Thứ năm 16/07/2026 11:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thách thức đối với pháp luật môi trường Việt Nam dưới góc nhìn tham chiếu với CPTPP

Tóm tắt: Bài viết này phân tích thực trạng pháp luật môi trường Việt Nam hiện nay dưới góc nhìn tham chiếu với Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), từ đó, đưa ra định hướng hoàn thiện pháp luật môi trường Việt Nam khi gia nhập CPTPP.

Tóm tắt: Bài viết này phân tích thực trạng pháp luật môi trường Việt Nam hiện nay dưới góc nhìn tham chiếu với Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), từ đó, đưa ra định hướng hoàn thiện pháp luật môi trường Việt Nam khi gia nhập CPTPP.

Abstract: The paper analyzes the real situation of existing Vietnamese environment law under reference to the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership (CPTPP), thence, puts forward orientation for completion of Vietnamese environment law when entering CPTPP.

Ngày 04/02/2016, Việt Nam đã tham gia ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TTP) một hiệp định, thỏa thuận thương mại tự do nhằm mục đích hội nhập nền kinh tế các quốc gia thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Với vai trò quan trọng và tầm ảnh hưởng rộng lớn, TPP còn được xem như là “Hiệp định của Thế kỷ XXI”. TPP được ký kết chính thức giữa 12 nước tham gia gồm Mỹ, Canada, Mexico, Peru, Chile, New Zealand, Australia, Nhật Bản, Singapore, Brunei, Malaysia và Việt Nam. Đây là một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, với phạm vi cam kết rộng (bao gồm cả các vấn đề thương mại và phi thương mại trong đó có lĩnh vực bảo vệ tài nguyên môi trường) và mức độ cam kết rất cao. Tuy nhiên, ngay sau khi lên nắm quyền vào tháng 01/2017, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ký sắc lệnh hành pháp rút nước này khỏi TPP. Trước động thái này của Mỹ, 11 nước thành viên còn lại đã nỗ lực hồi sinh thỏa thuận này. Ngày 11/11/2017, 11 nước thành viên đã thống nhất đổi tên Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) thành Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Hiệp định CPTPP được đánh giá không chỉ là một hiệp định thương mại toàn diện và tiến bộ hơn, mà còn tạo nhiều động lực mới cho cải cách trong nhiều lĩnh vực… Các điều khoản thỏa thuận trong CPTPP sẽ giúp bảo vệ tài nguyên môi trường nước sở tại thông qua việc yêu cầu các bên liên đới tuân thủ các thỏa thuận quốc tế về bảo vệ tài nguyên môi trường và dùng những thỏa thuận này để giải quyết các tranh chấp phát sinh. Hiệp định còn có điều khoản về trợ cấp đánh bắt hải sản dẫn đến đánh bắt quá mức, cũng như quy định nghĩa vụ cho các nước thành viên xử lý việc mua bán thực vật và động vật hoang dã bất hợp pháp. Việc gia nhập CPTPP sẽ đem lại nhiều cơ hội cho Việt Nam, trong đó phải kể đến lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trường, nhưng bên cạnh đó chúng ta cũng phải đối mặt với nhiều thách thức lớn.

1. Thực trạng pháp luật môi trường Việt Nam hiện nay dưới góc nhìn tham chiếu với Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

Ô nhiễm môi trường là một thách thức lớn mà trên thế giới cũng như ở nước ta đã, đang và sẽ tiếp tục phải đối mặt trong thời gian dài. Pháp luật môi trường đang đặt ra các yêu cầu hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong lĩnh vực này. Có thể ghi nhận Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong quá trình xây dựng khung pháp lý về môi trường như việc ban hành Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, năm 2005 và mới nhất là Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Đa dạng sinh học, Luật Tài nguyên nước… nhưng thực tiễn thi hành pháp luật môi trường tại Việt Nam vẫn còn ở mức thấp, khung pháp lý chưa hoàn thiện và còn nhiều lỗ hổng, hạn chế. Theo kết quả nghiên cứu về ô nhiễm môi trường tại Việt Nam do Ngân hàng Thế giới (World Bank) thực hiện vừa qua, lượng phát thải gây ô nhiễm nhiều nhất đến từ các hoạt động kỹ nghệ. Tương tự nghiên cứu của World Bank, Chương trình Môi trường Liên Hiệp quốc (UNEP) báo cáo rằng Hà Nội và Sài Gòn đứng đầu châu Á về mức ô nhiễm bụi. Điều này đã phản ánh sự thiếu hoàn thiện trong khung pháp lý về môi trường ở Việt Nam, đặc biệt là thiếu những quy định chế tài cụ thể về bảo vệ môi trường ở các khu vực đô thị cũng như các vùng nông thôn. Sự thiếu hoàn thiện này được thể hiện trên hai khía cạnh: Thứ nhất, pháp luật môi trường Việt Nam hiện còn hạn chế, vướng mắc về cơ chế thực thi; thứ hai, sự không tuân thủ các quy định của pháp luật môi trường từ phía các chủ thể gây ô nhiễm môi trường. Để thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường dưới góc nhìn tham chiếu với CPTPP, có thể thấy rõ những vấn đề đặt ra cho pháp luật môi trường Việt Nam trong quá trình thực thi như sau:

1.1. Về bảo vệ tầng ozon

Tháng 01/1994, Việt Nam chính thức tham gia Công ước Vienna - Nghị định thư Montreal và một năm sau (1995) Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chương trình Quốc gia Việt Nam nhằm loại trừ dần các chất làm suy giảm tầng ôzôn”. Trước hết, Việt Nam xác định rõ các giải pháp về đầu tư và chuyển giao công nghệ cho những đơn vị, doanh nghiệp có sử dụng các chất ODS là tối quan trọng, quyết định đến sự thành công của Chương trình Quốc gia mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt. Trong thập kỷ 90, mỗi năm Việt Nam tiêu thụ khoảng 500 tấn CFC, 4 tấn holon và gần 400 tấn methyl bromide (những chất phá huỷ tầng ôzôn), trong đó lĩnh vực son khí (mỹ phẩm) chiếm tới 48,8%, làm lạnh 28,96%, điều hòa không khí 14,45%... Tuy nhiên, với những dự án khả thi đã thực hiện trong 10 năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành công lớn. Trên 200 tấn CFC 12 (chiếm gần 1/2 tổng số CFC được sử dụng trong cả nước) đã được loại trừ và đến thời điểm này, không còn doanh nghiệp nào tại Việt Nam sử dụng CFC trong sản xuất mỹ phẩm. Trong lĩnh vực làm lạnh và điều hòa không khí, Chương trình Quốc gia cũng đã đạt được những kết quả khả quan khi hàng năm giảm được trung bình 3,6 tấn CFC 11 trong ngành dệt may, 5,8 tấn CFC 12 trong sử dụng điều hòa không khí ô tô và 40 tấn CFC trong các thiết bị làm lạnh thương mại và gia dụng. Trong lĩnh vực chế biến nông - lâm sản xuất khẩu, Chương trình Quốc gia đã có dự án “Thay thế methyl bromide cho khử trùng xông hơi gạo đóng bao, ngũ cốc - hàng rời tại kho silô và gỗ tại các kho bằng cách trùm bạt” đã được thực hiện nhằm tìm ra các giải pháp và công nghệ phù hợp thay thế cho các chất nguy hại đến tầng ôzôn này[1]. Đồng thời, các biện pháp pháp lý cũng được Việt Nam chú trọng thực hiện. Bên cạnh đó, các khóa huấn luyện, đào tạo cho cán bộ hải quan, công tác tuyên truyền bảo vệ tầng ôzôn cũng được Chương trình Quốc gia thực hiện rất thành công liên tiếp nhiều năm. Những năm gần đây, một loạt các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ tầng ôzôn đã được Việt Nam ban hành. Về cơ bản, pháp luật Việt Nam đã tuân thủ các quy định tại Điều 20.5 của Hiệp định CPTPP về bảo vệ tầng ôzôn.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, Việt Nam còn phải đối mặt với khá nhiều những thách thức trong lĩnh vực này. Đơn cử như hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường không khí hiện hành bao gồm các quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng môi trường không khí xung quanh và quy chuẩn kỹ thuật về khí thải. Mới đây Nhà nước còn bổ sung thêm các quy chuẩn kỹ thuật đối với một số ngành sản xuất cụ thể như xi măng, nhiệt điện… Song hệ thống quy chuẩn môi trường không khí hiện hành chưa quy định cụ thể về tổng lượng thải và về thời điểm thải. Thực tế cho thấy, cùng một lĩnh vực hoạt động nhưng các cơ sở sản xuất lớn thường thải vào môi trường khối lượng khí thải lớn hơn các cơ sở sản xuất nhỏ. Lượng khí thải được thải vào môi trường không khí nhiều hay ít hoàn toàn phụ thuộc vào quy mô, lĩnh vực hoạt động của cơ sở đó. Vì thế, việc xử lý các khí thải đó cũng đòi hỏi các quy trình xử lý khác nhau. Nếu trong quy chuẩn thải khí không quy định tổng lượng thải mà áp dụng đồng đều nồng độ tối đa cho phép các chất độc hại như hiện nay là rất bất hợp lý. Tình trạng đó sẽ gây ra sự bất bình đẳng giữa các cơ sở sản xuất lớn và các cơ sở sản xuất nhỏ, đồng thời cũng có thể dẫn đến tình trạng xử lý khí thải mang tính chất đối phó, giả tạo. Hơn nữa, việc không quy định cụ thể thời điểm xả khí thải có thể dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường không khí do nguồn tiếp nhận khí thải bị quá tải. Do đó, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường ngày càng tăng ảnh hưởng khá nhiều đến hoạt động động bảo vệ tầng ôzôn ở Việt Nam[2].

1.2. Về bảo vệ môi trường biển

Điều 20.6 Hiệp định CPTPP yêu cầu Việt Nam thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường biển khỏi ô nhiễm từ tàu biển. Về lĩnh vực này, Việt Nam đã ban hành khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh, như Luật Bảo vệ môi trường năm 2014; Bộ luật Hàng hải năm 2015, có hiệu lực từ ngày 01/7/2017; Thông tư số 50/2012/TT-BGTVT ngày 19/12/2012 của Bộ Giao thông vận tải về quản lý tiếp nhận và xử lý chất thải chứa dầu từ tàu biển tại cảng của Việt Nam; Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu được ban hành kèm Quyết định số 02/2013/QĐ-TTg ngày 14/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia 26:2014/BGTVT do Bộ Giao thông vận tải ban hành ngày 30/6/2014 về hệ thống chống ô nhiễm của tàu biển… Thực tế cho thấy, Việt Nam đã rất tích cực trong việc ban hành và thực thi các văn bản pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển khỏi ô nhiễm từ tàu biển. Chủ động huy động nhân lực và các phương tiện phù hợp để xử lý sự cố môi trường do hoạt động tàu biển gây ra; thực hiện quản lý, giám sát cũng như điều tra, xử lý các vụ tai nạn và sự cố tràn dầu gây ô nhiễm môi trường biển... Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế vướng mắc trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật về lĩnh vực này. Cụ thể là, chưa quy định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong hoạt động khắc phục sự cố tràn dầu. Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc ứng cứu và khôi phục môi trường biển. Ngoài ra, các lực lượng tham gia không chuyên nghiệp dẫn đến thời gian khắc phục sự cố kéo dài, còn nhiều vướng mắc, hạn chế trong quá trình bảo vệ môi trường biển cũng như trong hoạt động yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại từ chủ thể gây tràn dầu...

1.3. Về đa dạng sinh học

Thế giới coi việc bảo vệ thiên nhiên và sự sống hoang dã là một lĩnh vực rất quan trọng, nó được xem xét và tổ chức lại dựa vào kết luận của Công ước quốc tế về đa dạng sinh học. Như vậy Công ước này có thể được coi là nơi kiểm soát tất cả các văn bản quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ đa dạng sinh học bởi vì nó hướng đến việc bảo vệ tất cả các loài vật sống. Điều 20.13 Hiệp định CPTPP đã công nhận tầm quan trọng của việc bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học và vai trò quan trọng của các quốc gia thành viên đối với việc phát triển bền vững. CPTPP yêu cầu các quốc gia phải thúc đẩy và khuyến khích việc bảo tồn, sử dụng bền vững đa dạng sinh học theo pháp luật hoặc chính sách của mình; phải tôn trọng, giữ gìn, duy trì kiến thức và thực tiễn của các cộng đồng bản địa và địa phương tiêu biểu cho lối sống truyền thống góp phần vào việc bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học; yêu cầu phải tiếp cận thuận lợi nguồn gen trong khu vực pháp lý quốc gia của mình, phù hợp với các nghĩa vụ quốc tế của mỗi bên; yêu cầu được thông báo trước thông qua các biện pháp quốc gia việc cho phép tiếp cận nguồn gen đó phù hợp với các biện pháp quốc gia và, khi truy cập như vậy được thông qua, việc thành lập điều khoản cùng thỏa thuận, bao gồm các điều khoản liên quan đến việc chia sẻ lợi ích từ việc sử dụng các nguồn gen đó giữa người sử dụng và các nhà cung cấp… Về lĩnh vực này, Việt Nam đã ban hành Luật Đa dạng sinh học năm 2008 và đặc biệt là đã ban hành Quy hoạch tổng thể phát triển đa dạng sinh học, Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030… Như vậy, pháp luật Việt Nam đã rất quan tâm điều chỉnh các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học, bước đầu đã được khai thác, sử dụng có hiệu quả từ du lịch sinh thái, môi trường, khai thác nguồn gen... góp phần đáng kể trong quá trình phát triển bền vững đất nước. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành pháp luật ở Việt Nam hiện còn nhiều hạn chế bất cập: Còn quy định chồng chéo các nội dung quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học dẫn đến việc áp dụng và thực thi còn nhiều khó khăn, vướng mắc; nguồn nhân lực còn thiếu và yếu về chuyên môn; quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về đa dạng sinh học chưa rõ ràng giữa Bộ chủ trì và các Bộ chuyên ngành, giữa các cơ quan chức năng ở địa phương; tài chính đầu tư cho bảo tồn đa dạng sinh học còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu và mục tiêu quản lý nhà nước về đa dạng sinh học; công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật còn bộc lộ nhiều bất cập; chưa có quy định về vai trò của cộng đồng và xã hội hóa bảo tồn đa dạng sinh học…

2. Định hướng hoàn thiện pháp luật môi trường Việt Nam khi gia nhập Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

Từ những phân tích về hạn chế, vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật môi trường ở Việt Nam, chúng tôi cho rằng, việc hoàn thiện pháp luật môi trường phải được tiến hành theo các định hướng sau đây:

Một là, hoàn thiện pháp luật môi trường ở Việt Nam phải trên cơ sở quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng và chiến lược xây dựng pháp luật của Nhà nước về bảo vệ tài nguyên môi trường; vận dụng linh hoạt các lý thuyết hiện đại về phát triển bền vững, phòng ngừa ô nhiễm môi trường; đường lối của Đảng và Nhà nước về hoạt động bảo vệ môi trường đối với việc phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam; nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường của người dân.

Hai là, hoàn thiện pháp luật môi trường ở Việt Nam phải phù hợp với thực trạng môi trường trong phạm vi cả nước và phải trên cơ sở sửa đổi, bổ sung, phát triển những quy định hiện hành; phải xác định đầy đủ và chính xác các yêu cầu đặt ra, đó là: (i) Khi xây dựng, hoàn thiện các nội dung trong pháp luật môi trường ở Việt Nam cần quan tâm đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành; (ii) Pháp luật môi trường ở Việt Nam phải được xây dựng trên cơ sở tôn trọng các yêu cầu về phát triển bền vững; (iii) Pháp luật môi trường ở Việt Nam phải chú ý đến yếu tố phòng ngừa; (iv) Pháp luật môi trường ở Việt Nam phải chú ý thực hiện nguyên tắc ai gây ô nhiễm, người đó phải trả tiền; (v) Pháp luật môi trường ở Việt Nam phải rõ ràng, minh bạch, dễ hiểu; (vi) Pháp luật môi trường ở Việt Nam phải mang tính ổn định và phù hợp với xu thế phát triển bền vững.

Như vậy, một khuôn khổ pháp lý về quản lý và bảo vệ môi trường hoàn chỉnh, phù hợp với thực trạng nền kinh tế Việt Nam là một yêu cầu bắt buộc và rất thiết thực. Khi đó, các chuẩn mực về bảo vệ môi trường ở Việt Nam mới tiến gần đến chuẩn mực bảo vệ môi trường của thế giới và đến lúc đó, Việt Nam mới đủ khả năng và điều kiện để hội nhập với nền kinh tế thế giới, đặc biệt là chuẩn bị tốt cho việc thi hành Hiệp định CPTPP trong thời gian tới.

TS. Lê Kim Nguyệt

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội





[1]. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2004), 10 năm Việt Nam thực hiện Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ozon (tr. 9), http://vnou.vn/wp-content/uploads/2017/11/10-n%C4%83m-NDT.pdf, truy cập ngày 20/12/2017.

[2]. Dương Thị Minh Thúy (2011), Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường không khí Việt Nam nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu - Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.

Theo dõi chúng tôi trên: