Thứ tư 18/03/2026 09:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự - Những khó khăn, vướng mắc và đề xuất, kiến nghị

Tố tụng hình sự là một trong những lĩnh vực thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. So với lĩnh vực quản lý hành chính, thi hành án dân sự, số lượng vụ việc giải quyết bồi thường cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự chiếm tỷ lệ lớn và hầu hết các vụ việc trong hoạt động tố tụng hình sự thường là những vụ việc phức tạp, kéo dài, tạo ra sự quan tâm lớn trong dư luận xã hội. Chính vì vậy, ở bài viết này tác giả xin đưa ra phân tích, đánh giá thực tiễn thi hành, những khó khăn, vướng mắc và hướng khắc phục ở công tác triển khai và hoàn thiện pháp luật thực định.

1. Sơ lược về tình hình yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự

Theo kết quả tổng kết 06 năm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, từ ngày 01/01/2010 đến ngày 31/12/2015, Tòa án các cấp đã thụ lý, giải quyết 38 vụ việc, đã giải quyết xong 32 vụ việc, với số tiền phải bồi thường là 37 tỷ 772 triệu 742 nghìn đồng, trong đó có 7 tỷ 272 triệu 247 nghìn đồng của ông Nguyễn Thanh Chấn (Bắc Giang), 22 tỷ 977 triệu 183 nghìn đồng của ông Lương Ngọc Phi (Thái Bình), còn 06 vụ việc đang giải quyết; Viện kiểm sát các cấp đã thụ lý, giải quyết đối với 113 trường hợp yêu cầu bồi thường, đã giải quyết xong 93 trường hợp, với tổng số tiền phải bồi thường là 16 tỷ 415 triệu 005 nghìn đồng, còn 20 trường hợp đang giải quyết; Ngành Công an đã thụ lý, giải quyết 11 vụ việc, đã giải quyết xong 7 vụ việc, với số tiền phải bồi thường là 2 tỷ 221 triệu 637 nghìn đồng, còn 04 vụ việc đang tiếp tục giải quyết; cơ quan tiến hành tố tụng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng đã thụ lý, giải quyết 01 vụ việc với số tiền bồi thường là 350 triệu đồng (Quân khu III)[1]. Trong 06 năm thi hành, trong lĩnh vực quản lý hành chính, các cơ quan đã thụ lý 57 vụ việc yêu cầu bồi thường, trong đó, số vụ việc đã giải quyết bồi thường là 45 vụ việc (đạt tỷ lệ 78,9 %) với tổng số tiền Nhà nước phải bồi thường là 12 tỷ 742 triệu 442 nghìn đồng; trong lĩnh vực thi hành án dân sự là 38 vụ việc, trong đó, số vụ việc đã giải quyết là 26 vụ việc (chiếm tỷ lệ 68,4 %), với số tiền Nhà nước phải bồi thường là 9 tỷ 118 triệu 106 nghìn đồng, còn 12 vụ việc đang trong quá trình giải quyết.

Như vậy, trong số các bộ, ngành đã giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, Viện kiểm sát nhân dân các cấp là có số vụ việc yêu cầu bồi thường cao nhất. Qua số liệu về tình hình yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường trong lĩnh vực tố tụng hình sự cho thấy, số lượng vụ việc yêu cầu bồi thường và số tiền giải quyết bồi thường trong lĩnh vực này chiếm tỷ lệ lớn hơn so với lĩnh vực quản lý hành chính và thi hành án. Và hầu hết những vụ việc yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự thường là những vụ việc phức tạp, kéo dài và gặp nhiều vướng mắc trong quá trình giải quyết. Sau đây, tác giả xin phân tích thực trạng, nguyên nhân một số khó khăn, vướng mắc trong hoạt động giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, cụ thể:

Thứ nhất, nhiều người dân sau khi được minh oan còn có tâm lý e ngại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình. Tâm lý e ngại này, một phần xuất phát từ việc người dân cho rằng, cơ quan đã gây ra oan sai cho mình có “quyền lực”, không bình đẳng với mình sẽ không xem xét quyền lợi cho mình thỏa đáng, thậm chí có có thể gây khó khăn, phiền hà cho mình. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, người bị thiệt hại gặp khó khăn trong việc yêu cầu bồi thường do không xác định được cơ quan có trách nhiệm bồi thường[2] hoặc khó khăn trong việc thu thập văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường[3], trong việc tìm tài liệu, chứng cứ chứng minh thiệt hại. Việc tìm các giấy tờ làm căn cứ chứng minh thiệt hại như: Biên lai khám chữa bệnh, hóa đơn mua thuốc, vé tầu xe đi lại... là rất khó.

Thứ hai, vẫn còn tình trạng đùn đẩy trách nhiệm giải quyết bồi thường giữa các cơ quan tố tụng, làm cho vụ việc chậm được thụ lý và việc giải quyết bị kéo dài vượt quá thời hạn theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước gây bức xúc cho người bị thiệt hại và cả dư luận xã hội.

Thứ ba, nhiều vụ việc giải quyết không bảo đảm được thời hạn theo quy định của pháp luật do tính chất của nhiều vụ việc rất phức tạp, liên quan tới nhiều cơ quan, từ đó dẫn tới tỷ lệ vụ việc chưa được giải quyết phải chuyển sang kỳ sau qua từng năm vẫn còn cao[4].

Thứ tư, việc thương lượng giữa người bị thiệt hại với cơ quan có trách nhiệm bồi thường khó đạt được đồng thuận do tâm lý không tin tưởng vào cơ quan có trách nhiệm bồi thường vì đây chính là cơ quan đã gây ra oan, sai cho người bị thiệt hại.

Thứ năm, việc thẩm định hồ sơ cấp phát kinh phí chi trả tiền bồi thường còn chậm so với quy định của pháp luật, gây khó khăn cho cơ quan có trách nhiệm bồi thường và gây bức xúc cho người bị thiệt hại[5]. Việc thực hiện các thủ tục đề nghị cấp kinh phí chi trả tiền bồi thường trong các lĩnh vực nói chung và lĩnh vực tố tụng hình sự nói riêng chưa được kịp thời, cụ thể, theo quy định hiện hành, thời hạn lập hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường là 05 ngày làm việc, kể từ ngày bản án, quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực pháp luật, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải chuyển ngay hồ sơ đề nghị cấp kinh phí chi trả tiền bồi thường đến cơ quan tài chính cùng cấp; trường hợp là cơ quan hưởng kinh phí từ ngân sách trung ương phải chuyển hồ sơ đến cơ quan quản lý cấp trên, thời hạn xét, cấp kinh phí là 45 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị cấp kinh phí hợp lệ. Tuy nhiên, trên thực tế, việc chi trả tiền bồi thường kể từ khi ra quyết định giải quyết bồi thường đến lúc người bị thiệt hại được chi trả thường kéo dài, trung bình từ 04 tháng đến 01 năm, cá biệt có những vụ việc gần hai năm vẫn chưa được giải quyết.

Thứ sáu, việc thực hiện cung cấp thông tin hoặc phản hồi các vấn đề báo chí đăng tải về công tác bồi thường nhà nước trong tố tụng hình sự chưa được quan tâm đúng mức, không chủ động cung cấp thông tin, do đó, chưa định hướng được dư luận xã hội trong việc xử lý, giải quyết đối với một số vụ việc phức tạp, nhạy cảm.

2. Nhận diện một số tồn tại, bất cập trong các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự

Nhiều quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước còn nhiều bất cập như:

2.1. Quy định về cơ quan giải quyết bồi thường chưa thực sự hợp lý

Các giai đoạn của tố tụng hình sự là một quá trình rất dài, bao gồm: Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Căn cứ theo quy định tại Điều 29 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, các cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự là cơ quan được quy định tại các Điều 30, 31 và 32 của Luật. Đó có thể là Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Viện kiểm sát hay Tòa án và được quy định cụ thể đối với từng trường hợp theo quy định tại Điều 4, Thông tư liên tịch số 05/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BQP-BTC-BNN&PTNT. Với quy định về cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong tố tụng hình sự hiện hành, có thể hiểu hoạt động tố tụng hình sự thực hiện sai ở khâu nào thì cơ quan tiến hành tố tụng ở khâu đó thay mặt Nhà nước đứng ra giải quyết bồi thường. Nhưng có phải trường hợp nào cũng dễ dàng xác định cơ quan tiến hành tố tụng đứng ra giải quyết bồi thường hay không, sau đây, xin đưa ra ví dụ vụ việc cụ thể của ông Phan Văn Lá, sinh năm 1967 ở xã Vĩnh Châu, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Năm 1991, ông Lá bị Tòa án huyện Châu Thành xử 04 năm tù về tội hủy hoại tài sản XHCN theo Bộ luật Hình sự năm 1985. Đến tháng 9/1992, Tòa án tỉnh Long An hủy án và trả hồ sơ cho công an huyện Châu Thành điều tra lại. Đến 2013, công an huyện Châu Thành mới ra quyết định đình chỉ điều tra vì lý do hết thời hạn điều tra, không chứng minh được tội phạm. Như vậy, ông Lá mang thân phận bị can trong 21 năm và khi ông yêu cầu bồi thường thì các cơ quan trung ương và địa phương đều không thống nhất, có dấu hiệu đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Bộ Công an và Viện Kiểm sát cho rằng trường hợp này thuộc trách nhiệm bồi thường của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, Tòa án nhân dân tối cao thì cho rằng đây là trách nhiệm của cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát. Tỉnh ủy Long An đã chủ trì giải quyết khiếu nại của ông Lá nhưng Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao tối cao không thống nhất được cơ quan nào sẽ đứng ra bồi thường cho ông Lá. Và cuối cùng, Công an huyện Châu Thành đã nhận trách nhiệm bồi thường oan cho ông Lá (nguồn Báo Đời sống - Pháp luật).

Với trường hợp nêu trên, cả ba cơ quan tiến hành tố tụng đều có lỗi, tuy nhiên các cơ quan đều có sự đùn đẩy trách nhiệm, không đứng ra giải quyết cho người bị oan, gây bức xúc trong dư luận. Nhà nước là Nhà nước đơn nhất, nhưng khi xảy ra oan, sai, người dân lại phải xác định xem cơ quan nào là cơ quan có trách nhiệm bồi thường để đi đòi bồi thường có hợp lý hay không, trong khi tố tụng hình sự là hoạt động với nhiều giai đoạn hết sức phức tạp, đặc biệt trên thực tế xảy ra rất nhiều vụ việc theo kiểu “án tại hồ sơ” thì rất khó xác định trách nhiệm của từng cơ quan trong việc xảy ra oan, sai.

2.2. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự chưa phù hợp

Theo quy định tại khoản 5 Điều 31 Hiến pháp năm 2013: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự”. Trong khi đó, phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự tại Điều 26 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chưa quy định trường hợp này. Do vậy, với quy định như pháp luật hiện hành, thì phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự bị thu hẹp hơn so với Hiến pháp năm 2013, không bảo đảm được mục tiêu bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Trên thực tế, thời gian qua, việc bắt người trong hoạt động tố tụng hình sự còn có nhiều sai sót, trong ba năm (từ 01/10/2011 đến 30/9/2014) cơ quan điều tra đã thực hiện việc bắt, tạm giữ hình sự đối với 4.998 trường hợp, nhưng sau đó phải chuyển xử lý hành chính. Viện kiểm sát các cấp đã không phê chuẩn 861 người bị bắt khẩn cấp. Riêng năm 2014 Viện kiểm sát các cấp đã không phê chuẩn 109 lệnh bắt khẩn cấp[6]. Như vậy, rất nhiều trường hợp người bị bắt trái pháp luật nhưng không được xem xét bồi thường, quyền lợi không được bảo đảm vì không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Hiện nay, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã ghi nhận pháp nhân là chủ thể của một số tội phạm và Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đã có quy định về thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân (Chương XXIX). Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 31 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 cũng mới chỉ quy định nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại là cá nhân trong tố tụng hình sự mà chưa quy định đối với pháp nhân bị thiệt hại do bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan, sai. Và theo quy định tại Điều 26 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự cũng chỉ quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân người bị thiệt mà chưa quy định đối với pháp nhân.

2.3. Quy định về thẩm quyền giải quyết bồi thường của Tòa án chưa phù hợp

Khoản 1 Điều 23 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định: “Toà án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường là Toà án nhân dân cấp huyện nơi cá nhân bị thiệt hại cư trú, làm việc, nơi tổ chức bị thiệt hại đặt trụ sở, nơi thiệt hại xảy ra theo sự lựa chọn của người bị thiệt hại hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự”. Trên thực tế, trong hoạt động tố tụng hình sự đã xảy ra những trường hợp, Tòa án nhân dân cấp huyện xét xử vụ việc bồi thường đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh[7] và nếu trong trường hợp bản án sơ thẩm bị kháng cáo thì Tòa án xử phúc thẩm lại chính là Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Theo quy định của Hiến pháp, của pháp luật tố tụng, hoạt động xét xử của Tòa án theo nguyên tắc Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế Tòa cấp trên, cấp dưới cũng bị ảnh hưởng bởi công tác tổ chức, hay việc xét xử vụ việc bồi thường đối với chính Tòa mình thì cũng khó bảo đảm được tính khách quan.

Ngoài ra, theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đối với các vụ việc có yếu tố nước ngoài thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới có thẩm quyền giải quyết. Như vậy, nếu vụ việc yêu cầu bồi thường có yếu tố nước ngoài thì Tòa án huyện là Tòa án có thẩm quyền giải quyết bồi thường là không phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

2.4. Quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường chưa hợp lý

Tại khoản 1 Điều 5 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định: “Thời hiệu yêu cầu bồi thường là 02 năm, kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật hoặc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường quy định…”. Quy định này không hợp lý theo nguyên tắc tính thời hiệu thông thường và dễ gây bất lợi cho người bị thiệt hại, vì trên thực tế có trường hợp bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường đã được ban hành nhưng người bị thiệt hại chưa hoặc không nhận được văn bản đó; đến khi họ có được văn bản này thì có thể đã hết thời hiệu yêu cầu giải quyết bồi thường.

2.5. Chưa có quy định cụ thể về việc xin lỗi, cải chính công khai

Điều 51 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định về việc khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự, tuy nhiên, chưa quy định cụ thể về trình tự, cách thức tiến hành xin lỗi, cải chính công khai. Vì vậy, có những trường hợp trên thực tế, người bị oan cũng như thân nhân của của họ chưa thực sự thỏa mãn với việc được xin lỗi[8]. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành, cụ thể trong lĩnh vực tố tụng hình sự là Tông tư liên tịch số 05/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BQP_BTC-BNN&PTNT ngày 02/11/2012 hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước không có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, hình thức và thành phần tham dự, chương trình của việc tổ chức xin lỗi công khai. Cũng chính vì chưa có quy định cụ thể như vậy dẫn tới tình trạng trên thực tế không có sự thống nhất giữa các buổi xin lỗi, mỗi buổi xin lỗi lại được thực hiện khác nhau, nhiều trường hợp được thực hiện qua loa, chiếu lệ gây bức xúc trong dư luận xã hội.

2.6. Quy định về thời hạn thực hiện thủ tục bồi thường còn chưa khả thi

Quy định của pháp luật về thủ tục thương lượng, thời hạn giải quyết bồi thường, chi trả tiền bồi thường còn chưa hợp lý, gây khó khăn cho hoạt động giải quyết bồi thường; chưa có quy định đặc thù về trình tự, thủ tục rút gọn để giải quyết bồi thường cho các trường hợp bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự.

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định thời hạn xác minh thiệt hại là 20 ngày, trường hợp phức tạp thì thời hạn xác minh là 40 ngày[9]. Tuy nhiên, hầu hết các vụ việc yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng thường có nhiều tình tiết phức tạp, thời gian xảy ra lâu, xác minh tại nhiều nơi, nhiều cơ quan; thậm trí trong một số trường hợp cần thiết phải tiến hành các thủ tục giám định và định giá tài sản… dẫn tới, thời hạn xác minh không bảo đảm được theo quy định của pháp luật.

Quy định về việc lập dự toán, quản lý và cấp phát kinh phí bồi thường theo hai cấp (trung ương và địa phương), quy trình thẩm định cấp kinh phí, chi trả tiền bồi thường còn phức tạp, nảy sinh nhiều bất cập, làm việc bồi thường kéo dài, ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị oan.

2.7. Quy định về trách nhiệm hoàn trả và xử lý kỷ luật chưa được cụ thể, chặt chẽ, chưa đủ sức răn đe

Quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về trách nhiệm hoàn trả và trách nhiệm kỷ luật đối với người thi hành công vụ, cũng như trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan trong hoạt động tố tụng hình sự còn chưa được cụ thể, chặt chẽ, dẫn tới việc xem xét trách nhiệm hoàn trả, xử lý kỷ luật trên thực tế chưa được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ. Mức hoàn trả theo quy định của pháp luật cũng chưa đủ sức răn đe đối với người thi hành công vụ, để từ đó góp phần nâng cao trách nhiệm công vụ, hạn chế việc phát sinh bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự.

3. Những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật trong thời gian tới

- Quy định về cơ quan giải quyết bồi thường theo hướng tập trung, có cơ quan chuyên trách giải quyết bồi thường, độc lập với cơ quan đã gây ra oan, sai;

- Bổ sung vào phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự đối với trường hợp bị bắt trái pháp luật, bổ sung thêm trường hợp bồi thường đối với pháp nhân thương mại bị điều tra, truy tố, xét xử oan, sai;

- Quy định lại về thẩm quyền giải quyết bồi thường của Tòa án cho phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Quy định về thời điểm tính thời hiệu yêu cầu bồi thường là kể từ ngày người bị oan nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường;

- Quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, hình thức, thành phần tổ chức xin lỗi, cải chính công khai đối với người bị oan;

- Quy định thủ tục giải quyết bồi thường rút gọn đối với một số trường hợp bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự;

- Xem xét quy định về trách nhiệm hoàn trả, xử lý kỷ luật của người thi hành công vụ cho hợp lý.

Đào Thị Hải Yến

Cục Bồi thường nhà nước


[1] Báo cáo số 181/BC-BTP ngày 15/7/2016 của Bộ Tư pháp báo cáo tổng kết 06 năm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

[2] Vụ việc của ông Phan Văn Lá khiếu nại về việc Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An không thụ lý đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với việc Ông Lá bị khởi tố, bắt tạm giam và xét xử về “Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa” (theo quy định tại Điều 138 Bộ Luật Hình sự năm 1985); Vụ việc của ông Nguyễn Khắc Công, Yên Cường, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định yêu cầu bồi thường đối với việc bị truy tố về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, sau đó vụ án bị đình chỉ điều tra do không đủ căn cứ truy tố bị can.

[3] Vụ việc của ông Nguyễn Thanh Chấn tại tỉnh Bắc Giang yêu cầu Tòa án nhân dân tối cao bồi thường sau 10 năm bị tù oan.

[4] Theo Báo cáo số 347/BC-BTP ngày 12/12/2014 của Bộ Tư pháp báo cáo tình hình thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cho người bị oan, sai trong hoạt động tố tụng hình sự.

[5] Điển hình như vụ việc của ông Lương Ngọc Phi, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

[6] Báo cáo số 870/BC-UBTVQH13 ngày 20/5/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về kết quả giám sát về “Tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật”.

[7] Vụ việc của ông Lương Ngọc Phi, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình và vụ việc của anh Trần Hồng Nguyên, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

[8] Vụ việc của ông Huỳnh Văn Nén, tỉnh Bình Thuận.

[9] Điều 18 khoản 1 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: