![]() |
| Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì hội đồng thẩm định dự án Luật Công nghiệp trọng điểm |
Theo Tờ trình, dự thảo Luật Công nghiệp trọng điểm gồm 58 điều, được bố cục thành 11 chương, quy định về ngành, lĩnh vực công nghiệp trọng điểm; chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển; doanh nghiệp công nghiệp trọng điểm và nhà đầu tư chiến lược; phát triển chuỗi cung ứng công nghiệp trong nước; nguồn lực tài chính; tổ hợp công nghiệp trọng điểm; công nghiệp ngoài khơi; công nghiệp vật liệu chiến lược và các nội dung liên quan.
Dự thảo Luật được xây dựng trên cơ sở 02 chính sách đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 82/NQ-CP ngày 3/4/2026, gồm: khuyến khích sản xuất, chế tạo trong nước các sản phẩm công nghiệp trọng điểm và phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Đối với chính sách khuyến khích sản xuất, chế tạo trong nước các sản phẩm công nghiệp trọng điểm, dự thảo Luật quy định nhiều cơ chế phát triển thị trường như hỗ trợ sản phẩm, dịch vụ công nghiệp trọng điểm đầu tiên; đơn hàng đầu tiên; cam kết thị trường tối thiểu; lựa chọn nhà thầu, liên danh và nhà thầu phụ trong nước; cơ chế thử nghiệm hình thành Tổng thầu EPC và làm chủ năng lực sản xuất trong nước đối với các dự án công nghiệp lớn, quan trọng.
Bên cạnh đó, dự thảo Luật đề xuất cơ chế thu hút nhà đầu tư chiến lược gắn với yêu cầu về năng lực tài chính, công nghệ, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao tri thức, phát triển nhân lực và doanh nghiệp Việt Nam. Các chính sách về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhà máy thí điểm, cơ sở trình diễn công nghệ, chuyển đổi xanh, phát triển bền vững cũng được quy định nhằm nâng cao năng lực công nghiệp trong nước.
Đối với chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ, dự thảo tập trung xây dựng hệ thống nhà cung ứng trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp đầu chuỗi và nhà đầu tư chiến lược về máy móc, thiết bị, tín dụng, nghiên cứu và phát triển, chuyển đổi số, nhân lực, thử nghiệm, chứng nhận và kết nối thị trường.
![]() |
| Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú phát biểu tại phiên họp |
Dự thảo Luật cũng quy định cơ chế phát triển nhân sự chủ chốt người Việt Nam; phát triển doanh nghiệp spin-off; trách nhiệm của doanh nghiệp đầu chuỗi và nhà đầu tư chiến lược trong việc phát triển nhà cung ứng trong nước. Theo đó, trong vòng 05 năm kể từ ngày nhận ưu đãi, hỗ trợ, doanh nghiệp đầu chuỗi và nhà đầu tư chiến lược phải bảo đảm tối thiểu 40% nhân sự thuộc một số nhóm vị trí chủ chốt là người Việt Nam; đồng thời tối thiểu 20% tổng số nhà cung ứng cấp 1 và cấp 2 là doanh nghiệp spin-off.
Theo dự thảo Luật, các ngành công nghiệp trọng điểm gồm công nghiệp vật liệu, chế biến khoáng sản chiến lược; luyện kim; cơ khí chế tạo, thiết bị năng lượng, sản xuất ô tô, đóng tàu và công trình biển; hóa chất cơ bản, hóa chất công nghệ cao; điện tử và bán dẫn. Các lĩnh vực công nghiệp trọng điểm gồm công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp đường sắt, công nghiệp môi trường và công nghiệp ngoài khơi.
Dự thảo Luật đồng thời xử lý một số khoảng trống pháp lý hiện nay như cơ chế đơn hàng đầu tiên, cam kết thị trường tối thiểu; cơ chế thử nghiệm hình thành Tổng thầu EPC; cơ chế gắn nhà đầu tư chiến lược với hoạt động đối ứng; phát triển nhà máy thí điểm, cơ sở trình diễn công nghệ; Quỹ đầu tư phát triển công nghiệp chiến lược; mô hình Tổ hợp công nghiệp trọng điểm; phát triển năng lực công nghiệp ngoài khơi và chuỗi giá trị vật liệu chiến lược.
![]() |
| Thứ trưởng Bộ Công Thương Trương Thanh Hoài phát biểu tại phiên họp |
Kết luận phiên họp, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, rà soát và hoàn thiện hồ sơ Dự án Luật Công nghiệp trọng điểm trên các phương diện về phạm vi điều chỉnh, chính sách, tính thống nhất, tính khả thi và kỹ thuật lập pháp.
Bên cạnh đó, cơ quan chủ trì soạn thảo cần tiếp tục rà soát dự thảo Luật với các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, kịp thời xử lý những nội dung còn có thể gây vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện. Đồng thời, tiếp tục rà soát các quy định để bảo đảm phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.