Thứ năm 15/01/2026 18:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự - Những khó khăn, vướng mắc và đề xuất, kiến nghị

Tố tụng hình sự là một trong những lĩnh vực thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. So với lĩnh vực quản lý hành chính, thi hành án dân sự, số lượng vụ việc giải quyết bồi thường cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự chiếm tỷ lệ lớn và hầu hết các vụ việc trong hoạt động tố tụng hình sự thường là những vụ việc phức tạp, kéo dài, tạo ra sự quan tâm lớn trong dư luận xã hội. Chính vì vậy, ở bài viết này tác giả xin đưa ra phân tích, đánh giá thực tiễn thi hành, những khó khăn, vướng mắc và hướng khắc phục ở công tác triển khai và hoàn thiện pháp luật thực định.

1. Sơ lược về tình hình yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự

Theo kết quả tổng kết 06 năm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, từ ngày 01/01/2010 đến ngày 31/12/2015, Tòa án các cấp đã thụ lý, giải quyết 38 vụ việc, đã giải quyết xong 32 vụ việc, với số tiền phải bồi thường là 37 tỷ 772 triệu 742 nghìn đồng, trong đó có 7 tỷ 272 triệu 247 nghìn đồng của ông Nguyễn Thanh Chấn (Bắc Giang), 22 tỷ 977 triệu 183 nghìn đồng của ông Lương Ngọc Phi (Thái Bình), còn 06 vụ việc đang giải quyết; Viện kiểm sát các cấp đã thụ lý, giải quyết đối với 113 trường hợp yêu cầu bồi thường, đã giải quyết xong 93 trường hợp, với tổng số tiền phải bồi thường là 16 tỷ 415 triệu 005 nghìn đồng, còn 20 trường hợp đang giải quyết; Ngành Công an đã thụ lý, giải quyết 11 vụ việc, đã giải quyết xong 7 vụ việc, với số tiền phải bồi thường là 2 tỷ 221 triệu 637 nghìn đồng, còn 04 vụ việc đang tiếp tục giải quyết; cơ quan tiến hành tố tụng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng đã thụ lý, giải quyết 01 vụ việc với số tiền bồi thường là 350 triệu đồng (Quân khu III)[1]. Trong 06 năm thi hành, trong lĩnh vực quản lý hành chính, các cơ quan đã thụ lý 57 vụ việc yêu cầu bồi thường, trong đó, số vụ việc đã giải quyết bồi thường là 45 vụ việc (đạt tỷ lệ 78,9 %) với tổng số tiền Nhà nước phải bồi thường là 12 tỷ 742 triệu 442 nghìn đồng; trong lĩnh vực thi hành án dân sự là 38 vụ việc, trong đó, số vụ việc đã giải quyết là 26 vụ việc (chiếm tỷ lệ 68,4 %), với số tiền Nhà nước phải bồi thường là 9 tỷ 118 triệu 106 nghìn đồng, còn 12 vụ việc đang trong quá trình giải quyết.

Như vậy, trong số các bộ, ngành đã giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, Viện kiểm sát nhân dân các cấp là có số vụ việc yêu cầu bồi thường cao nhất. Qua số liệu về tình hình yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường trong lĩnh vực tố tụng hình sự cho thấy, số lượng vụ việc yêu cầu bồi thường và số tiền giải quyết bồi thường trong lĩnh vực này chiếm tỷ lệ lớn hơn so với lĩnh vực quản lý hành chính và thi hành án. Và hầu hết những vụ việc yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự thường là những vụ việc phức tạp, kéo dài và gặp nhiều vướng mắc trong quá trình giải quyết. Sau đây, tác giả xin phân tích thực trạng, nguyên nhân một số khó khăn, vướng mắc trong hoạt động giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, cụ thể:

Thứ nhất, nhiều người dân sau khi được minh oan còn có tâm lý e ngại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình. Tâm lý e ngại này, một phần xuất phát từ việc người dân cho rằng, cơ quan đã gây ra oan sai cho mình có “quyền lực”, không bình đẳng với mình sẽ không xem xét quyền lợi cho mình thỏa đáng, thậm chí có có thể gây khó khăn, phiền hà cho mình. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, người bị thiệt hại gặp khó khăn trong việc yêu cầu bồi thường do không xác định được cơ quan có trách nhiệm bồi thường[2] hoặc khó khăn trong việc thu thập văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường[3], trong việc tìm tài liệu, chứng cứ chứng minh thiệt hại. Việc tìm các giấy tờ làm căn cứ chứng minh thiệt hại như: Biên lai khám chữa bệnh, hóa đơn mua thuốc, vé tầu xe đi lại... là rất khó.

Thứ hai, vẫn còn tình trạng đùn đẩy trách nhiệm giải quyết bồi thường giữa các cơ quan tố tụng, làm cho vụ việc chậm được thụ lý và việc giải quyết bị kéo dài vượt quá thời hạn theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước gây bức xúc cho người bị thiệt hại và cả dư luận xã hội.

Thứ ba, nhiều vụ việc giải quyết không bảo đảm được thời hạn theo quy định của pháp luật do tính chất của nhiều vụ việc rất phức tạp, liên quan tới nhiều cơ quan, từ đó dẫn tới tỷ lệ vụ việc chưa được giải quyết phải chuyển sang kỳ sau qua từng năm vẫn còn cao[4].

Thứ tư, việc thương lượng giữa người bị thiệt hại với cơ quan có trách nhiệm bồi thường khó đạt được đồng thuận do tâm lý không tin tưởng vào cơ quan có trách nhiệm bồi thường vì đây chính là cơ quan đã gây ra oan, sai cho người bị thiệt hại.

Thứ năm, việc thẩm định hồ sơ cấp phát kinh phí chi trả tiền bồi thường còn chậm so với quy định của pháp luật, gây khó khăn cho cơ quan có trách nhiệm bồi thường và gây bức xúc cho người bị thiệt hại[5]. Việc thực hiện các thủ tục đề nghị cấp kinh phí chi trả tiền bồi thường trong các lĩnh vực nói chung và lĩnh vực tố tụng hình sự nói riêng chưa được kịp thời, cụ thể, theo quy định hiện hành, thời hạn lập hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường là 05 ngày làm việc, kể từ ngày bản án, quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực pháp luật, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải chuyển ngay hồ sơ đề nghị cấp kinh phí chi trả tiền bồi thường đến cơ quan tài chính cùng cấp; trường hợp là cơ quan hưởng kinh phí từ ngân sách trung ương phải chuyển hồ sơ đến cơ quan quản lý cấp trên, thời hạn xét, cấp kinh phí là 45 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị cấp kinh phí hợp lệ. Tuy nhiên, trên thực tế, việc chi trả tiền bồi thường kể từ khi ra quyết định giải quyết bồi thường đến lúc người bị thiệt hại được chi trả thường kéo dài, trung bình từ 04 tháng đến 01 năm, cá biệt có những vụ việc gần hai năm vẫn chưa được giải quyết.

Thứ sáu, việc thực hiện cung cấp thông tin hoặc phản hồi các vấn đề báo chí đăng tải về công tác bồi thường nhà nước trong tố tụng hình sự chưa được quan tâm đúng mức, không chủ động cung cấp thông tin, do đó, chưa định hướng được dư luận xã hội trong việc xử lý, giải quyết đối với một số vụ việc phức tạp, nhạy cảm.

2. Nhận diện một số tồn tại, bất cập trong các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự

Nhiều quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước còn nhiều bất cập như:

2.1. Quy định về cơ quan giải quyết bồi thường chưa thực sự hợp lý

Các giai đoạn của tố tụng hình sự là một quá trình rất dài, bao gồm: Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Căn cứ theo quy định tại Điều 29 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, các cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự là cơ quan được quy định tại các Điều 30, 31 và 32 của Luật. Đó có thể là Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Viện kiểm sát hay Tòa án và được quy định cụ thể đối với từng trường hợp theo quy định tại Điều 4, Thông tư liên tịch số 05/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BQP-BTC-BNN&PTNT. Với quy định về cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong tố tụng hình sự hiện hành, có thể hiểu hoạt động tố tụng hình sự thực hiện sai ở khâu nào thì cơ quan tiến hành tố tụng ở khâu đó thay mặt Nhà nước đứng ra giải quyết bồi thường. Nhưng có phải trường hợp nào cũng dễ dàng xác định cơ quan tiến hành tố tụng đứng ra giải quyết bồi thường hay không, sau đây, xin đưa ra ví dụ vụ việc cụ thể của ông Phan Văn Lá, sinh năm 1967 ở xã Vĩnh Châu, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Năm 1991, ông Lá bị Tòa án huyện Châu Thành xử 04 năm tù về tội hủy hoại tài sản XHCN theo Bộ luật Hình sự năm 1985. Đến tháng 9/1992, Tòa án tỉnh Long An hủy án và trả hồ sơ cho công an huyện Châu Thành điều tra lại. Đến 2013, công an huyện Châu Thành mới ra quyết định đình chỉ điều tra vì lý do hết thời hạn điều tra, không chứng minh được tội phạm. Như vậy, ông Lá mang thân phận bị can trong 21 năm và khi ông yêu cầu bồi thường thì các cơ quan trung ương và địa phương đều không thống nhất, có dấu hiệu đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Bộ Công an và Viện Kiểm sát cho rằng trường hợp này thuộc trách nhiệm bồi thường của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, Tòa án nhân dân tối cao thì cho rằng đây là trách nhiệm của cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát. Tỉnh ủy Long An đã chủ trì giải quyết khiếu nại của ông Lá nhưng Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao tối cao không thống nhất được cơ quan nào sẽ đứng ra bồi thường cho ông Lá. Và cuối cùng, Công an huyện Châu Thành đã nhận trách nhiệm bồi thường oan cho ông Lá (nguồn Báo Đời sống - Pháp luật).

Với trường hợp nêu trên, cả ba cơ quan tiến hành tố tụng đều có lỗi, tuy nhiên các cơ quan đều có sự đùn đẩy trách nhiệm, không đứng ra giải quyết cho người bị oan, gây bức xúc trong dư luận. Nhà nước là Nhà nước đơn nhất, nhưng khi xảy ra oan, sai, người dân lại phải xác định xem cơ quan nào là cơ quan có trách nhiệm bồi thường để đi đòi bồi thường có hợp lý hay không, trong khi tố tụng hình sự là hoạt động với nhiều giai đoạn hết sức phức tạp, đặc biệt trên thực tế xảy ra rất nhiều vụ việc theo kiểu “án tại hồ sơ” thì rất khó xác định trách nhiệm của từng cơ quan trong việc xảy ra oan, sai.

2.2. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự chưa phù hợp

Theo quy định tại khoản 5 Điều 31 Hiến pháp năm 2013: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự”. Trong khi đó, phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự tại Điều 26 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chưa quy định trường hợp này. Do vậy, với quy định như pháp luật hiện hành, thì phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự bị thu hẹp hơn so với Hiến pháp năm 2013, không bảo đảm được mục tiêu bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Trên thực tế, thời gian qua, việc bắt người trong hoạt động tố tụng hình sự còn có nhiều sai sót, trong ba năm (từ 01/10/2011 đến 30/9/2014) cơ quan điều tra đã thực hiện việc bắt, tạm giữ hình sự đối với 4.998 trường hợp, nhưng sau đó phải chuyển xử lý hành chính. Viện kiểm sát các cấp đã không phê chuẩn 861 người bị bắt khẩn cấp. Riêng năm 2014 Viện kiểm sát các cấp đã không phê chuẩn 109 lệnh bắt khẩn cấp[6]. Như vậy, rất nhiều trường hợp người bị bắt trái pháp luật nhưng không được xem xét bồi thường, quyền lợi không được bảo đảm vì không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Hiện nay, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã ghi nhận pháp nhân là chủ thể của một số tội phạm và Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đã có quy định về thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân (Chương XXIX). Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 31 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 cũng mới chỉ quy định nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại là cá nhân trong tố tụng hình sự mà chưa quy định đối với pháp nhân bị thiệt hại do bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan, sai. Và theo quy định tại Điều 26 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự cũng chỉ quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân người bị thiệt mà chưa quy định đối với pháp nhân.

2.3. Quy định về thẩm quyền giải quyết bồi thường của Tòa án chưa phù hợp

Khoản 1 Điều 23 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định: “Toà án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường là Toà án nhân dân cấp huyện nơi cá nhân bị thiệt hại cư trú, làm việc, nơi tổ chức bị thiệt hại đặt trụ sở, nơi thiệt hại xảy ra theo sự lựa chọn của người bị thiệt hại hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự”. Trên thực tế, trong hoạt động tố tụng hình sự đã xảy ra những trường hợp, Tòa án nhân dân cấp huyện xét xử vụ việc bồi thường đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh[7] và nếu trong trường hợp bản án sơ thẩm bị kháng cáo thì Tòa án xử phúc thẩm lại chính là Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Theo quy định của Hiến pháp, của pháp luật tố tụng, hoạt động xét xử của Tòa án theo nguyên tắc Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế Tòa cấp trên, cấp dưới cũng bị ảnh hưởng bởi công tác tổ chức, hay việc xét xử vụ việc bồi thường đối với chính Tòa mình thì cũng khó bảo đảm được tính khách quan.

Ngoài ra, theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đối với các vụ việc có yếu tố nước ngoài thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới có thẩm quyền giải quyết. Như vậy, nếu vụ việc yêu cầu bồi thường có yếu tố nước ngoài thì Tòa án huyện là Tòa án có thẩm quyền giải quyết bồi thường là không phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

2.4. Quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường chưa hợp lý

Tại khoản 1 Điều 5 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định: “Thời hiệu yêu cầu bồi thường là 02 năm, kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật hoặc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường quy định…”. Quy định này không hợp lý theo nguyên tắc tính thời hiệu thông thường và dễ gây bất lợi cho người bị thiệt hại, vì trên thực tế có trường hợp bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường đã được ban hành nhưng người bị thiệt hại chưa hoặc không nhận được văn bản đó; đến khi họ có được văn bản này thì có thể đã hết thời hiệu yêu cầu giải quyết bồi thường.

2.5. Chưa có quy định cụ thể về việc xin lỗi, cải chính công khai

Điều 51 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định về việc khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự, tuy nhiên, chưa quy định cụ thể về trình tự, cách thức tiến hành xin lỗi, cải chính công khai. Vì vậy, có những trường hợp trên thực tế, người bị oan cũng như thân nhân của của họ chưa thực sự thỏa mãn với việc được xin lỗi[8]. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành, cụ thể trong lĩnh vực tố tụng hình sự là Tông tư liên tịch số 05/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BQP_BTC-BNN&PTNT ngày 02/11/2012 hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước không có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, hình thức và thành phần tham dự, chương trình của việc tổ chức xin lỗi công khai. Cũng chính vì chưa có quy định cụ thể như vậy dẫn tới tình trạng trên thực tế không có sự thống nhất giữa các buổi xin lỗi, mỗi buổi xin lỗi lại được thực hiện khác nhau, nhiều trường hợp được thực hiện qua loa, chiếu lệ gây bức xúc trong dư luận xã hội.

2.6. Quy định về thời hạn thực hiện thủ tục bồi thường còn chưa khả thi

Quy định của pháp luật về thủ tục thương lượng, thời hạn giải quyết bồi thường, chi trả tiền bồi thường còn chưa hợp lý, gây khó khăn cho hoạt động giải quyết bồi thường; chưa có quy định đặc thù về trình tự, thủ tục rút gọn để giải quyết bồi thường cho các trường hợp bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự.

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định thời hạn xác minh thiệt hại là 20 ngày, trường hợp phức tạp thì thời hạn xác minh là 40 ngày[9]. Tuy nhiên, hầu hết các vụ việc yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng thường có nhiều tình tiết phức tạp, thời gian xảy ra lâu, xác minh tại nhiều nơi, nhiều cơ quan; thậm trí trong một số trường hợp cần thiết phải tiến hành các thủ tục giám định và định giá tài sản… dẫn tới, thời hạn xác minh không bảo đảm được theo quy định của pháp luật.

Quy định về việc lập dự toán, quản lý và cấp phát kinh phí bồi thường theo hai cấp (trung ương và địa phương), quy trình thẩm định cấp kinh phí, chi trả tiền bồi thường còn phức tạp, nảy sinh nhiều bất cập, làm việc bồi thường kéo dài, ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị oan.

2.7. Quy định về trách nhiệm hoàn trả và xử lý kỷ luật chưa được cụ thể, chặt chẽ, chưa đủ sức răn đe

Quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về trách nhiệm hoàn trả và trách nhiệm kỷ luật đối với người thi hành công vụ, cũng như trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan trong hoạt động tố tụng hình sự còn chưa được cụ thể, chặt chẽ, dẫn tới việc xem xét trách nhiệm hoàn trả, xử lý kỷ luật trên thực tế chưa được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ. Mức hoàn trả theo quy định của pháp luật cũng chưa đủ sức răn đe đối với người thi hành công vụ, để từ đó góp phần nâng cao trách nhiệm công vụ, hạn chế việc phát sinh bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự.

3. Những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật trong thời gian tới

- Quy định về cơ quan giải quyết bồi thường theo hướng tập trung, có cơ quan chuyên trách giải quyết bồi thường, độc lập với cơ quan đã gây ra oan, sai;

- Bổ sung vào phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự đối với trường hợp bị bắt trái pháp luật, bổ sung thêm trường hợp bồi thường đối với pháp nhân thương mại bị điều tra, truy tố, xét xử oan, sai;

- Quy định lại về thẩm quyền giải quyết bồi thường của Tòa án cho phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Quy định về thời điểm tính thời hiệu yêu cầu bồi thường là kể từ ngày người bị oan nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường;

- Quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, hình thức, thành phần tổ chức xin lỗi, cải chính công khai đối với người bị oan;

- Quy định thủ tục giải quyết bồi thường rút gọn đối với một số trường hợp bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự;

- Xem xét quy định về trách nhiệm hoàn trả, xử lý kỷ luật của người thi hành công vụ cho hợp lý.

Đào Thị Hải Yến

Cục Bồi thường nhà nước


[1] Báo cáo số 181/BC-BTP ngày 15/7/2016 của Bộ Tư pháp báo cáo tổng kết 06 năm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

[2] Vụ việc của ông Phan Văn Lá khiếu nại về việc Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An không thụ lý đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với việc Ông Lá bị khởi tố, bắt tạm giam và xét xử về “Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa” (theo quy định tại Điều 138 Bộ Luật Hình sự năm 1985); Vụ việc của ông Nguyễn Khắc Công, Yên Cường, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định yêu cầu bồi thường đối với việc bị truy tố về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, sau đó vụ án bị đình chỉ điều tra do không đủ căn cứ truy tố bị can.

[3] Vụ việc của ông Nguyễn Thanh Chấn tại tỉnh Bắc Giang yêu cầu Tòa án nhân dân tối cao bồi thường sau 10 năm bị tù oan.

[4] Theo Báo cáo số 347/BC-BTP ngày 12/12/2014 của Bộ Tư pháp báo cáo tình hình thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cho người bị oan, sai trong hoạt động tố tụng hình sự.

[5] Điển hình như vụ việc của ông Lương Ngọc Phi, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

[6] Báo cáo số 870/BC-UBTVQH13 ngày 20/5/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về kết quả giám sát về “Tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật”.

[7] Vụ việc của ông Lương Ngọc Phi, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình và vụ việc của anh Trần Hồng Nguyên, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

[8] Vụ việc của ông Huỳnh Văn Nén, tỉnh Bình Thuận.

[9] Điều 18 khoản 1 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: