Thứ hai 16/03/2026 04:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thủ tục rút gọn trong xử lý nợ xấu

Tóm tắt: Bài viết phân tích một số bất cập trong quá trình thí điểm áp dụng thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm và quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản

Tóm tắt: Bài viết phân tích một số bất cập trong quá trình thí điểm áp dụng thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm và quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu và đề xuất hoàn thiện pháp luật hướng dẫn về điều kiện, thẩm quyền Tòa án giải quyết tranh chấp xử lý nợ xấu theo thủ tục rút gọn.

Abstract: The paper analyzes some shortcomings in the process of piloting the application of summary procedure for dispute resolution on the obligation to hand over security assets and the right to handle security assets of bad debts and makes proposal to complete the law guiding conditions and competence of the Court to settle bad debts according to summary procedures.


1. Quy định về thủ tục rút gọn trong xử lý nợ xấu

Thủ tục rút gọn được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 theo hướng quy định về trình tự, thủ tục đơn giản hơn, thời gian giải quyết vụ án nhanh hơn so với trình tự, thủ tục giải quyết các vụ tranh chấp dân sự thông thường. Thủ tục rút gọn được áp dụng để giải quyết nhanh chóng một số vụ án dân sự có đủ điều kiện nhất định về tính chất loại việc, nơi cư trú và không có yếu tố nước ngoài. Căn cứ xác định bản chất, phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn với các điều kiện cụ thể quy định tại Điều 316 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là: (i) Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ. (ii) Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng. (iii) Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản.

So với các vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn thông thường khác, việc áp dụng thủ tục rút gọn để xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng có những tính chất đặc thù riêng. Cơ sở pháp luật ghi nhận những đặc thù khi xem xét xử lý nợ xấu qua thủ tục rút gọn xuất phát từ bối cảnh tại thời điểm cuối năm 2016, số dư nợ xấu được xác định vào khoảng 600.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 10,8% tổng dư nợ của hệ thống ngân hàng[1]. Đây là thách thức lớn đối với hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. Ngày 21/6/2017, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (Nghị quyết số 42/2017/QH14) với phạm vi điều chỉnh quy định thí điểm một số chính sách về xử lý nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng; quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xử lý nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng.

Nghị quyết số 42/2017/QH14 được ban hành đã ghi nhận bước tiến mới trên cả phương diện chính sách và kỹ thuật lập pháp với nhiều quy định hướng đến nhiệm vụ xử lý nhanh, dứt điểm các khoản nợ xấu như: Vấn đề chuyển nhượng nợ xấu và hạch toán các khoản nợ xấu; quy định quyền và thủ tục thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý, thu hồi công nợ; quy định áp dụng thủ tục rút gọn khi giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm và quyền xử lý tài sản bảo đảm. Việc xác định cơ chế đặc thù theo thủ tục rút gọn nhằm tạo hành lang pháp lý giải quyết nợ xấu đang đe dọa đến sự an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng, góp phần lành mạnh hệ thống tài chính của tổ chức tín dụng, khơi thông dòng chảy tài chính cho nền kinh tế.

Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14 xác định các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm hoặc tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau: (i) Trong hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu cho bên nhận bảo đảm hoặc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu có quyền xử lý tài sản bảo đảm; (ii) Giao dịch bảo đảm hoặc biện pháp bảo đảm đã được đăng ký theo quy định của pháp luật; (iii) Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự giải trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản.

Cùng với việc ghi nhận các căn cứ giải quyết theo thủ tục rút gọn nêu trên, Nghị quyết số 42/2017/QH14 giao trách nhiệm cho Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện quy định tại điều này về thủ tục rút gọn. Trên cơ sở đó, ngày 15/5/2018, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại Tòa án nhân dân (Nghị quyết số 03/2018/HĐTP). Tại Điều 3 và Điều 4 Nghị quyết số 03/2018/HĐTP, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn chi tiết các căn cứ để xác định quyền khởi kiện của đương sự và trách nhiệm thụ lý của Tòa án theo thủ tục rút gọn khi chủ thể khởi kiện có yêu cầu xử lý nợ xấu là:

Thứ nhất, Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn đối với tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm, tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/NQ14. Việc nhận diện quan hệ pháp luật tranh chấp này theo thủ tục rút gọn trên cơ sở xác định bản chất của quan hệ pháp luật là:

- Tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu: Là tranh chấp về việc bên bảo đảm, bên giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu không giao tài sản bảo đảm hoặc giao không đúng theo yêu cầu của bên nhận bảo đảm, bên có quyền xử lý tài sản bảo đảm để xử lý tài sản đó nhằm giải quyết nợ xấu.

- Tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu là tranh chấp về việc xác định người có quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu.

Thứ hai, trong quá trình giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình, trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, nếu có đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm, tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14 mà tài sản bảo đảm đó là tài sản của vợ chồng thì Tòa án có thể tách yêu cầu của đương sự đó để giải quyết bằng một vụ án khác theo thủ tục rút gọn.

Như vậy, cùng với quy định chung của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có liên quan, việc giải quyết theo thủ tục rút gọn xử lý nợ xấu được hướng dẫn những trường hợp đặc thù trong Nghị quyết số 42/2017/QH14 và Nghị quyết số 03/2018/HĐTP. Sau 03 năm thực hiện, Nghị quyết số 42/2017/QH14 đã được thực thi hiệu quả trong cuộc sống, thể hiện bởi tỷ lệ nợ xấu giảm đáng kể, còn khoảng 4,59% cuối năm 2019 tổng dư nợ toàn hệ thống ngân hàng (trong đó, nợ xấu nội bảng ở mức 1,89%)[2]. Các tổ chức tín dụng đã kỳ vọng các giải pháp này được triển khai mạnh mẽ và ổn định. Bởi lẽ, so với các giải pháp khác được Nghị quyết số 42/2017/QH14 đưa ra thì giải pháp xử lý tài sản bảo đảm thu hồi công nợ là giải pháp căn cơ, triệt để và then chốt. Tuy nhiên, từ thực tiễn xét xử, phần lớn việc xử lý tài sản thu hồi nợ xấu đã và đang được thực hiện theo quy trình ngoài tố tụng, các vụ án liên quan đến giao dịch tín dụng, giao dịch bảo đảm mà có tranh chấp phải khởi kiện dù theo thủ tục tố tụng thông thường hay theo thủ tục rút gọn luôn phức tạp và kéo dài.

2. Một số khó khăn, vướng mắc khi áp dụng thủ tục rút gọn trong xử lý nợ xấu và kiến nghị

2.1. Thẩm quyền của Tòa án khi xem xét và thụ lý vụ án tranh chấp về xử lý nợ xấu trong thủ tục rút gọn

Khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 03/2018/HĐTP quy định: “Việc nộp đơn và thụ lý đơn khởi kiện tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành”. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn chưa đưa quy định thẩm quyền chuyên biệt của Tòa án trong việc xét xử các tranh chấp về tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu nên theo nguyên tắc chung, việc xác định thẩm quyền phải xem xét bản chất của quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng hay tranh chấp tài sản và quyền sở hữu. Căn cứ các quy định pháp luật hiện hành, nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm và quyền được xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu xuất phát từ thỏa thuận được các bên xác lập theo hợp đồng. Do đó, chúng tôi cho rằng, bản chất yêu cầu này vẫn thuộc quan hệ pháp luật hợp đồng chứ phải không phải là tranh chấp về tài sản và quyền sở hữu.

Khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14 quy định các tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm và quyền xử lý tài sản bảo đảm phải đáp ứng điều kiện có hợp đồng bảo đảm tài sản và trong hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu cho bên nhận bảo đảm hoặc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu có quyền xử lý tài sản bảo đảm; đồng thời, giao dịch bảo đảm hoặc biện pháp bảo đảm đó đã được đăng ký theo quy định pháp luật.

Điều 7 Nghị quyết số 42/2017/QH14 cho phép tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu có quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của bên bảo đảm, bên giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu trên cơ sở có thỏa thuận về quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý. Tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm và quyền được xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu về trình tự được giải quyết theo thủ tục rút gọn, về nội dung được giải quyết trên cơ sở thỏa thuận có hiệu lực pháp luật của các bên. Như vậy, theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 thì bên nhận bảo đảm có quyền chi phối trực tiếp lên vật bảo đảm thuộc sở hữu của bên bảo đảm nhưng các quyền này phát sinh trên cơ sở thỏa thuận, chứ không phải là một quyền đương nhiên. Các đặc điểm này chi phối việc xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án.

Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ trên nguyên tắc Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan tổ chức, ngoại trừ trường hợp các đương sự có thỏa thuận bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn hoặc đối tượng tranh chấp là bất động sản thì Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.

Như vậy, các tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm và tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu là các tranh chấp về quyền chi phối lên tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm. Tuy nhiên, quyền và nghĩa vụ của các bên được xác lập trên cơ sở hợp đồng và cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp là hợp đồng các bên đã giao kết. Vì lý do này, tài sản bảo đảm có tranh chấp về nghĩa vụ giao và quyền xử lý có thể là bất động sản nhưng không thể yêu cầu Tòa án nơi có tài sản bảo đảm giải quyết vì pháp luật chưa có quy định tranh chấp về tài sản bảo đảm là bất động sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nơi có tài sản bảo đảm là bất động sản. Những quy định chưa đồng bộ này đang tạo ra nhiều bất cập khi Tòa án thụ lý, giải quyết theo thủ tục rút gọn.

Một là, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu nằm ở nhiều nơi: Việc quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm và quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu thuộc nơi cư trú của người bị kiện gặp phải khó khăn trong nhiều trường hợp: (i) Trường hợp người bị kiện thế chấp nhiều tài sản ở các nơi khác nhau; (ii) Trường hợp người bị kiện không cư trú trên bất động sản đã thế chấp cho nghĩa vụ trả nợ vay; (iii) Trường hợp một khoản vay được bảo đảm bằng tài sản của bên vay, vừa được bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba.

Khi xảy ra các trường hợp mà tài sản thế chấp tồn tại hoặc đang được cầm giữ ở các địa bàn bàn khác nhau, không thuộc địa bàn cư trú của bị đơn sẽ làm phát sinh thủ tục ủy thác tư pháp cho Tòa án nơi có tài sản trong việc thẩm định và định giá tài sản, làm cho vụ án bị kéo dài. Thêm nữa, do loại tranh chấp này bản chất vẫn là tranh chấp hợp đồng nên khi đương sự khởi kiện và Tòa án thụ lý theo thủ tục rút gọn, trong quá trình chuẩn bị xét xử, đương sự đối lập thường là bên quản lý tài sản bảo đảm, bên chủ sở hữu bất động sản không thống nhất về xử lý tài sản mới tranh chấp. Nhiều trường hợp, đương sự yêu cầu tuyên bố giao dịch bảo đảm vô hiệu. Với các trường hợp phát sinh nêu trên, thực tiễn đều vượt khỏi phạm vi thẩm quyền theo thủ tục rút gọn được ghi nhận tại Nghị quyết số 03/2018/HĐTP nên các Tòa án đều đình chỉ giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn để hướng dẫn đương sự khởi kiện theo thủ tục án thông thường.

Hai là, trường hợp tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu có tranh chấp: Điểm b khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14 quy định điều kiện giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm và quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi tài sản bảo đảm được đăng ký theo quy định pháp luật. Nghị quyết đã ghi nhận điều kiện này để có căn cứ xác định bên nhận bảo đảm là người được quyền ưu tiên cao nhất, đối kháng với bên thứ ba. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy quy định này vẫn còn những vướng mắc trong các trường hợp: (i) Trường hợp tài sản bảo đảm là đối tượng của một giao dịch với bên thứ ba làm phát sinh quyền cầm giữ tài sản của bên thứ ba theo quy định tại tiểu mục 8, mục 3 Chương XV Phần thứ 3 Bộ luật Dân sự năm 2015; (ii) Trường hợp tài sản bảo đảm được thế chấp và đăng ký theo quy định pháp luật nhưng trước khi đăng ký chủ sở hữu tài sản bảo đảm đã cầm cố cho bên thứ ba trong một giao dịch khác, bên cầm cố là người cầm giữ tài sản; (iii) Trường hợp tài sản bảo đảm được bên thứ ba đầu tư làm tăng giá trị. Tranh chấp về phần tài sản tăng thêm trên tài sản bảo đảm không phải là tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm và quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu.

Với các trường hợp đề cập ở trên, do Nghị quyết số 42/2017/QH14 không quy định tranh chấp này phải được giải quyết theo trình tự, thủ tục rút gọn nên khi thụ lý đương sự có yêu cầu, Tòa án vẫn phải giải quyết theo thủ tục chung vì vẫn phải tiến hành các bước hòa giải, không đáp ứng được yêu cầu của thủ tục rút gọn. Ngoài ra, thực tiễn xét xử còn nhiều tình tiết khác cản trở Tòa án khi quyết định thụ lý tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm và quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo thủ tục rút gọn hoặc phải ra quyết định chuyển vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn để chuyển sang giải quyết theo thủ tục thông thường khi gặp những tình tiết như trên phát sinh. Nếu không có ghi nhận cụ thể, việc giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn sẽ được dẫn chiếu tới quy định tại khoản 3 Điều 317 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo đó, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn, nếu xuất hiện tình tiết mới làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn thì Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường. Nghiên cứu cho thấy, nếu xuất hiện một trong 06 căn cứ sau đây thì Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường:

- Phát sinh tình tiết mới mà các đương sự không thống nhất do đó cần phải xác minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ hoặc cần phải tiến hành giám định;

- Cần phải định giá, thẩm định giá tài sản tranh chấp mà các đương sự không thống nhất về giá;

- Cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

- Phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Phát sinh yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập;

- Phát sinh đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ ở nước ngoài mà cần phải thực hiện ủy thác tư pháp, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản.

Bên cạnh đó, tại khoản 4 Điều 317 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì trường hợp chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường thì thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính lại kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường. Quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án có thêm thời gian để giải quyết tranh chấp nhưng đồng thời cũng rất bất cập khi đương sự lựa chọn khởi kiện ở thủ tục rút gọn lại bị đình chỉ chuyển sang giải quyết theo thủ tục án dân sự. Ngoài những vướng mắc trên, hiện chưa có các quy định mang tính ràng buộc trách nhiệm của thẩm phán trong việc lựa chọn vụ án để giải quyết theo thủ tục rút gọn. Trên thực tế, số lượng án mỗi thẩm phán được phân công nhiều, các thẩm phán chịu áp lực về thời hạn đưa các vụ án ra xét xử để đảm bảo chỉ tiêu và thành tích thi đua theo quy định của Tòa án nhân dân tối cao. Trong khi đó, Tòa án nhân dân tối cao chưa áp chỉ tiêu tỷ lệ các vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn trên tổng số án thụ lý. Do đó, đa số các thẩm phán có tâm lý né tránh việc ra quyết định thụ lý vụ án để giải quyết theo thủ tục rút gọn.

Tác giả cho rằng, để khắc phục các vấn đề vướng mắc trên, trước tiên về nghiệp vụ cần có những quy định hướng dẫn đặc thù trong nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán để không dẫn chiếu áp dụng như thủ tục thông thường nếu không có quy định ngoại lệ. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó. Do vậy, tất cả các quan hệ tố tụng được xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt đều dựa trên cơ sở tự nguyện, tự thỏa thuận và bình đẳng giữa các chủ thể. Tuy nhiên, sự tự định đoạt của đương sự chỉ được thực hiện trong khuôn khổ mà pháp luật quy định. Có như vậy mới đảm bảo tính hợp pháp, hợp hiến, tạo tiền đề cho quyền tố tụng của đương sự được đảm bảo thực hiện. Vì vậy, cần mở rộng phạm vi xét xử tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm, quyền xử lý tài sản bảo đảm và các tranh chấp khác đối kháng với nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm và quyền xử lý tài sản bảo đảm để bảo đảm quyền đúng nghĩa theo tinh thần của Nghị quyết số 42/2017/QH14 về xử lý nợ xấu theo thủ tục rút gọn. Bên cạnh đó, Tòa án cần giao thêm chỉ tiêu, tỷ lệ các vụ án dân sự được giải quyết theo thủ tục rút gọn để nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục này trong thực tiễn xét xử.

2.2. Phạm vi xét xử của Tòa án khi áp dụng thủ tục rút gọn trong xử lý nợ xấu

Phạm vi xét xử được Nghị quyết số 42/2017/QH14 giới hạn bởi các tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm và quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ được hình thành và xác định là nợ xấu trước ngày 15/8/2017 và khoản nợ được hình thành trước ngày 15/8/2017 nhưng được xác định là nợ xấu trong thời gian Nghị quyết này có hiệu lực. Như vậy, phạm vi xét xử chỉ bao gồm các quan hệ pháp luật liên quan đến hợp đồng bảo đảm tài sản mà không bao gồm tranh chấp về hợp đồng tín dụng và là tài sản bảo đảm của các nợ xấu từ các hợp đồng tín dụng được ký trước ngày 15/8/2017.

Việc quy định phạm vi xét xử nêu trên còn có những bất cập trong xét xử. Có thể khi ban hành Nghị quyết số 42/2017/QH14, nhà làm luật đã mặc định bên vay và bên cho vay không có tranh chấp về số dư nợ, vấn đề tồn tại chỉ là việc bên có nghĩa vụ chây ỳ không thanh toán và không hợp tác trong việc xử lý tài sản bảo đảm để thanh toán nợ. Bên cạnh đó, tại Điều 4 Nghị quyết số 03/2018/HĐTP đặt ra yêu cầu thành phần hồ sơ khởi kiện theo thủ tục rút gọn là có tài liệu chứng minh khoản nợ đang có tranh chấp là khoản nợ xấu. Đây là tài liệu do bên cho vay (hoặc người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bên cho vay) xác nhận. Tuy nhiên, bản thân số dư nợ được văn bản này xác nhận vẫn tồn tại tranh chấp. Có một thực tiễn là, trong các hợp đồng tín dụng, bên cho vay thường quy định các khoản nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi phạt chậm trả lãi. Từ khi Hội đồng Thẩm phán ban hành Quyết định giám đốc thẩm số 28/2015/KDTM-GĐT ngày 04/12/2015 về vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng với nhận định việc hợp đồng tín dụng thỏa thuận lãi phạt chậm trả lãi là “lãi chồng lãi” nên trái pháp luật, thì hầu hết các hợp đồng tín dụng bị coi là vô hiệu một phần.

Ngày 30/12/2016, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài với khách hàng (Thông tư số 39/2016/TT-NHNN). Điều 33 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/3/2017. Tại điểm b khoản 4 Điều 13 về nghĩa vụ trả lãi trên số tiền lãi chậm thanh toán có ghi nhận: “Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả”.

Khoản 1 Điều 34 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng tiếp tục thực hiện các nội dung trong hợp đồng tín dụng đã ký kết phù hợp với quy định của pháp luật có hiệu lực thi hành tại thời điểm ký kết hợp đồng đó hoặc thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng phù hợp với quy định tại Thông tư này”.

Bất cập trên tồn tại với những khoản nợ xấu thuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị quyết số 42/2017/QH14. Chúng tôi cho rằng, Tòa án nhân dân tối cao cần có những quy định phù hợp để tháo gỡ những khó khăn nêu trên. Bên cạnh việc hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan, trong đó có những hướng dẫn cụ thể về điều kiện thụ lý theo thủ tục rút gọn, ghi nhận trường hợp đặc thù áp dụng thủ tục rút gọn đối với các tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm và quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu không có tranh chấp về số dư nợ.

PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng

Học viện Tư pháp

Luật sư Phạm Hồng Quảng

Công ty Luật TNHH Hồng Minh Đăng



[1]. Https://fsppm.fulbright.edu.vn/en/news-events/faculty-in-the-news/no-xau-nhin-tu-goc-do-quan-tri/.

[2]. Https://soha.vn/thong-doc-le-minh-hung-ty-le-no-xau-va-no-tiem-an-giam-manh-du-tru-ngoai-hoi-len-gan-80-ty-usd-20200102134346201.htm .

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.

Theo dõi chúng tôi trên: