Thứ hai 24/08/2026 14:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính

Theo Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính là biện pháp ngăn chặn được áp dụng nhằm mục đích: (i) Để xác minh tình tiết mà nếu không tạm giữ thì không có căn cứ ra quyết định xử phạt; (ii) Để ngăn chặn ngay hành vi vi phạm hành chính mà nếu không tạm giữ thì sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội; (iii) Để đảm bảo thi hành quyết định xử phạt tiền. Bài viết phân tích những bất cập trong quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng biện pháp này, đồng thời đề xuất giải pháp hoàn thiện.


1. Quy định của pháp luật về biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép chứng chỉ hành nghề

Biện pháp ngăn chặn tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép chứng chỉ hành nghề được quy định tại Điều 125, Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012. So với Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính 2002, Luật đã mở rộng phạm vi áp dụng biện pháp tạm giữ không chỉ đối với tang vật, phương tiện, mà còn đối với cả giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính. Việc mở rộng phạm vi này giúp người có thẩm quyền thuận lợi hơn trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn nhằm xử lý các tình huống phát sinh trong thực tiễn cuộc sống. Chủ thể có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện… đồng thời là chủ thể có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Ngoài ra, Luật cũng quy định, người ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có trách nhiệm bảo quản tang vật, phương tiện và phải chịu trách nhiệm bồi thường hay bị xử lý theo quy định trong trường hợp tang vật, phương tiện bị mất, bán, hư hỏng...

Việc xử lý tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ (Điều 126) được Luật quy định cụ thể, chi tiết, dễ hiểu hơn trước, đặc biệt là quy định về tình huống tang vật, phương tiện bị tam giữ thuộc sở hữu hợp pháp của bên thứ ba ngay tình. Theo đó, nếu bên thứ ba có lỗi cố ý trong việc để tang vật, phương tiện sử dụng vào vi phạm hành chính sẽ bị tịch thu vào ngân sách. Trường hợp tang vật, phương tiện thuộc sở hữu hợp pháp của bên thứ ba và họ không có lỗi hoặc chỉ có lỗi vô ý trong việc để tang vật, phương tiện bị sử dụng vào vi phạm hành chính thì sẽ không bị tịch thu mà phải trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, đồng thời, cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp một khoản tiền tương đương với giá trị tang vật, phương tiện vi phạm vào ngân sách nhà nước. Mục đích của quy định này nhằm đảm bảo trách nhiệm cá nhân, tổ chức đối với hành vi vi phạm và đối với quyết định xử phạt…

Bên cạnh những điểm tiến bộ, quy định của pháp luật về vấn đề này vẫn còn một số bất cập như sau:

Thứ nhất, một số nội dung chưa được quy định cụ thể, rõ ràng

Khoản 6 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định việc tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và việc trả lại phương tiện vi phạm cho chủ sở hữu hợp pháp trong trường hợp người vi phạm sử dụng trái phép. Tuy nhiên, không quy định cụ thể thời hạn trả lại là bao lâu, cũng như trình tự, thủ tục trả lại như thế nào. Hoặc tại khoản 3 Điều 125 chỉ quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện mà không nhắc đến thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Ngoài ra, liên quan đến vấn đề xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, điều luật mới chỉ dừng lại ở việc quy định trách nhiệm nộp phạt tương đương với giá trị tang vật, phương tiện vi phạm trong trường hợp phương tiện, vi phạm đó thuộc sở hữu của bên thứ ba ngay tình, mà chưa có quy định cụ thể hơn hậu quả phát sinh từ tình huống này. Điều này làm cho người có thẩm quyền và người thứ ba có thể rơi vào tình thế khó xử bởi người có thẩm quyền thường không chấp nhận việc trả lại tang vật, phương tiện cho chủ sở hữu mà chờ đợi cá nhân, tổ chức vi phạm nộp khoản tiền tương ứng, trong khi đó, bên thứ ba trở thành bên bị xâm hại quyền sở hữu và có thể dẫn đến các con đường khiếu nại, khiếu kiện.

Khoản 4 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 và Điều 17 Nghị định số 115/2013/NĐ-CP quy định về thủ tục đến nhận tang vật, phương tiện vi phạm hành chính mà quá thời hạn tạm giữ, tuy nhiên, có một số bất cập là: (i) Chưa quy định rõ ai là người có trách nhiệm bảo quản phương tiện trong thời gian thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yến công khai tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ, liệu rằng người ra quyết định tạm giữ vẫn phải có trách nhiệm bảo quản tang vật, phương tiện đó trong thời gian thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ hay phải chuyển cho người khác? (ii) Trong trường hợp giá trị phương tiện vượt quá thẩm quyền tịch thu của người ra quyết định tạm giữ thì ai sẽ là người có thẩm quyền ra quyết định tịch thu phương tiện để bổ sung công quỹ nhà nước vẫn chưa có quy định cụ thể (người ra quyết định tạm giữ vẫn tiếp tục bảo quản tang vật, phương tiện đó và phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để xử lý theo quy định của pháp luật hay phải chuyển cho người có thẩm quyền?); (iii) Người ra quyết định tạm giữ phải thông báo ít nhất 02 lần trên phương tiện thông tin đại chúng của trung ương hoặc địa phương nơi tạm giữ tang vật, phương tiện và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện nhưng pháp luật chưa quy định cụ thể về khoảng thời gian giữa 02 lần thông báo là bao lâu?

Thứ hai, một số quy định pháp luật chưa phù phợp với thực tế

Điều luật không cho phép tạm giữ giấy chứng minh nhân dân, giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh… để đảm bảo xử phạt vi phạm hành chính, nhưng trên thực tế nhiều tổ chức, cá nhân chỉ có các loại giấy tờ này mà không có giấy phép, chứng chỉ hành nghề… Pháp luật còn quy định biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề phải có chữ ký của người ra quyết định tạm giữ, tuy nhiên, do tính chất của biên bản tạm giữ là phải lập ngay trong cuộc kiểm tra và phải giao ngay cho đối tượng có tang vật, phương tiện bị tạm giữ trong khi việc trực tiếp tham gia đoàn kiểm tra thường không có mặt của người có thẩm quyền ra quyết định.

Khoản 3 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thì có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính. Tuy nhiên, thực tế có trường hợp cần thiết phải tạm giữ nhưng lại chưa xác minh được giá trị tang vật, mức tiền áp dụng nên chưa thể xác định được người có thẩm quyền xử phạt, thẩm quyền tịch thu, do vậy, không thể xác định được người có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

Khoản 5 Điều 125 quy định về trách nhiệm bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ. Trong trường hợp tang vật, phương tiện bị tạm giữ phải niêm phong thì phải tiến hành ngay trước mặt người vi phạm, nếu người vi phạm vắng mặt thì phải tiến hành niêm phong trước mặt đại diện gia đình, đại diện tổ chức, đại diện chính quyền và người chứng kiến. Nội dung này khó thực hiện khi phương tiện, tang vật bị tạm giữ là xe ô tô, xe gắn máy hoặc các phương tiện tương tự.

Đối với vấn đề nhận lại tang vật, phương tiện bị tạm giữ,quy định này chỉ áp dụng được trong trường hợp người vi phạm cũng là chủ sở hữu hợp pháp, người quản lý, sử dụng hợp pháp đối với các tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Trong trường hợp người vi phạm không phải là người chủ sở hữu hợp pháp hay người quản lý, sử dụng hợp pháp đối với các tang vật, phương tiện vi phạm hành chính mà họ “không đến nhận mà không có lý do chính đáng” hoặc trường hợp không xác định được thì không có cơ sở xử lý theo nội dung quy định này.

2. Thực tiễn áp dụng biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính

Theo thống kê của Bộ Tư pháp, đến hết năm 2017, tổng số phương tiện giao thông đường bộ vi phạm hành chính đang được quản lý tại các điểm trông giữ là 82.581 phương tiện, trong đó trả lại cho người vi phạm hoặc chủ sở hữu, người sử dụng hợp pháp là 11.178 phương tiện; tịch thu sung ngân sách và thực hiện bán đấu giá là 10.518 phương tiện[1]. Tính đến hết tháng 8 năm 2018, tổng số phương tiện vi phạm trong cả nước tăng gấp 03 lần so với năm 2017. Điều đáng nói là số lượng phương tiện vi phạm quá thời hạn tạm giữ tương đối lớn (212.242 phương tiện), trong đó gần một nửa số lượng phương tiện chưa được xử lý (76.693 phương tiện)[2]. Điều này gây khó khăn cho công tác quản lý, bảo quản tang vật và xử lý của cơ quan có chức năng. Theo khoản 6 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính, trong trường hợp chỉ áp dụng hình thức phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt chỉ được tạm giữ một trong các loại giấy tờ theo thứ tự: Giấy phép lái xe hoặc giấy phép lưu hành phương tiện hoặc giấy tờ cần thiết khác có liên quan đến tang vật, phương tiện cho đến khi tổ chức, cá nhân đó chấp hành xong quyết định xử phạt. Trên cơ sở đó, tại điểm b khoản 2 Điều 11 Thông tư số 02/2016/TT-BCA ngày 04/01/2016 của Bộ Công an về quy trình thanh tra kiểm soát giao thông quy định khi lập biên bản vi phạm hành chính chỉ được tạm giữ một trong các loại giấy tờ theo thứ tự: Giấy phép lái xe, đăng ký xe, kiểm định, bảo hiểm… Trong nhiều trường hợp, quy định này không đảm bảo cho việc xử phạt do người vi phạm cố ý bỏ giấy tờ không đến xử lý hoặc tìm cách làm lại giấy tờ do các hành vi vi phạm quy định mức phạt tiền cao, chủ phương tiện lại phải chịu mọi chi phí cho việc lưu giữ nên họ sẵn sàng “bỏ của chạy lấy người”. Do đó, hiện nay số lượng hồ sơ tồn đọng khá nhiều và tình trạng quá tải ở các bãi trông giữ phương tiện ngày càng tăng, kéo dài nhiều năm gây lãng phí lớn cho xã hội.

Thêm vào đó, hiện nay, số lượng phương tiện giao thông đường bộ vi phạm hành chính bị tạm giữ lớn, trong khi đó kho bãi để giữ xe còn chật chội, chưa có mái che, gây khó khăn cho công tác quản lý cũng như công tác phòng cháy chữa cháy. Chi phí cho việc bảo quản còn gặp khó khăn do chưa có nguồn để thanh toán. Một số đơn vị phải đi thuê bãi giữ xe, điều này rất bất cập trong việc quản lý, bảo quản phương tiện tạm giữ, giảm giá trị sử dụng của phương tiện, gây lãng phí lớn về tài sản cho xã hội. Thủ tục để cá nhân, tổ chức vi phạm có thể tự quản lý tang vật, phương tiện còn quá phức tạp.

Liên quan đến thủ tục tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép chứng chỉ hành nghề, vướng mắc nhất là đa phần đội ngũ cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát lại không có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện cũng như giấy phép, chứng chỉ hành nghề vì theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền tịch thu mới có thẩm quyền tạm giữ. Mặc dù mẫu biên bản vi phạm hành chính số 01 ban hành kèm theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP của Chính phủ đã bổ sung nội dung (mục 10) ghi loại tang vật, phương tiện bị tạm giữ nhưng đây chỉ là giải pháp mang tính chất tạm thời.

Liên quan đến thủ tục niêm phong tang vật, phương tiện bị tạm giữ, có những trường hợp trên thực tế, người điều khiển phương tiện là xe gắn máy có hành vi vi phạm hành chính về giao thông đường bộ, bị áp dụng biện pháp tạm giữ phương tiện, họ chỉ đồng ý cho các lực lượng chức năng tạm giữ phương tiện khi phương tiện đã được niêm phong. Trong khi đó, quy định về niêm phong tang vật, phương tiện có liên quan đến vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ là không cụ thể và công cụ trang bị cho lực lượng chức năng thực hiện việc niêm phong còn thiếu (bao, thùng niêm phong), vì vậy, khi có yêu cầu của chủ phương tiện thì lực lượng chức năng thực sự lúng túng.

Ở một số địa phương cũng chưa đáp ứng đúng thủ tục giấy tờ về tạm giữ theo quy định của pháp luật. Theo Báo cáo của Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An, có trường hợp hồ sơ xử lý vi phạm hành chính có lập biên bản tạm giữ nhưng lại không ban hành quyết định tạm giữ theo quy định của khoản 4 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính, đồng thời biên bản tạm giữ ban hành cũng không đúng mẫu biên bản tạm giữ được ban hành kèm theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012[3].

3. Một số kiến nghị

Những bất cập từ thực tiễn áp dụng biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép chứng chỉ hành nghề xuất phát một phần từ hạn chế trong các quy định pháp luật về biện pháp ngăn chặn này. Vì vậy, nhằm khắc phục những vướng mắc, bất cập, cần quan tâm bổ sung và hoàn thiện một số vấn đề sau:

Một là, cần bổ sung các quy định cụ thể về thời hạn tạm giữ, thời hạn trả lại và trình tự, thủ tục để thực hiện việc trả lại phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Đối với các hành vi vi phạm có mức xử phạt lớn (ví dụ như hành vi vận chuyển lâm sản trái phép) cần tạm giữ luôn tang vật, phương tiện vi phạm mà không cần phải giữ các loại giấy tờ liên quan đến tang vật, phương tiện bởi chỉ giữ các loại giấy tờ (giấy phép lái xe, giấy phép lưu hành phương tiện...) thì không đủ đảm bảo cho việc thi hành quyết định xử phạt. Bổ sung các loại giấy tờ được tạm giữ nhằm đảm bảo thi hành quyết định xử phạt như: Giấy chứng minh nhân dân, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh... Bởi thực tế, nhiều tổ chức, cá nhân chỉ có các loại giấy tờ này mà không có giấy phép hay chứng chỉ hành nghề…

Hai là, liên quan đến thủ tục tạm giữ, cần bãi bỏ quy định biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề phải có chữ ký của người ra quyết định tạm giữ. Thiết nghĩ, vai trò của biên bản là ghi lại diễn biễn sự việc đang hoặc vừa mới xảy ra mà do những người chứng kiến thực hiện. Trong khi đó, người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ ít khi trực tiếp tham gia đoàn kiểm tra xử phạt, vì vậy, việc bỏ đi quy định về bắt buộc phải có chữ ký của người ra quyết định tạm giữ là cần thiết, đảm bảo cho thủ tục tạm giữ phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề được diễn ra nhanh chóng, hợp lý.

Ba là, liên quan đến vấn đề xử lý tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ cần sửa đổi một số nội dung sau: (i) Khoản 1 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định cá nhân vi phạm phải nộp một khoản tiền tương đương giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong trường hợp tang vật, phương tiện được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Mục đích của quy định này nhằm đảm bảo trách nhiệm của cá nhân, tổ chức đối với hành vi vi phạm, tuy nhiên, bên cạnh đó, Luật cần bổ sung thêm biện pháp khác trong trường hợp người vi phạm là người có thu nhập thấp thường không có đủ khoản tiền tương đương để nộp; (ii) Quy định về xử lý tang vật, phương tiên vi phạm hành chính quá thời hạn tạm giữ (khoản 4 Điều 126) mà người vi phạm không đến nhận nhưng không có lý do chính đáng hoặc không xác định được người vi phạm, pháp luật cần quy định thêm trường hợp người vi phạm không phải là chủ sở hữu hợp pháp mà không đến nhận thì việc xác định chủ sở hữu hợp pháp của phương tiện, tang vật vi phạm hành chính cần nhanh chóng được thực hiện để trả lại cho bên thứ ba ngay tình.

Bốn là, liên quan đến thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính cần được quy định theo hướng không bị giới hạn theo thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nhằm đảm bảo tính kịp thời, nhanh chóng trong việc làm chấm dứt vi phạm hành chính, đảm bảo xử phạt hiệu quả vi phạm hành chính.

Nguyễn Thị Thùy Dung

Khoa Luật, Đại học Vinh





[1]. Http://daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint. aspx?newsId=405081.

[2]. Http://daidoanket.vn/tieng-dan/xu-ly-phuong-tien-vi-pham-hanh-chinh-bi-tam-giu-lung-tung-vi-thieu-quy-dinh-tintuc430005 ngày 19/2/2019.

[3]. Nguyễn Quế Anh, “Kiểm tra việc thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện và cấp xã trên địa bàn thị xã Cửa Lò, Hoàng Mai và các huyện: Con Cuông, Thanh Chương, Kỳ Sơn”, xem tại Cổng thông tin điện tử Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An (www.tuphap.nghean.gov.vn) ngày 24/9/2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: