Thứ ba 17/03/2026 07:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo đảm thông tin trên mạng xã hội

Tại Việt Nam, dân số đạt gần 100 triệu người nhưng số lượng người dùng mạng xã hội năm 2021 lên tới khoảng 73,6 triệu người, khoảng 95% người dùng internet. Một số mạng xã hội được sử dụng phổ biến nhất là Facebook, Youtube, Zalo và Instagram. Theo thống kê, năm 2021, lượng người dùng của Youtube tại Việt Nam lên tới khoảng 66,63 triệu người, dự kiến đạt 75,44 triệu người dùng vào năm 2025.

Tóm tắt: Bài viết này nêu rõ những mặt tích cực của mạng xã hội mang lại, đồng thời chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân và đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về bảo đảm thông tin trên mạng xã hội trong thời gian tới.

Abstract: This article highlights the positive aspects brought by social networks, at the same time points out the limitations, causes and offers some solutions to strengthen the state management of information assurance on social networks in the next time.

1. Tác động của mạng xã hội tới đời sống xã hội ở Việt Nam
Cùng với sự gia tăng của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và phát triển của khoa học công nghệ cũng như cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, thế giới đang chứng kiến những thay đổi căn bản trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Với nền tảng internet, cùng với các mạng viễn thông, các hệ thống máy tính, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, con người đã tạo ra không gian mạng - môi trường đặc biệt mà con người có thể thực hiện được các hành vi không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Theo thống kê, số lượng người sử dụng mạng xã hội trên thế giới hiện có tới 3,5 tỷ người (chiếm 46% tổng dân số toàn cầu), một người thường dành trung bình 02 tiếng 16 phút/ngày truy cập vào mạng xã hội, 91% người sử dụng mạng xã hội truy cập bằng điện thoại thông minh, trong đó, Facebook và Youtube là hai nền tảng mạng xã hội phổ biến nhất tính đến năm 2020[1].


Tại Việt Nam, dân số đạt gần 100 triệu người nhưng số lượng người dùng mạng xã hội năm 2021 lên tới khoảng 73,6 triệu người, khoảng 95% người dùng internet. Một số mạng xã hội được sử dụng phổ biến nhất là Facebook, Youtube, Zalo và Instagram. Theo thống kê, năm 2021, lượng người dùng của Youtube tại Việt Nam lên tới khoảng 66,63 triệu người, dự kiến đạt 75,44 triệu người dùng vào năm 2025[2].


Mạng xã hội là một nền tảng trực tuyến trên môi trường internet, có nhiều dạng thức và tính năng khác nhau, có thể truy cập dễ dàng từ nhiều phương tiện, thiết bị như máy tính bảng, laptop, điện thoại di động… với nội dung phong phú và cách thức sử dụng dễ dàng, mạng xã hội mang lại rất nhiều tiện ích, ý nghĩa thiết thực như củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và điều hành của Chính phủ; góp phần tích cực vào sự phát triển nhận thức, tư duy và kỹ năng sống của con người; đóng góp tích cực vào sự phát triển của văn hóa cộng đồng; thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế trên lĩnh vực văn hóa của Việt Nam… Mạng xã hội cung cấp cho cộng đồng người sử dụng các dịch vụ lưu trữ, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin, tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn, trò chuyện trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh, học tập, nghiên cứu và các hình thức dịch vụ tương tự khác…
Bên cạnh mặt tích cực, mạng xã hội cũng tồn tại không ít những yếu tố tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường xã hội, lợi ích cộng đồng và tình hình an ninh, trật tự:
Một là, mạng xã hội đã và đang trở thành công cụ hàng đầu để các thế lực thù địch lợi dụng tiến hành phá hoại tư tưởng:Các thế lực thù địch, phản động, đối tượng cơ hội chính trị đã sử dụng mạng xã hội vào các hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng của Đảng, tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, lợi dụng chiêu bài phản biện xã hội, đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, bảo vệ môi trường… để đăng tải những bài viết có thông tin xấu, độc, tuyên truyền quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đảng, Nhà nước ta; chúng còn triệt để lợi dụng các tính năng của mạng xã hội để kích động, tập hợp lực lượng tổ chức đấu tranh “bất bạo động”, biểu tình nhằm gây sức ép đối với chính quyền, tạo “điểm nóng” để có cớ kêu gọi sự can thiệp từ bên ngoài…
Hai là, mạng xã hội tác động tiêu cực đối với sự phát triển văn hóa: Mạng xã hội phát triển làm gia tăng nguy cơ xói mòn bản sắc văn hóa dân tộc. Khi mạng xã hội phát triển thì dòng chảy của những cuộc “bá quyền”, “xâm lăng” văn hóa trở nên mạnh mẽ hơn về cường độ, mở rộng về quy mô, tác động đến hầu hết các cá nhân, nhất là bộ phận người trẻ. Xuất hiện các trào lưu tuyên truyền, cổ vũ lối sống tự do cá nhân, thực dụng, văn hóa đồi trụy, bạo lực… đi ngược lại truyền thống văn hóa dân tộc. Tình trạng nhiễu loạn thông tin, thật giả lẫn lộn trên mạng xã hội đang ở mức báo động, ảnh hưởng đến các giá trị văn hóa tốt đẹp của cộng đồng. Hoạt động tung tin đồn, giật gân câu “like” trên mạng xã hội ngày càng gia tăng, gây hoang mang trong dư luận. Một số vụ việc trên mạng xã hội thu hút số lượng rất lớn người quan tâm, theo dõi, hình thành tâm lý đám đông, áp lực dư luận, có thể tạo ra các giá trị lệch lạc hay khuynh hướng phức tạp trong văn hóa ứng xử.
Ba là, mạng xã hội đang trở thành công cụ, môi trường để tội phạm lợi dụng hoạt động: Với đặc tính ảo, mạng xã hội thường xuyên được các đối tượng phạm tội lợi dụng để hoạt động với các thủ đoạn như tạo tài khoản ảo để kết bạn, làm quen, sau đó lừa đảo chiếm đoạt tiền, tài sản; tiến hành đánh cắp mật khẩu, chiếm giữ quyền kiểm soát tài khoản trái phép để thu thập các thông tin cá nhân, nhất là những thông tin bí mật về tài chính, từ đó tìm cách đánh cắp, trục lợi. Một số đối tượng còn sử dụng mạng xã hội làm công cụ liên lạc trong quá trình mua bán, vận chuyển các loại hàng cấm, ma túy, vũ khí, vật liệu nổ và các hoạt động phạm tội khác.
2. Công tác quản lý nhà nước về bảo đảm thông tin trên mạng xã hội
Trong thời gian vừa qua, các cơ quan nhà nước đã triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về bảo đảm thông tin trên mạng xã hội; đấu tranh ngăn chặn thông tin xấu, độc trên mạng xã hội và đã đạt được những kết quả tích cực, cụ thể:
Thứ nhất, tham mưu Quốc hội, Chính phủ ban hành, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật tạo hành lang pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động trên mạng xã hội, cụ thể: Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2018); Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/72013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng; Nghị định số 27/2018/NĐ-CP ngày 01/3/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 72/2013/NĐ-CP; Nghị định số 119/2020/NĐ-CP ngày 07/10/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, hoạt động xuất bản… Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư số 09/2014/TT-BTTTT ngày 19/8/2014 quy định chi tiết về hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên trang thông tin điện tử và mạng xã hội; Thông tư số 38/2016/TT-BTTTT ngày 26/12/2016 quy định chi tiết về việc cung cấp thông tin công cộng qua biên giới (Thông tư số 38/2016/TT-BTTTT). Bộ Công an đã chủ động nắm tình hình, kịp thời tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 25/5/2020 về tăng cường phòng ngừa, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội.
Thứ hai, các cơ quan thông tấn, báo chí, truyền hình đã tích cực đưa tin, bài, tăng thời lượng phát sóng, mở các chuyên trang, chuyên mục đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, thù địch; các hành vi vi phạm pháp luật trên mạng xã hội. Nhiều chương trình truyền hình, báo chí có nội dung sâu sắc, bám sát thực tiễn như: Chương trình “Đối diện” của VTV, “Nhìn thẳng nói đúng” của VOV; “Bình luận - Phê phán” của Báo Nhân dân; chuyên mục “Chống diễn biến hòa bình” của Báo Quân đội nhân dân và Báo Công an nhân dân… đã phản ánh những luận điệu xuyên tạc, lừa bịp của các thế lực thù địch, phản động chống phá Đảng, Nhà nước, dân tộc ta.
Thứ ba, lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý những tổ chức, cá nhân có hành vi sai trái, phát tán thông tin giả, nội dung xấu, độc, phát ngôn thiếu chuẩn mực, các đối tượng lợi dụng quyền tự do ngôn luận có những bài viết trên mạng xã hội tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ. Nhiều đối tượng lợi dụng đại dịch Covid-19 đăng tin giả mạo gây hoang mang dư luận; buôn bán thuốc giả chữa Covid-19. Cụ thể, trong thời gian chống dịch Covid-19 đợt 01, các cơ quan chức năng đã xử phạt 21 vụ, với số tiền phạt là 203 triệu đồng; nhắc nhở 26 đối tượng tung tin giả mạo[3]. Trong năm 2021, Bộ Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý, ngăn chặn khoảng 2.000 trang web, hình ảnh, bài viết có chứa các thông tin xấu, độc, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của các tổ chức, cá nhân, sử dụng ngôn ngữ phản cảm, vi phạm thuần phong mỹ tục trên mạng xã hội, gây tác động xấu tới dư luận xã hội, đặc biệt là giới trẻ. Đồng thời, các cơ quan chức năng của Bộ Thông tin và Truyền thông và Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh, thành phố đã phối hợp xử phạt vi phạm hành chính 210 đối tượng với tổng số tiền 1.862.000.000 đồng, hàng trăm trường hợp vi phạm đăng tin xấu độc, vi phạm pháp luật Việt Nam trên mạng xã hội đã bị cảnh cáo, nhắc nhở kịp thời[4].
Thứ tư, công tác kiểm tra, chấn chỉnh các công ty truyền thông hoạt động quảng cáo trên không gian mạng như Facebook, Youtube… được tăng cường. Bộ Thông tin và Truyền thông đã có văn bản yêu cầu các cơ quan báo chí, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ quảng cáo rà soát hoạt động hợp tác với mạng lưới quảng cáo xuyên biên giới, không để tái diễn tình trạng quảng cáo vi phạm. Đồng thời, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước có phương án kiểm soát các giao dịch thanh toán với nước ngoài. Bộ Thông tin và Truyền thông đã chỉ đạo các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ internet (ISP) tăng cường công tác ngăn chặn, xử lý. Mặt khác, trong trường hợp không xác định được nhân thân của tổ chức, cá nhân vi phạm thì Bộ Thông tin và Truyền thông gửi yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ như Google, Youtube, Facebook... thực hiện các biện pháp ngăn chặn, gỡ bỏ theo quy định tại Thông tư số 38/2016/TT-BTTTT.
Những nguyên nhân cơ bản dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật, đăng thông tin xấu, độc trên mạng xã hội thời gian qua là do: (i) Nhận thức của xã hội, đặc biệt là của cơ quan, doanh nghiệp và cá nhân không đồng đều. Các chế tài ngăn ngừa, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về sử dụng mạng xã hội chưa đủ sức răn đe và thiếu hiệu quả. (ii) Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về an ninh mạng chưa hoàn thiện, bất cập, chưa theo kịp sự phát triển của thực tế. Nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hành vi vi phạm về sử dụng mạng xã hội. (iii) Tiềm lực quốc gia về an ninh mạng của Việt Nam còn hạn chế, chưa đủ mạnh; năng lực phòng, chống tội phạm tấn công mạng, thông tin xấu độc, vi phạm pháp luật trên mạng xã hội chưa thực sự đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. (iv) Lực lượng thực thi pháp luật còn thiếu, sự phối hợp giữa các lực lượng chức năng hiệu quả chưa cao; còn tình trạng một số mạng xã hội dựa trên nền tảng xuyên biên giới như Facebook chưa thực sự hợp tác chặt chẽ trong ngăn chặn, gỡ bỏ các nội dung vi phạm pháp luật, thông tin sai sự thật, kích động bạo lực… khi có yêu cầu của các cơ quan chức năng; (v) Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm có lúc, có nơi còn chưa quyết liệt, thực hiện xử phạt chưa nghiêm…
3. Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về bảo đảm thông tin trên mạng xã hội trong thời gian tới
Phòng, chống hoạt động vi phạm pháp luật nói chung và phòng ngừa tội phạm sử dụng mạng xã hội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và hệ thống chính trị xã hội, trong đó, lực lượng Công an nhân dân là nòng cốt, cần thực hiện có hiệu quả một số giải pháp sau:
Một là, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý về an ninh mạng đáp ứng yêu cầu phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hành vi vi phạm về sử dụng mạng xã hội. Cần sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoạt động cung cấp, sử dụng thông tin trên mạng xã hội theo hướng: Bổ sung các quy định cụ thể về hoạt động cung cấp thông tin công cộng xuyên biên giới vào Việt Nam, nguồn chính sách hỗ trợ phát triển mạng xã hội; tăng các mức chế tài xử phạt bảo đảm tính răn đe…
Hai là, huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong đối phó với các đối tượng phạm tội trên mạng xã hội; đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ internet nói chung, mạng xã hội nói riêng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và ý thức chấp hành các quy định của pháp luật khi cung cấp và sử dụng mạng xã hội; đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho người dân trong việc nâng cao, trau dồi kiến thức về pháp luật và nghiên cứu, kiểm tra kỹ lưỡng trước khi thực hiện các giao dịch về tài chính, đề phòng trước những khoản đầu tư mang lại “lợi nhuận cao”.
Ba là, triển khai thực hiện có hiệu quả Luật An toàn thông tin mạng và Luật An ninh mạng; đẩy mạnh công tác đấu tranh với các đối tượng lợi dụng mạng xã hội xâm phạm an ninh trật tự; phát hiện, tấn công, vô hiệu hóa các trang mạng xã hội có hành vi tuyên truyền, chống phá Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó, cần có cơ chế để một số mạng xã hội dựa trên nền tảng xuyên biên giới như Facebook, Youtube hợp tác chặt chẽ trong ngăn chặn, gỡ bỏ các nội dung vi phạm pháp luật, thông tin xấu độc, kích động bạo lực.
Bốn là, triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp nghiệp vụ trong đấu tranh ngăn chặn hoạt động, hành vi vi phạm pháp luật. Lực lượng chức năng có thẩm quyền cần chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm các trang mạng xã hội, diện đối tượng thường xuyên đăng tải, phát tán các thông tin sai sự thật, xuyên tạc; đối tượng thường xuyên truy cập các trang mạng phản động, bình luận nói xấu chế độ, Đảng và Nhà nước…, trên cơ sở đó, có những biện pháp quản lý, phối hợp xử lý nghiêm minh các trang mạng xã hội sai phạm, đối tượng vi phạm nhằm răn đe, không để các đối tượng lợi dụng mạng xã hội để thực hiện hành vi vi phạm.
Năm là, các bộ, ban, ngành cần có sự phối hợp trong hoạt động quản lý nhà nước về bảo đảm an ninh mạng. Thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông các địa phương cần phối hợp với lực lượng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm công nghệ cao (Bộ Công an) phát hiện, xử lý nghiêm những vi phạm về đăng tin xấu, độc, vi phạm pháp luật, đặc biệt là xử lý các đối tượng có hành vi sai phạm, phát ngôn thiếu chuẩn mực trên mạng xã hội. Xây dựng hệ thống trao đổi thông tin liên ngành, đường dây nóng, lực lượng phản ứng nhanh xử lý thông tin xấu, độc trên mạng xã hội; kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành liên quan trong ứng phó. Đối với các vụ việc vi phạm từ sử dụng mạng xã hội gây ra hậu quả nghiêm trọng cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đại ủy, ThS. Đỗ Văn Thanh
Học viện Cảnh sát nhân dân, Bộ Công an



[1]. https://blog.growsteak.com/71-thong-ke-du-lieu-xu-huong-ve-social-media-nam-2020.
[2]. https://dichvuseohot.com/thong-ke-nguoi-dung-mang-xa-hoi-tai-viet-nam/.
[3]. https://nhandan.com.vn/dien-dan/tin-gia-va-nguoi-doc-thong-thai-614893/.
[4]. https://mic.gov.vn/mic_2020/Pages/TinTuc/152518/Bo-TT-TT-kien-quyet-ngan-chan—xu-ly-cac-thong-tin-xau-doc-tren-mang-xa-hoi.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.

Theo dõi chúng tôi trên: