Thứ ba 17/03/2026 13:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính

Theo Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính là biện pháp ngăn chặn được áp dụng nhằm mục đích: (i) Để xác minh tình tiết mà nếu không tạm giữ thì không có căn cứ ra quyết định xử phạt; (ii) Để ngăn chặn ngay hành vi vi phạm hành chính mà nếu không tạm giữ thì sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội; (iii) Để đảm bảo thi hành quyết định xử phạt tiền. Bài viết phân tích những bất cập trong quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng biện pháp này, đồng thời đề xuất giải pháp hoàn thiện.


1. Quy định của pháp luật về biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép chứng chỉ hành nghề

Biện pháp ngăn chặn tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép chứng chỉ hành nghề được quy định tại Điều 125, Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012. So với Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính 2002, Luật đã mở rộng phạm vi áp dụng biện pháp tạm giữ không chỉ đối với tang vật, phương tiện, mà còn đối với cả giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính. Việc mở rộng phạm vi này giúp người có thẩm quyền thuận lợi hơn trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn nhằm xử lý các tình huống phát sinh trong thực tiễn cuộc sống. Chủ thể có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện… đồng thời là chủ thể có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Ngoài ra, Luật cũng quy định, người ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có trách nhiệm bảo quản tang vật, phương tiện và phải chịu trách nhiệm bồi thường hay bị xử lý theo quy định trong trường hợp tang vật, phương tiện bị mất, bán, hư hỏng...

Việc xử lý tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ (Điều 126) được Luật quy định cụ thể, chi tiết, dễ hiểu hơn trước, đặc biệt là quy định về tình huống tang vật, phương tiện bị tam giữ thuộc sở hữu hợp pháp của bên thứ ba ngay tình. Theo đó, nếu bên thứ ba có lỗi cố ý trong việc để tang vật, phương tiện sử dụng vào vi phạm hành chính sẽ bị tịch thu vào ngân sách. Trường hợp tang vật, phương tiện thuộc sở hữu hợp pháp của bên thứ ba và họ không có lỗi hoặc chỉ có lỗi vô ý trong việc để tang vật, phương tiện bị sử dụng vào vi phạm hành chính thì sẽ không bị tịch thu mà phải trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, đồng thời, cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp một khoản tiền tương đương với giá trị tang vật, phương tiện vi phạm vào ngân sách nhà nước. Mục đích của quy định này nhằm đảm bảo trách nhiệm cá nhân, tổ chức đối với hành vi vi phạm và đối với quyết định xử phạt…

Bên cạnh những điểm tiến bộ, quy định của pháp luật về vấn đề này vẫn còn một số bất cập như sau:

Thứ nhất, một số nội dung chưa được quy định cụ thể, rõ ràng

Khoản 6 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định việc tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và việc trả lại phương tiện vi phạm cho chủ sở hữu hợp pháp trong trường hợp người vi phạm sử dụng trái phép. Tuy nhiên, không quy định cụ thể thời hạn trả lại là bao lâu, cũng như trình tự, thủ tục trả lại như thế nào. Hoặc tại khoản 3 Điều 125 chỉ quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện mà không nhắc đến thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Ngoài ra, liên quan đến vấn đề xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, điều luật mới chỉ dừng lại ở việc quy định trách nhiệm nộp phạt tương đương với giá trị tang vật, phương tiện vi phạm trong trường hợp phương tiện, vi phạm đó thuộc sở hữu của bên thứ ba ngay tình, mà chưa có quy định cụ thể hơn hậu quả phát sinh từ tình huống này. Điều này làm cho người có thẩm quyền và người thứ ba có thể rơi vào tình thế khó xử bởi người có thẩm quyền thường không chấp nhận việc trả lại tang vật, phương tiện cho chủ sở hữu mà chờ đợi cá nhân, tổ chức vi phạm nộp khoản tiền tương ứng, trong khi đó, bên thứ ba trở thành bên bị xâm hại quyền sở hữu và có thể dẫn đến các con đường khiếu nại, khiếu kiện.

Khoản 4 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 và Điều 17 Nghị định số 115/2013/NĐ-CP quy định về thủ tục đến nhận tang vật, phương tiện vi phạm hành chính mà quá thời hạn tạm giữ, tuy nhiên, có một số bất cập là: (i) Chưa quy định rõ ai là người có trách nhiệm bảo quản phương tiện trong thời gian thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yến công khai tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ, liệu rằng người ra quyết định tạm giữ vẫn phải có trách nhiệm bảo quản tang vật, phương tiện đó trong thời gian thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ hay phải chuyển cho người khác? (ii) Trong trường hợp giá trị phương tiện vượt quá thẩm quyền tịch thu của người ra quyết định tạm giữ thì ai sẽ là người có thẩm quyền ra quyết định tịch thu phương tiện để bổ sung công quỹ nhà nước vẫn chưa có quy định cụ thể (người ra quyết định tạm giữ vẫn tiếp tục bảo quản tang vật, phương tiện đó và phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để xử lý theo quy định của pháp luật hay phải chuyển cho người có thẩm quyền?); (iii) Người ra quyết định tạm giữ phải thông báo ít nhất 02 lần trên phương tiện thông tin đại chúng của trung ương hoặc địa phương nơi tạm giữ tang vật, phương tiện và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện nhưng pháp luật chưa quy định cụ thể về khoảng thời gian giữa 02 lần thông báo là bao lâu?

Thứ hai, một số quy định pháp luật chưa phù phợp với thực tế

Điều luật không cho phép tạm giữ giấy chứng minh nhân dân, giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh… để đảm bảo xử phạt vi phạm hành chính, nhưng trên thực tế nhiều tổ chức, cá nhân chỉ có các loại giấy tờ này mà không có giấy phép, chứng chỉ hành nghề… Pháp luật còn quy định biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề phải có chữ ký của người ra quyết định tạm giữ, tuy nhiên, do tính chất của biên bản tạm giữ là phải lập ngay trong cuộc kiểm tra và phải giao ngay cho đối tượng có tang vật, phương tiện bị tạm giữ trong khi việc trực tiếp tham gia đoàn kiểm tra thường không có mặt của người có thẩm quyền ra quyết định.

Khoản 3 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thì có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính. Tuy nhiên, thực tế có trường hợp cần thiết phải tạm giữ nhưng lại chưa xác minh được giá trị tang vật, mức tiền áp dụng nên chưa thể xác định được người có thẩm quyền xử phạt, thẩm quyền tịch thu, do vậy, không thể xác định được người có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

Khoản 5 Điều 125 quy định về trách nhiệm bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ. Trong trường hợp tang vật, phương tiện bị tạm giữ phải niêm phong thì phải tiến hành ngay trước mặt người vi phạm, nếu người vi phạm vắng mặt thì phải tiến hành niêm phong trước mặt đại diện gia đình, đại diện tổ chức, đại diện chính quyền và người chứng kiến. Nội dung này khó thực hiện khi phương tiện, tang vật bị tạm giữ là xe ô tô, xe gắn máy hoặc các phương tiện tương tự.

Đối với vấn đề nhận lại tang vật, phương tiện bị tạm giữ,quy định này chỉ áp dụng được trong trường hợp người vi phạm cũng là chủ sở hữu hợp pháp, người quản lý, sử dụng hợp pháp đối với các tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Trong trường hợp người vi phạm không phải là người chủ sở hữu hợp pháp hay người quản lý, sử dụng hợp pháp đối với các tang vật, phương tiện vi phạm hành chính mà họ “không đến nhận mà không có lý do chính đáng” hoặc trường hợp không xác định được thì không có cơ sở xử lý theo nội dung quy định này.

2. Thực tiễn áp dụng biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính

Theo thống kê của Bộ Tư pháp, đến hết năm 2017, tổng số phương tiện giao thông đường bộ vi phạm hành chính đang được quản lý tại các điểm trông giữ là 82.581 phương tiện, trong đó trả lại cho người vi phạm hoặc chủ sở hữu, người sử dụng hợp pháp là 11.178 phương tiện; tịch thu sung ngân sách và thực hiện bán đấu giá là 10.518 phương tiện[1]. Tính đến hết tháng 8 năm 2018, tổng số phương tiện vi phạm trong cả nước tăng gấp 03 lần so với năm 2017. Điều đáng nói là số lượng phương tiện vi phạm quá thời hạn tạm giữ tương đối lớn (212.242 phương tiện), trong đó gần một nửa số lượng phương tiện chưa được xử lý (76.693 phương tiện)[2]. Điều này gây khó khăn cho công tác quản lý, bảo quản tang vật và xử lý của cơ quan có chức năng. Theo khoản 6 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính, trong trường hợp chỉ áp dụng hình thức phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt chỉ được tạm giữ một trong các loại giấy tờ theo thứ tự: Giấy phép lái xe hoặc giấy phép lưu hành phương tiện hoặc giấy tờ cần thiết khác có liên quan đến tang vật, phương tiện cho đến khi tổ chức, cá nhân đó chấp hành xong quyết định xử phạt. Trên cơ sở đó, tại điểm b khoản 2 Điều 11 Thông tư số 02/2016/TT-BCA ngày 04/01/2016 của Bộ Công an về quy trình thanh tra kiểm soát giao thông quy định khi lập biên bản vi phạm hành chính chỉ được tạm giữ một trong các loại giấy tờ theo thứ tự: Giấy phép lái xe, đăng ký xe, kiểm định, bảo hiểm… Trong nhiều trường hợp, quy định này không đảm bảo cho việc xử phạt do người vi phạm cố ý bỏ giấy tờ không đến xử lý hoặc tìm cách làm lại giấy tờ do các hành vi vi phạm quy định mức phạt tiền cao, chủ phương tiện lại phải chịu mọi chi phí cho việc lưu giữ nên họ sẵn sàng “bỏ của chạy lấy người”. Do đó, hiện nay số lượng hồ sơ tồn đọng khá nhiều và tình trạng quá tải ở các bãi trông giữ phương tiện ngày càng tăng, kéo dài nhiều năm gây lãng phí lớn cho xã hội.

Thêm vào đó, hiện nay, số lượng phương tiện giao thông đường bộ vi phạm hành chính bị tạm giữ lớn, trong khi đó kho bãi để giữ xe còn chật chội, chưa có mái che, gây khó khăn cho công tác quản lý cũng như công tác phòng cháy chữa cháy. Chi phí cho việc bảo quản còn gặp khó khăn do chưa có nguồn để thanh toán. Một số đơn vị phải đi thuê bãi giữ xe, điều này rất bất cập trong việc quản lý, bảo quản phương tiện tạm giữ, giảm giá trị sử dụng của phương tiện, gây lãng phí lớn về tài sản cho xã hội. Thủ tục để cá nhân, tổ chức vi phạm có thể tự quản lý tang vật, phương tiện còn quá phức tạp.

Liên quan đến thủ tục tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép chứng chỉ hành nghề, vướng mắc nhất là đa phần đội ngũ cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát lại không có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện cũng như giấy phép, chứng chỉ hành nghề vì theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền tịch thu mới có thẩm quyền tạm giữ. Mặc dù mẫu biên bản vi phạm hành chính số 01 ban hành kèm theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP của Chính phủ đã bổ sung nội dung (mục 10) ghi loại tang vật, phương tiện bị tạm giữ nhưng đây chỉ là giải pháp mang tính chất tạm thời.

Liên quan đến thủ tục niêm phong tang vật, phương tiện bị tạm giữ, có những trường hợp trên thực tế, người điều khiển phương tiện là xe gắn máy có hành vi vi phạm hành chính về giao thông đường bộ, bị áp dụng biện pháp tạm giữ phương tiện, họ chỉ đồng ý cho các lực lượng chức năng tạm giữ phương tiện khi phương tiện đã được niêm phong. Trong khi đó, quy định về niêm phong tang vật, phương tiện có liên quan đến vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ là không cụ thể và công cụ trang bị cho lực lượng chức năng thực hiện việc niêm phong còn thiếu (bao, thùng niêm phong), vì vậy, khi có yêu cầu của chủ phương tiện thì lực lượng chức năng thực sự lúng túng.

Ở một số địa phương cũng chưa đáp ứng đúng thủ tục giấy tờ về tạm giữ theo quy định của pháp luật. Theo Báo cáo của Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An, có trường hợp hồ sơ xử lý vi phạm hành chính có lập biên bản tạm giữ nhưng lại không ban hành quyết định tạm giữ theo quy định của khoản 4 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính, đồng thời biên bản tạm giữ ban hành cũng không đúng mẫu biên bản tạm giữ được ban hành kèm theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012[3].

3. Một số kiến nghị

Những bất cập từ thực tiễn áp dụng biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép chứng chỉ hành nghề xuất phát một phần từ hạn chế trong các quy định pháp luật về biện pháp ngăn chặn này. Vì vậy, nhằm khắc phục những vướng mắc, bất cập, cần quan tâm bổ sung và hoàn thiện một số vấn đề sau:

Một là, cần bổ sung các quy định cụ thể về thời hạn tạm giữ, thời hạn trả lại và trình tự, thủ tục để thực hiện việc trả lại phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Đối với các hành vi vi phạm có mức xử phạt lớn (ví dụ như hành vi vận chuyển lâm sản trái phép) cần tạm giữ luôn tang vật, phương tiện vi phạm mà không cần phải giữ các loại giấy tờ liên quan đến tang vật, phương tiện bởi chỉ giữ các loại giấy tờ (giấy phép lái xe, giấy phép lưu hành phương tiện...) thì không đủ đảm bảo cho việc thi hành quyết định xử phạt. Bổ sung các loại giấy tờ được tạm giữ nhằm đảm bảo thi hành quyết định xử phạt như: Giấy chứng minh nhân dân, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh... Bởi thực tế, nhiều tổ chức, cá nhân chỉ có các loại giấy tờ này mà không có giấy phép hay chứng chỉ hành nghề…

Hai là, liên quan đến thủ tục tạm giữ, cần bãi bỏ quy định biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề phải có chữ ký của người ra quyết định tạm giữ. Thiết nghĩ, vai trò của biên bản là ghi lại diễn biễn sự việc đang hoặc vừa mới xảy ra mà do những người chứng kiến thực hiện. Trong khi đó, người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ ít khi trực tiếp tham gia đoàn kiểm tra xử phạt, vì vậy, việc bỏ đi quy định về bắt buộc phải có chữ ký của người ra quyết định tạm giữ là cần thiết, đảm bảo cho thủ tục tạm giữ phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề được diễn ra nhanh chóng, hợp lý.

Ba là, liên quan đến vấn đề xử lý tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ cần sửa đổi một số nội dung sau: (i) Khoản 1 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định cá nhân vi phạm phải nộp một khoản tiền tương đương giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong trường hợp tang vật, phương tiện được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Mục đích của quy định này nhằm đảm bảo trách nhiệm của cá nhân, tổ chức đối với hành vi vi phạm, tuy nhiên, bên cạnh đó, Luật cần bổ sung thêm biện pháp khác trong trường hợp người vi phạm là người có thu nhập thấp thường không có đủ khoản tiền tương đương để nộp; (ii) Quy định về xử lý tang vật, phương tiên vi phạm hành chính quá thời hạn tạm giữ (khoản 4 Điều 126) mà người vi phạm không đến nhận nhưng không có lý do chính đáng hoặc không xác định được người vi phạm, pháp luật cần quy định thêm trường hợp người vi phạm không phải là chủ sở hữu hợp pháp mà không đến nhận thì việc xác định chủ sở hữu hợp pháp của phương tiện, tang vật vi phạm hành chính cần nhanh chóng được thực hiện để trả lại cho bên thứ ba ngay tình.

Bốn là, liên quan đến thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính cần được quy định theo hướng không bị giới hạn theo thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nhằm đảm bảo tính kịp thời, nhanh chóng trong việc làm chấm dứt vi phạm hành chính, đảm bảo xử phạt hiệu quả vi phạm hành chính.

Nguyễn Thị Thùy Dung

Khoa Luật, Đại học Vinh





[1]. Http://daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint. aspx?newsId=405081.

[2]. Http://daidoanket.vn/tieng-dan/xu-ly-phuong-tien-vi-pham-hanh-chinh-bi-tam-giu-lung-tung-vi-thieu-quy-dinh-tintuc430005 ngày 19/2/2019.

[3]. Nguyễn Quế Anh, “Kiểm tra việc thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện và cấp xã trên địa bàn thị xã Cửa Lò, Hoàng Mai và các huyện: Con Cuông, Thanh Chương, Kỳ Sơn”, xem tại Cổng thông tin điện tử Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An (www.tuphap.nghean.gov.vn) ngày 24/9/2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: