![]() |
| Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh chủ trì buổi làm việc với Cục Kiểm soát thủ tục hành chính về dự thảo Báo cáo trình Bộ Chính trị về tình hình thực hiện công tác thủ tục hành chính và đề xuất nhiệm vụ, giải pháp cho giai đoạn 2026 - 2030 |
Trình bày dự thảo Báo cáo, Quyền Cục trưởng Cục Kiểm soát thủ tục hành chính Nguyễn Hùng Huế cho biết, thời gian qua Cục đã tiếp thu ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Bộ và góp ý của các đơn vị để tiếp tục hoàn thiện nội dung dự thảo. Theo đó, sau hơn 30 năm triển khai kể từ năm 1994 đến nay, công tác cải cách thủ tục hành chính tại Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả toàn diện.
Từ giai đoạn xây dựng nền tảng thể chế, đơn giản hóa thủ tục, đến tăng cường kiểm soát việc ban hành, cắt giảm điều kiện kinh doanh và hiện nay là tái cấu trúc quy trình trên cơ sở dữ liệu, đẩy mạnh chuyển đổi số, thực hiện thủ tục hành chính không phụ thuộc vào địa giới hành chính.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác cải cách thủ tục hành chính vẫn còn khoảng cách so với yêu cầu thực tiễn và mục tiêu lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm. Thể chế kiểm soát thủ tục hành chính chưa được hoàn thiện kịp thời; công tác quản lý nhà nước còn thiếu tính thống nhất; việc chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu và hạ tầng chưa đồng bộ; cơ chế huy động sự tham gia giám sát của người dân, doanh nghiệp còn hạn chế.
![]() |
| Bộ trưởng Nguyễn Hải Ninh phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc |
Giai đoạn 2026 - 2030 được xác định là thời kỳ then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đặt ra yêu cầu phải nâng cao chất lượng quản trị và năng lực cạnh tranh thể chế. Trong bối cảnh đó, thủ tục hành chính không chỉ là công cụ tổ chức thực thi chính sách mà còn là phương thức tương tác trực tiếp giữa Nhà nước với người dân và doanh nghiệp.
Định hướng đổi mới tập trung vào ba trụ cột: thể chế minh bạch, quy trình tinh gọn, thực thi hiệu quả; chuyển từ "kiểm soát thủ tục" sang "kiểm soát chi phí tuân thủ", từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên quản lý rủi ro; thúc đẩy quản trị công hiện đại, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm.
Các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm được đề ra bao gồm: nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu; tiếp tục hoàn thiện thể chế, nghiên cứu xây dựng Luật Kiểm soát thủ tục hành chính; tối ưu hóa nguồn lực phù hợp với khối lượng và tính chất công việc; phát huy vai trò phản biện, giám sát của người dân, doanh nghiệp và các hiệp hội. Đồng thời, Bộ Tư pháp dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị nhằm tạo quyết tâm chính trị cao, bảo đảm công tác cải cách thủ tục hành chính đi vào thực chất, hiệu quả, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân và doanh nghiệp.
Kết luận buổi làm việc, Bộ trưởng Nguyễn Hải Ninh yêu cầu tiếp tục rà soát, hoàn thiện Báo cáo theo hướng bảo đảm tính logic, đồng bộ giữa việc chỉ ra hạn chế và đề xuất giải pháp. Nội dung Báo cáo cần thể hiện sự tương ứng chặt chẽ giữa những tồn tại, hạn chế với các giải pháp khắc phục; rà soát, bổ sung đầy đủ các giải pháp tương ứng với từng vấn đề đặt ra. Các kiến nghị, đề xuất phải bám sát Kết luận của Bộ Chính trị, tránh trùng lặp, dàn trải.
Đối với từng nội dung cụ thể, Bộ trưởng cơ bản thống nhất với phần đánh giá kết quả đạt được. Tuy nhiên, về công tác chỉ đạo, điều hành, cần rà soát lại phạm vi cải cách thủ tục hành chính, làm rõ các giải pháp trọng tâm. Đồng thời, cần nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm và mức độ quan tâm của người đứng đầu làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp phù hợp.
Liên quan đến thể chế kiểm soát thủ tục hành chính, Bộ trưởng chỉ rõ sau 16 năm triển khai đã bộc lộ một số hạn chế về nội dung, công cụ và tiêu chí kiểm soát; vì vậy Báo cáo cần phân định rõ đâu là hạn chế, đâu là giải pháp, bảo đảm mạch lạc và rõ ràng.
Đối với tổ chức thực hiện thủ tục hành chính, cần xác định rõ chủ thể trong việc tiếp nhận và giải quyết thủ tục. Về dữ liệu, Bộ trưởng nhấn mạnh đây là yếu tố cốt lõi, có ý nghĩa quyết định trong bối cảnh đẩy mạnh khoa học công nghệ và chuyển đổi số; do đó cần làm nổi bật vai trò của dữ liệu và đề xuất giải pháp cụ thể, trong đó tăng cường kiểm tra tiến độ hoàn thành cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành, địa phương, xem đây là một chỉ tiêu quan trọng tương tự như đánh giá đầu tư công hằng năm.
Bên cạnh đó, cần tách bạch, làm rõ nội dung về hạ tầng phục vụ thủ tục hành chính; bổ sung số liệu minh chứng về thực trạng nguồn lực còn hạn chế so với khối lượng và tính chất công việc ngày càng phức tạp, trên cơ sở đó đề xuất cơ chế, chính sách phù hợp.
Bộ trưởng cũng lưu ý phải phát huy đầy đủ vai trò của người dân, doanh nghiệp và các hiệp hội đại diện, bởi công tác kiểm soát thủ tục hành chính tác động trực tiếp đến các chủ thể này; đồng thời đưa nội dung kinh nghiệm quốc tế vào phần chính của Báo cáo thay vì trình bày tại phụ lục.
Về phần đánh giá chung, Báo cáo cần được cấu trúc thành bốn tiểu kết tương ứng với bốn nhóm nội dung đã nêu. Trên cơ sở các hạn chế đã được phân tích, đơn vị soạn thảo tiếp tục rà soát, sắp xếp lại nội dung Báo cáo bảo đảm rõ ràng, chặt chẽ và thuận tiện cho việc theo dõi.