bên tham gia Công ước UPOV.

Công ước UPOV sửa đổi năm 1978 không thay đổi quy định về đặc quyền của nông dân. Tuy nhiên, Công ước sửa đổi hạn chế quyền của chủ bằng bảo hộ giống cây trồng trên cơ sở lợi ích công cộng để ngăn chặn tình trạng độc quyền. Điều khoản này gián tiếp đề cập đến quyền của nông dân trong bối cảnh an ninh lương thực. Khía cạnh này cũng được thể hiện trong Công ước UPOV sửa đổi năm 1991 (Công ước UPOV năm 1991).

Công ước UPOV năm 1991 cho phép các quốc gia thành viên được lựa chọn đưa hay không đưa và ở mức độ nào vào trong khuôn khổ pháp luật quốc gia về đặc quyền của nông dân đối với việc giữ giống cây trồng. Cụ thể, khoản 2 Điều 15 Công ước UPOV năm 1991 quy định: “Mỗi bên tham gia, trong phạm vi giới hạn hợp lý và với mục đích bảo vệ lợi ích chính đáng của chủ thể tạo giống, có thể hạn chế quyền của chủ thể tạo giống liên quan tới bất kỳ giống cây trồng nào nhằm cho phép nông dân sử dụng sản phẩm thu hoạch từ việc trồng giống được bảo hộ trên thửa đất của mình cho mục đích nhân giống trên chính thửa đất đó”. Theo đó, cũng như tinh thần Công ước UPOV năm 1961, các quốc gia có thể cho phép nông dân sử dụng sản phẩm thu hoạch của giống được bảo hộ trên ruộng của họ để phục vụ mục đích nhân giống cho mùa sau nhưng hạn chế hơn khi quy định đặc quyền đó phải được điều chỉnh “trong giới hạn hợp lý và bảo đảm lợi ích hợp pháp của chủ thể tạo giống”.

1.2. Các quan điểm ủng hộ và phản đối Công ước UPOV trên phương diện quyền của người nông dân

Công ước UPOV mang lại quyền lợi cho nông dân nói riêng và nền nông nghiệp quốc gia nói chung. Sự ra đời của Công ước UPOV nhằm mục đích giảm bớt rào cản đối với thương mại quốc tế trong nông nghiệp bằng cách mở cửa thị trường các nước đang phát triển cho giống lai. Công ước UPOV thúc đẩy tạo ra các giống mới hoặc các giống cây trồng biến đổi gen có khả năng loại bỏ những khiếm khuyết truyền thống trong nông nghiệp để mang lại những đặc tính hữu ích như kháng sâu bệnh, chống chịu thời tiết và cải thiện năng suất. Các giống cải tiến theo đó sẽ nâng cao sản lượng, chất lượng của sản phẩm nông nghiệp bán ra thị trường, mang lại lợi ích to lớn cho nông dân. Bên cạnh đó, người tiêu dùng cũng được hưởng lợi từ sự đa dạng về chủng loại cây trồng. Đặc biệt, với các tính năng ưu việt trong việc cải thiện năng suất và chống chịu thời tiết, sâu bệnh, các giống cây trồng mới là lời giải cho bài toán an ninh lương thực ở nhiều quốc gia đang phát triển[1].

Tuy nhiên, Công ước UPOV là cơ chế thiếu công bằng đối với nông dân nói riêng và các quốc gia đang phát triển nói chung. Trước khi công nghệ sinh học ra đời, để tạo giống cây trồng mới, trong nhiều thế kỷ, người nông dân bản địa đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển sự đa dạng của các giống cây trồng, bảo đảm nguồn cung cấp lương thực toàn cầu. Quá trình người nông dân “truyền thống” thuần chủng giống cây trồng cũng là quá trình lựa chọn các “đột biến ngẫu nhiên xảy ra trong tự nhiên” để phát triển thành các giống đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm, nhưng hiếm khi họ đáp ứng được yêu cầu về “tính ổn định”, “tính đồng nhất” để có thể được cấp bằng bảo hộ đối với giống cây trồng[2]. Trong khi đó, các công ty lớn ở các nước phát triển sử dụng vật liệu nhân giống do nông dân bản địa tạo ra để lai tạo các giống cây trồng mới được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, người nông dân không nhận được sự đền bù thỏa đáng do Công ước UPOV không tạo ra cơ chế chia sẻ lợi ích giữa chủ bằng bảo hộ giống cây trồng mới và người nông dân tạo ra giống cây trồng bản địa. Ở cấp độ vĩ mô hơn, “dòng chảy” của các nguồn gen từ nước đang phát triển sang nước phát triển có xu hướng không được bù đắp, trong khi đó, việc thương mại hóa các giống cây trồng đã được chuyển gen của nước phát triển cho nước đang phát triển lại mang chiều hướng ngược lại[3]. Đối với các quốc gia đang phát triển, nông nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế quốc dân. So với nước phát triển, dân số trong lĩnh vực nông nghiệp ở nước đang phát triển luôn chiếm tỷ lệ lớn. Do vậy, nông nghiệp vẫn là nguồn thu nhập chính của người dân nói chung ở các nước đang phát triển. Trên quan điểm đó, các quốc gia đang phát triển cho rằng, đặc thù của nông nghiệp và tác động của chúng đối với nền kinh tế của họ đòi hỏi phải ưu tiên mục tiêu quốc gia, đặc biệt là vấn đề an ninh lương thực, khi đưa khuôn khổ bảo hộ giống cây trồng vào hệ thống pháp luật quốc gia. Thực tế, việc đưa vào thị trường các giống cây trồng mới sẽ làm giảm tính cạnh tranh của các giống cây trồng bản địa, khiến nông dân và nền nông nghiệp nói chung dần phụ thuộc vào các giống cây trồng mới. Theo đó, tiền bản quyền trả cho chủ bằng bảo hộ giống cây trồng theo chu kỳ nhân giống sẽ làm gia tăng đáng kể giá thành lương thực, khiến nguy cơ mất an ninh lương thực tại các quốc gia đang phát triển tăng cao[4].

1.3. Cơ chế tiếp cận và chia sẻ lợi ích trong Công ước Đa dạng sinh học và quyền của nông dân trong diễn đàn của Tổ chức Lương thực thế giới

Trong khi các giống được lai tạo bằng sự can thiệp của công nghệ tiên tiến làm cho chủ thể lai tạo được cấp bằng bảo hộ sở hữu trí tuệ, sự đóng góp của nông dân truyền thống vào các giống cây trồng lại không được công nhận nên cần phải có cơ chế để ghi nhận những đóng góp của họ. Năm 1992, Công ước Đa dạng sinh học (CBD) được thông qua. Điều 8 (j) của Công ước này ghi nhận sự đóng góp của cộng đồng và người dân bản địa trong việc bảo tồn và gìn giữ tài nguyên sinh vật. Bên cạnh đó, Điều 8 (j) công nhận quyền của cộng đồng và người dân bản địa được chia sẻ công bằng và bình đẳng đối với những lợi ích phát sinh từ việc sử dụng kiến ​​thức bản địa đối với tài nguyên sinh vật. Như vậy, theo tinh thần Công ước trên, áp dụng trong lĩnh vực giống cây trồng, người nông dân bản địa phải được chủ thể lai tạo giống chia sẻ lợi ích nếu giống được tạo ra có nguồn gốc từ giống cây trồng bản địa. Cơ chế chia sẻ lợi ích này được coi là một thành phần quan trọng trong việc thực hiện quyền của nông dân.

Trên diễn đàn của Tổ chức Lương thực thế giới (FAO), khái niệm về quyền của nông dân được đưa ra vào những năm 1980 như một phản ứng trước xu hướng ngày càng đề cao quyền của người tạo giống cây trồng. Lập luận của FAO dựa trên thực tế là người nông dân đã tham gia vào quá trình bảo tồn và lưu giữ các nguồn gen sinh vật từ thời xa xưa. Do đó, họ xứng đáng được ghi nhận và “trả công” giống như đóng góp của nhà tạo giống cây trồng trong việc phát triển giống mới. Thắng lợi của quá trình này được thể hiện qua việc hình thành Hiệp ước quốc tế về nguồn gen cây trồng trong lĩnh vực lương thực và nông nghiệp (ITPGRFA) năm 2001. Hiệp ước ghi nhận sự đóng góp to lớn của cộng đồng địa phương và bản địa nói chung, người nông dân nói riêng trong việc bảo tồn và phát triển nguồn gen thực vật (Điều 9.1). Hiệp ước công nhận các quyền sau đây với tư cách là hạt nhân quyền của nông dân: (i) Quyền lưu giữ, sử dụng, trao đổi và bán hạt giống lưu giữ ở trang trại và các vật liệu nhân giống khác (Điều 9.3); (ii) Quyền được chia sẻ công bằng và bình đẳng các lợi ích phát sinh từ việc sử dụng các nguồn gen thực vật làm thực phẩm và nông nghiệp; (iii) Quyền tham gia vào quá trình ra quyết định quốc gia về nguồn gen thực vật (ủy thác cho các chính phủ quốc gia chịu trách nhiệm thực hiện các quyền này phù hợp với nhu cầu và ưu tiên của họ theo luật pháp quốc gia); (iv) Bảo vệ tri thức truyền thống (Điều 9.2). Cho đến nay, Hiệp ước ITPGRFA là văn kiện pháp lý quốc tế ghi nhận một cách đầy đủ nhất quyền của nông dân đối với giống cây trồng.

2. Bối cảnh Việt Nam

2.1. Quá trình hình thành quy định về quyền giữ giống cây trồng của nông dân trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam

Việt Nam quy định về quyền đối với giống cây trồng từ năm 2001 trong Nghị định số 13/2001/NĐ-CP ngày 20/4/2001 của Chính phủ về bảo hộ giống cây trồng mới (Nghị định số 13/2001/NĐ-CP). Mục tiêu của Nghị định số 13/2001/NĐ-CP nhằm khuyến khích tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư chọn tạo, sử dụng giống cây trồng mới; góp phần phát triển nông nghiệp và nông thôn (khoản 1 Điều 1). Chủ sở hữu văn bằng bảo hộ có quyền hoặc cho phép người khác sản xuất hay nhân giống vì mục đích kinh doanh; chế biến giống vì mục đích kinh doanh; chào hàng, bán hay các hình thức kinh doanh khác; xuất khẩu, nhập khẩu, tàng trữ nhằm thực hiện các hoạt động nêu trên (khoản 1 Điều 11 Nghị định số 13/2001/NĐ-CP). Tuy nhiên, chủ sở hữu văn bằng bảo hộ không được sử dụng quyền của mình trong trường hợp giống cây trồng sử dụng cho nhu cầu cá nhân không nhằm mục đích thương mại; giống sử dụng để lai tạo ra các cây trồng mới khác, trừ trường hợp giống đó là giống có nguồn gốc thực chất từ giống được bảo hộ; giống sử dụng trong khuôn khổ quyền giữ giống của nông dân (khoản 7 Điều 11 Nghị định số 13/2001/NĐ-CP). Quyền giữ giống của nông dân được quy định cụ thể như sau: “Nông dân gieo trồng các vật liệu nhân giống được bảo hộ lấy sản phẩm thu hoạch để làm giống cho các vụ tiếp theo tại trang trại của họ hoặc trao đổi cho nhau giữa các hộ nông dân”. Như vậy, Nghị định số 13/2001/NĐ-CP mô phỏng đầy đủ quyền giữ giống cây trồng của nông dân theo tinh thần Công ước UPOV năm 1961, nghĩa là quyền giữ giống không bị giới hạn để gieo trồng cho mùa vụ sau trên mảnh ruộng của mình và được trao đổi với các hộ nông dân khác.

Ngày 18/02/2003, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã gửi văn kiện kèm theo Nghị định số 13/2001/NĐ-CP đề nghị Hội đồng Công ước UPOV xem xét tính phù hợp của pháp luật Việt Nam với Công ước UPOV năm 1991 theo thủ tục gia nhập tại Công ước. Đề cập tới quyền giữ giống của nông dân theo Nghị định số 13/2001/NĐ-CP, Hội đồng Công ước UPOV đã nêu ý kiến[5]: Điểm b khoản 7 Điều 11 Nghị định số 13/2001/NĐ-CP cho phép nông dân “trao đổi” với nhau những vật liệu thu hoạch được để sử dụng cho vụ gieo trồng năm sau, về đặc quyền của nông dân, phạm vi của điều khoản này dường như đã vượt ra ngoài sự cân bằng lợi ích giữa chủ thể tạo giống và nông dân theo ngoại lệ tùy chọn đối với quyền của chủ thể tạo giống được quy định tại khoản 2 Điều 15 Công ước UPOV năm 1991. Hội đồng khuyến nghị sửa đổi nhỏ đối với điều khoản trên nhằm giảm trao đổi giống, chỉ xem xét các nhu cầu cụ thể của những hộ nông dân nhỏ lẻ và tự cung, tự cấp, đồng thời bảo vệ quyền lợi của chủ thể tạo giống.

Ý kiến tư vấn của Hội đồng Công ước UPOV đã được tích hợp trong quá trình ban hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Theo đó, quy định tại điểm d khoản 1 Điều 190 “hộ sản xuất cá thể sử dụng sản phẩm thu hoạch từ giống cây trồng để tự nhân giống và gieo trồng cho vụ sau trên diện tích đất của mình” không bị coi là xâm phạm quyền đối với giống cây trồng đã được bảo hộ. Như vậy, quyền “trao đổi giống” giữa những người nông dân đã bị bãi bỏ, nhưng quyền “nhân giống trên mảnh đất của mình” của hộ sản xuất cá thể vẫn được giữ và quyền này không giới hạn ở những hộ nông dân nhỏ lẻ, tự cung tự cấp, mà áp dụng đối với tất cả các hộ sản xuất cá thể nói chung.

Văn kiện gia nhập kèm theo Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành tiếp tục được gửi vào ngày 25/10/2005. Bình luận về sửa đổi liên quan đến quyền giữ giống của nông dân, Hội đồng Công ước UPOV nêu ý kiến[6]: Nguyên tắc chung tại khoản 3 Điều 5 của Luật sẽ giải quyết bất cứ sai sót hoặc xung đột nào với nội dung của Công ước UPOV năm 1991; quy định tại điểm d khoản 1 Điều 190 của Luật là tương ứng với khoản 2 Điều 15 Công ước UPOV năm 1991 và dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành làm rõ thêm: Chính phủ quy định chi tiết ngoại lệ tại điểm d khoản 1 Điều 190 của Luật trong phạm vi giới hạn hợp lý và bảo đảm lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền đối với giống cây trồng; hiện tại, với việc viện dẫn nguyên tắc chung tại Điều 5 của Luật và quy định cụ thể hóa trong dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành, Luật tuân thủ Điều 15 Công ước UPOV năm 1991.

Như vậy, pháp luật Việt Nam về quyền giữ giống cây trồng của nông dân được đánh giá là phù hợp với tinh thần Công ước UPOV năm 1991. Cùng với sự phù hợp của các nội dung khác về quyền đối với giống cây trồng trong mối tương quan với Công ước UPOV năm 1991, Việt Nam đủ điều kiện gia nhập và trở thành thành viên của Công ước từ ngày 24/12/2006. Tuy nhiên, Nghị định hướng dẫn thi hành quy định “giới hạn hợp lý và bảo đảm lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền đối với giống cây trồng” chưa được ban hành trên thực tế.

Quy định giới hạn giữ giống của nông dân tại Luật Sở hữu trí tuệ cơ bản không thay đổi sau ba lần sửa đổi vào các năm 2009, 2019 và 2022.

2.2. Giải pháp

Tranh luận về giới hạn nông dân giữ giống cây trồng trên phạm vi quốc tế xoay quanh hai vấn đề cơ bản là an ninh lương thực đối với các quốc gia đang phát triển và sự công bằng đối với người nông dân. Do vậy, pháp luật quốc gia quy định về giới hạn nông dân giữ giống cây trồng cũng phải bảo đảm giải quyết hai vấn đề này. Theo quan điểm của tác giả, giải pháp nên được xây dựng từ chính nội tại quy định về giới hạn nông dân giữ giống cây trồng và những quy định có liên quan khác nhằm tối đa hóa phúc lợi cho người nông dân, trong khi vẫn bảo đảm lợi ích của chủ sở hữu và tác giả quyền đối với giống cây trồng.

2.2.1. Sửa đổi quy định về quyền giữ giống cây trồng của nông dân

Khó khăn lớn nhất trong quá trình sửa đổi luật liên quan đến ảnh hưởng tiêu cực đối với nông nghiệp và nông dân nếu quyền giữ giống cây trồng của nông dân bị giới hạn, đặc biệt khi Việt Nam còn phụ thuộc lớn vào nguồn giống nhập khẩu từ nước ngoài. Tuy nhiên, điểm d khoản 1 Điều 190 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành về bản chất là chưa tương thích với khoản 2 Điều 15 Công ước UPOV năm 1991 do không có quy định về quyền giữ giống “trong giới hạn hợp lý và để bảo vệ lợi ích hợp pháp của chủ thể tạo giống”. Sự tương thích của pháp luật Việt Nam với Công ước UPOV năm 1991 được Hội đồng Công ước UPOV đánh giá trên cơ sở nguyên tắc áp dụng pháp luật quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ. Do đó, việc không sửa đổi luật để bảo vệ lợi ích người nông dân không mang lại tác động tích cực trên phương diện pháp lý, vì mặc nhiên quy định của Công ước UPOV năm 1991 có hiệu lực trực tiếp trên lãnh thổ Việt Nam khi pháp luật quốc gia mâu thuẫn với Công ước. Tức là, nếu chủ thể quyền đối với giống cây trồng chứng minh được rằng lợi ích hợp pháp của mình bị ảnh hưởng do quyền giữ giống không giới hạn của hộ sản xuất cá thể, chủ thể quyền vẫn có thể viện dẫn khoản 2 Điều 15 Công ước UPOV năm 1991 để bảo vệ mình.

Bên cạnh đó, khi pháp luật sở hữu trí tuệ hướng tới sự cân bằng lợi ích giữa chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công chúng và lợi ích toàn xã hội nói chung, quy định về quyền giữ giống của hộ sản xuất cá thể khi không có giới hạn cụ thể sẽ khiến lợi ích công cộng có xu hướng mở rộng quá mức trong mối tương quan với lợi ích của chủ thể quyền đối với giống cây trồng. Do vậy, trong xã hội sẽ xuất hiện những chủ thể hưởng lợi một cách không thỏa đáng trên thiệt hại của chủ thể quyền đối với giống cây trồng. Hơn nữa, tình trạng này cũng tạo rào cản lớn trong quá trình thực thi quyền đối với giống cây trồng, gây khó khăn trong việc kiểm soát nguồn gốc và chất lượng của giống cây trồng trên thị trường. Quy định hiện hành vô hình trung đi ngược lại xu hướng thúc đẩy xã hội tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ, khiến chủ thể tạo giống cây trồng ít có động lực sáng tạo.

Thêm vào đó, quy định giới hạn nông dân giữ giống hoàn toàn nằm trong phạm vi kiểm soát của quốc gia để hài hòa các mục tiêu khác nhau. Do Công ước UPOV năm 1991 trao quyền cho các quốc gia thành viên tự quyết định “giới hạn hợp lý” đối với quyền giữ giống của nông dân để bảo vệ lợi ích cho nhà tạo giống, Việt Nam có thể xác định giới hạn nông dân giữ giống phù hợp với mục tiêu bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và thiết lập sự “cân bằng” giữa nông dân và nhà tạo giống trên quan điểm sở hữu trí tuệ. Trên cơ sở đó, để đạt được cả tính pháp lý và thực tiễn, vấn đề được đặt ra trong quá trình cải cách pháp luật không phải nằm ở chỗ duy trì đặc quyền của người nông dân mà là xác định được “giới hạn” nào là phù hợp tương ứng với từng giai đoạn cụ thể.

2.2.2. Sửa đổi các quy định khác có liên quan

Cơ chế tiếp cận và chia sẻ lợi ích phát sinh từ nguồn gen trong Luật Đa dạng sinh học hiện hành và Nghị định số 59/2017/NĐ-CP ngày 12/5/2017 của Chính phủ về quản lý tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ việc sử dụng nguồn gen (Nghị định số 59/2017/NĐ-CP) là kết quả của quá trình nội luật hóa Công ước CBD. Luật Đa dạng sinh học năm 2008 và Nghị định số 59/2017/NĐ-CP yêu cầu chủ thể tiếp cận nguồn gen phải được cấp phép và lợi ích phải được chia sẻ. Theo khoản 1 Điều 61 Luật Đa dạng sinh học hiện hành, các bên được chia sẻ lợi ích bao gồm: (i) Nhà nước; (ii) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao quản lý nguồn gen; (iii) Tổ chức, cá nhân được cấp phép tiếp cận nguồn gen và các bên có liên quan khác được quy định trong giấy phép tiếp cận nguồn gen. Có thể thấy, giống cây trồng bản địa là kết quả sáng tạo qua hàng trăm năm của cả cộng đồng nông dân bản địa, không riêng của “tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao quản lý nguồn gen” nhưng quy định về chia sẻ lợi ích chưa thể hiện sự ghi nhận về vai trò của cộng đồng địa phương trong việc bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên di truyền. Do vậy, pháp luật về cơ chế tiếp cận và chia sẻ lợi ích cần được sửa đổi để tích hợp quyền của cộng đồng bản địa nói chung và người nông dân nói riêng.

Nếu cơ chế bảo hộ quyền của người nông dân trong khuôn khổ pháp luật về quyền đối với giống cây trồng không thể giúp người nông dân vươn ra thị trường nước ngoài do rào cản của “bản quyền giống”, pháp luật sở hữu trí tuệ vẫn còn cơ chế khác để người nông dân có thể chủ động tạo ra sản phẩm mang thương hiệu của riêng mình, đó là cơ chế “chỉ dẫn địa lý”, “nhãn hiệu tập thể”, “nhãn hiệu chứng nhận”. Sản phẩm truyền thống mang đặc trưng của vùng miền sẽ phát huy thế mạnh của người nông dân, tăng sức cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế. Phát huy các cơ chế đó sẽ tạo thế “cân bằng” cho người nông dân khi đặc quyền của họ đối với giống cây trồng không thể mở rộng trong khuôn khổ pháp luật về quyền đối với giống cây trồng. Bên cạnh nỗ lực thúc đẩy phát triển giống mới trên lãnh thổ Việt Nam từ các nhà khoa học, các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp giống cây trồng, việc bảo hộ các giống cây trồng bản địa theo quan điểm nêu trên cũng góp phần giảm tình trạng phụ thuộc vào các giống cây trồng nước ngoài tại Việt Nam hiện nay.

TS. Nguyễn Thị Minh Hạnh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Ảnh: internet

[1]. S. Ragavan (2007). To sow or not to sow: Dilemmas in Creating New Rights in Food. In KESAN, Jay P. (ed.). Agricultural biotechnology and intellectual property: seeds of change. cabi, 2007.

[2]. Winter, L. (2010). Cultivating farmers’ rights: Reconciling food security, indigenous agriculture, and TRIPS. Vand. J. Transnat’l L., 43, 223.

[3]. Oguamanam, C. (2006). Intellectual Property Rights in Plant Genetic Resources: Farmers’ Rights and Food Security of Indigenous and Local Communities. Drake J. Agric. L., 11, 273.

[4]. Borowiak, C. (2004). Farmers’ rights: Intellectual property regimes and the struggle over seeds. Politics & Society, 32(4), 511-543.

[5]. Examination of the Conformity of the Decree on the Protection of New Plant Varieties of Viet Nam with the 1991 Act of the UPOV Convention tại https://www.wipo.int/meetings/en/doc_details.jsp?doc_id=16068, truy cập ngày 2/10/2022.

[6]. Examination of the Conformity of the Decree on the Protection of New Plant Varieties of Viet Nam with the 1991 Act of the UPOV Convention tại https://www.upov.int/meetings/en/doc_details.jsp? meeting_id=9742&doc_id=58675, truy cập ngày 02/10/2022.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định của Liên minh châu Âu về bảo vệ khách hàng trong thị trường tài sản mã hóa và đề xuất cho Việt Nam

Quy định của Liên minh châu Âu về bảo vệ khách hàng trong thị trường tài sản mã hóa và đề xuất cho Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa phát triển nhanh, tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với khách hàng, việc xây dựng cơ chế bảo vệ người tham gia trở nên cấp thiết. Bài viết phân tích Quy định chung về thị trường tài sản mã hóa (MiCA) của Liên minh châu Âu trong bảo vệ khách hàng thông qua các nghĩa vụ đối với tổ chức cung cấp dịch vụ và yêu cầu minh bạch thông tin, đặc biệt trong sách trắng, tạo nền tảng an toàn cho thị trường. Qua phân tích, bài viết nhận diện những hạn chế trong cơ chế hiện hành tại Việt Nam, từ đó, đề xuất hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và bảo vệ quyền lợi người tham gia, đồng thời, thúc đẩy sự phát triển an toàn, bền vững của thị trường tài sản mã hóa trong nước.
Cam kết xóa bỏ phân biệt đối xử trong lao động tại các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị cho Việt Nam

Cam kết xóa bỏ phân biệt đối xử trong lao động tại các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị cho Việt Nam

Tóm tắt: Thời gian qua, Việt Nam ký kết một số hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu, Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam - Vương quốc Anh và Bắc Ireland... Các hiệp định này đều đặt ra yêu cầu xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử trong lĩnh vực lao động thông qua thực thi đầy đủ nguyên tắc lao động cơ bản của Tổ chức Lao động Quốc tế. Mặc dù Việt Nam đã nội luật hóa nhiều cam kết quốc tế, tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế nhất định, có thể chưa đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực lao động quốc tế mà các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đặt ra. Từ thực tế đó, bài viết phân tích mức độ tương thích giữa pháp luật Việt Nam và các nguyên tắc của Tổ chức Lao động Quốc tế về không phân biệt đối xử, xác định những bất cập còn tồn tại, đồng thời, nghiên cứu kinh nghiệm một số quốc gia để đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế Việt Nam đã tham gia.
Bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng trong thương mại điện tử - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng trong thương mại điện tử - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ và trở thành trụ cột của nền kinh tế số, vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng đặt ra ngày càng cấp thiết, đặc biệt, sau khi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 có hiệu lực thi hành. Trên cơ sở phân tích các quy định hiện hành và so sánh, tham chiếu các chuẩn mực pháp lý tiêu biểu của Liên minh châu Âu, Singapore và Nhật Bản, bài viết đánh giá thực trạng, chỉ ra những hạn chế về tính minh bạch, cơ chế bảo vệ quyền riêng tư và trách nhiệm của doanh nghiệp trong xử lý dữ liệu cá nhân và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử, nhằm tăng cường hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định tình trạng việc làm của tài xế xe công nghệ theo Dự luật số 5 của Hội đồng bang California (2019), Đề xuất số 22 (2020) và khuyến nghị đối với Việt Nam

Xác định tình trạng việc làm của tài xế xe công nghệ theo Dự luật số 5 của Hội đồng bang California (2019), Đề xuất số 22 (2020) và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế chia sẻ, đặc biệt, dưới hình thức thị trường lao động nền tảng còn gọi là kinh tế việc làm tự do, đặt ra nhiều thách thức pháp lý trên phạm vi toàn cầu. Trong đó, xác định tình trạng việc làm của người lao động trong nền kinh tế này là vấn đề trung tâm, còn nhiều tranh luận cả về lý luận và thực tiễn. Nhóm lao động phổ biến và điển hình nhất cần được xác định tình trạng việc làm là tài xế xe công nghệ. Năm 2019, Hội đồng bang California, Hoa Kỳ ban hành Dự luật số 5 nhằm giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, chỉ sau một năm, Đề xuất số 22 đã được thông qua, loại trừ tài xế xe công nghệ ra khỏi phạm vi áp dụng của AB 5 và xác lập họ như một dạng lao động thứ ba với cơ chế điều chỉnh riêng. Bài viết phân tích nội dung của AB 5 và Proposition 22, từ đó, đề xuất một số khuyến nghị, chính sách đối với Việt Nam.
Pháp luật về bảo vệ nhân chứng trong vụ án hình sự ở Trung Quốc và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật về bảo vệ nhân chứng trong vụ án hình sự ở Trung Quốc và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Bảo vệ người làm chứng (nhân chứng) là một trong những yếu tố quan trọng nhằm bảo đảm công lý và hiệu quả của hoạt động tố tụng hình sự. Tại Trung Quốc, cơ chế bảo vệ nhân chứng đã từng bước được hoàn thiện trong những năm gần đây, đặc biệt, thông qua việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản dưới luật. Bài viết phân tích khuôn khổ pháp lý hiện hành về bảo vệ nhân chứng trong tố tụng hình sự ở Trung Quốc, đánh giá những điểm tiến bộ, những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đưa ra một số khuyến nghị cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật về bảo vệ nhân chứng.
Mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Nhật Bản và kinh nghiệm cho Việt Nam

Mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Nhật Bản và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Nhật Bản là một trong những quốc gia châu Á tiêu biểu vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiệu quả và ổn định trong nhiều thập kỷ. Bài viết phân tích cấu trúc tổ chức, quyền hạn, phân bổ ngân sách và mối quan hệ giữa các cấp chính quyền tại Nhật Bản, rút ra những bài học kinh nghiệm thực tiễn, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại Việt Nam theo hướng hiệu quả, phù hợp với yêu cầu phát triển và hội nhập.
Phân tích và so sánh dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam với pháp luật Hoa Kỳ, Pháp, Đức và Anh

Phân tích và so sánh dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam với pháp luật Hoa Kỳ, Pháp, Đức và Anh

Việc nghiên cứu, tham khảo và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm từ các hệ thống pháp luật tiên tiến của Hoa Kỳ, Pháp, Anh và việc tham gia tích cực vào các công ước quốc tế sẽ giúp Việt Nam xây dựng hệ thống tư pháp toàn diện, đáp ứng tốt các yêu cầu của hội nhập quốc tế. Điều này không chỉ góp phần bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan trong các vụ việc dân sự mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp.
Kinh nghiệm của một số quốc gia về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự

Kinh nghiệm của một số quốc gia về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự

Bài viết phân tích một số quy định trong các điều ước quốc tế có liên quan, kinh nghiệm của một số quốc gia về các nội dung chính sách trên trong Luật Tương trợ tư pháp về dân sự, từ đó, củng cố cơ sở khoa học cho việc xây dựng các quy định cụ thể trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự.
Tăng cường hợp tác tương trợ tư pháp về dân sự giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Tăng cường hợp tác tương trợ tư pháp về dân sự giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Bài viết nghiên cứu các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp dân sự mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là thành viên, thực tiễn triển khai giữa hai nước và đề xuất định hướng hợp tác giữa hai nước về lĩnh vực này trong thời gian tới.
Công tác pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp - Thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp - Thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp vừa tham gia xây dựng pháp luật quốc tế, vừa đóng vai trò “cầu nối” giữa pháp luật trong nước với pháp luật quốc tế. Vì vậy, công tác pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp có tác động tích cực đến hội nhập quốc tế và phát triển của đất nước.
Hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp - Những thành tựu đạt được và định hướng trong kỷ nguyên mới

Hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp - Những thành tựu đạt được và định hướng trong kỷ nguyên mới

Nhìn lại chặng đường hơn 35 năm qua, đặc biệt, trong một thập kỷ gần đây, quan hệ hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp đã có bước phát triển mạnh mẽ và hiệu quả.
Xử lý hành vi sử dụng mã độc tống tiền theo pháp luật hình sự - Kinh nghiệm quốc tế và định hướng cho Việt Nam

Xử lý hành vi sử dụng mã độc tống tiền theo pháp luật hình sự - Kinh nghiệm quốc tế và định hướng cho Việt Nam

Hiện nay, các tội phạm sử dụng công nghệ cao để thực hiện các hành vi phạm tội diễn ra ngày càng phổ biến. Một trong những công nghệ cao để thực hiện các hành vi phạm tội, nguy hiểm, gây ra thiệt hại lớn cho xã hội được các tội phạm sử dụng nhiều nhất, chính là sử dụng mã độc tống tiền (Ransomware). Vì vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật để kịp thời phòng, chống những tác hại của Ransomware là thực sự cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Bài viết nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật của Hoa Kỳ và Trung Quốc, từ đó, kiến nghị, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam.

Pháp luật về hòa giải thương mại của Việt Nam và Ấn Độ - Góc nhìn so sánh và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Việt Nam và Ấn Độ đều có khung pháp lý điều chỉnh hoạt động hòa giải thương mại, nhưng có sự khác biệt đáng kể về cơ chế vận hành và thực thi. Bài viết sử dụng phương pháp so sánh luật học để phân tích và đối chiếu quy định pháp luật giữa hai quốc gia, đồng thời, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp luật về hòa giải thương mại tại Việt Nam.

Vai trò của Nội các Nhật Bản trong hoạt động lập pháp và giá trị tham khảo cho Việt Nam

Nội các Nhật Bản đóng vai trò quan trọng trong quá trình lập pháp với quyền đề xuất hầu hết các dự thảo luật trình lên Quốc hội. Bài viết nghiên cứu, phân tích vị trí, vai trò, thẩm quyền và trách nhiệm của Nội các Nhật Bản trong hoạt động lập pháp, từ sáng kiến đến soạn thảo, đánh giá và thông qua luật. Đồng thời, so sánh với quy trình lập pháp tại Việt Nam, chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt quan trọng. Từ đó, đề xuất các giá trị mà Việt Nam có thể tham khảo nhằm nâng cao vị trí và vai trò của Chính phủ trong quá trình xây dựng pháp luật.

Hình phạt tiền - Dưới góc nhìn so sánh pháp luật hình sự Việt Nam với Liên bang Úc và kinh nghiệm cho Việt Nam

Hình phạt tiền ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong hệ thống hình phạt của nhiều quốc gia, kể cả Việt Nam và Liên bang Úc, như một biện pháp hiệu quả để xử lý các hành vi phạm tội, đặc biệt là các tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm do pháp nhân thực hiện. Bài viết phân tích quy định pháp luật hình sự về hình phạt tiền của Việt Nam và Liên bang Úc, làm rõ sự khác biệt về đối tượng pháp nhân chịu trách nhiệm, phương pháp xác định mức phạt, các yếu tố Tòa án cân nhắc và cơ chế thi hành; từ đó, rút ra một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: