Thứ ba 18/08/2026 09:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tích cực triển khai chế định thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Sau khi Nghệ An được Bộ Tư pháp lựa chọn, phê duyệt là 01 trong 13 tỉnh thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Nghệ An đã chỉ đạo Sở Tư pháp, cơ quan trực tiếp tham mưu cho UBND tỉnh quản lý Nhà nước về chế định Thừa phát lại, phối hợp với các ngành có liên quan triển khai các nhiệm vụ. Theo đó, ngày 01/03/2014

Sở Tư pháp tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 702/QĐ-UBND kế hoạch triển khai Đề án “Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại” trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Ngày 22/3/2014, UBND tỉnh Nghệ An ban hành Quyết định số 1051/QĐ-UBND cho phép thành lập Văn phòng Thừa phát lại TP Vinh, có trụ sở tại số 15B, đường Hà Huy Tập, TP Vinh, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp với hình thức công ty hợp danh, trên cơ sở đề nghị thành lập Văn phòng Thừa phát lại. Nhờ đó, bước đầu đã tạo được sự đồng thuận, quyết tâm của các cơ quan có trách nhiệm trực tiếp triển khai thí điểm và nâng cao nhận thức của người dân đối với chế định này. Bài viết dưới đây đã nêu nên những kết quả bước đầu, những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Nghệ An, những nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới nhằm đưa Thừa phát lại ngày một phát triển, đi sâu vào đời sống của người dân hơn.

1. Những kết quả bước đầu

Nghệ An được Bộ Tư pháp lựa chọn là một trong 13 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại. Để triển khai thực hiện, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã kịp thời chỉ đạo quán triệt, tuyên truyền chủ trương của Đảng, nghị quyết của Quốc hội và các quy định của Chính phủ về việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại địa phương. Nhờ đó, bước đầu đã tạo được sự đồng thuận, quyết tâm của các cơ quan có trách nhiệm trực tiếp triển khai thí điểm và nâng cao nhận thức của người dân đối với chế định này.

Để tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại, nhiều giải pháp đồng bộ đã được đặt ra. Trước hết là đẩy mạnh công tác tuyên truyền với nhiều hình thức đa dạng. Trên cơ sở kế hoạch truyền thông, phổ biến về chế định Thừa phát lại của Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Tư pháp - cơ quan được giao nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các sở, ngành có liên quan tiến hành nhiều hình thức tuyên truyền như: Tổ chức hội nghị tập huấn nghiệp vụ Thừa phát lại và các văn bản pháp luật có liên quan cho các cá nhân, tổ chức, đơn vị; phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Nghệ An, Báo Công an Nghệ An lồng ghép, xây dựng các chương trình, tin bài để thông tin, giới thiệu về vị trí, vai trò, ý nghĩa, tác động của chế định Thừa phát lại và việc triển khai thí điểm chế định này trên phạm vi toàn tỉnh; viết các tin bài trên các số Tập san Pháp luật và Đời sống (với số lượng gần 20.000 cuốn) và trên các báo địa phương thuộc quản lý của Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã; biên soạn và phát hành tờ gấp tìm hiểu về chế định Thừa phát lại với số lượng hơn 11.000 bản để cung cấp cho các huyện, thành phố, thị xã, các Văn phòng Thừa phát lại nhằm truyền thông, phổ biến cho cán bộ, nhân dân; phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Nghệ An xây dựng phóng sự với thời lượng 15 - 20 phút mỗi phóng sự để phản ánh một số kết quả thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh; mở chuyên trang về Thừa phát lại trên Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh, thường xuyên cập nhật các văn bản pháp luật và hoạt động liên quan để làm kênh thông tin chính thống, toàn diện về việc thí điểm chế định Thừa phát lại.

Cùng với việc đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức các cuộc họp Ban Chỉ đạo Đề án tỉnh Nghệ An, có sự tham gia của các Văn phòng Thừa phát lại và các cơ quan, đơn vị có liên quan, nhằm kịp thời phát hiện các khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện, từ đó đề xuất, hướng dẫn, chỉ đạo các giải pháp tháo gỡ.

Để nâng cao năng lực quản lý, phương pháp thực hiện thí điểm Thừa phát lại tại địa phương, Ban Chỉ đạo và Văn phòng Thừa phát lại đã có chuyến đi học tập kinh nghiệm triển khai thí điểm chế định Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh - địa phương đi đầu, thực hiện khá tốt, có hiệu quả việc thí điểm.

Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở, ban, ngành có liên quan thường xuyên có văn bản yêu cầu các Văn phòng Thừa phát lại cung cấp thông tin, báo cáo tình hình triển khai thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại, phản ánh những khó khăn, vướng mắc và đề xuất những giải pháp tháo gỡ.

Ngoài ra, việc thành lập và đăng ký hoạt động cho 02 Văn phòng Thừa phát lại thành phố Vinh và Kim Tiến Tây bắc Nghệ An (huyện Diễn Châu) đã đúng lộ trình theo Đề án và Kế hoạch đã đề ra. Đến hết năm 2015, 02 Văn phòng Thừa phát lại đã tống đạt 25.794 văn bản, thu được hơn 2 tỷ đồng; lập 60 vi bằng, thu được 69,5 triệu đồng; xác minh điều kiện thi hành án được 16 vụ việc, thu được 89 triệu đồng và tổ chức thi hành án được 13 vụ việc, thu hơn 401 triệu đồng; trong 06 tháng đầu năm 2016, các Văn phòng Thừa phát lại đã đăng ký 12 vi bằng (chỉ bằng 1/3 so với năm 2015), thu được 24 triệu đồng.

Tại hội nghị tổng kết 02 năm triển khai thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại Nghệ An, Ủy ban nhân dân đánh giá cao sự tham mưu tích cực của các ngành có liên quan trong tổ chức triển khai thực hiện; hiệu quả hoạt động Thừa phát lại bước đầu cho thấy, đây là chủ trương về xã hội hóa một số hoạt động tư pháp được ghi trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân về một chủ trương mới của Đảng, Nhà nước, tạo cơ chế để người dân tăng cường tính chủ động, tích cực trong các quan hệ dân sự, hành chính. Trong đó, việc lập vi bằng của Thừa phát lại được người dân đón nhận hết sức tích cực vì đã tạo thêm một công cụ pháp lý để người dân tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong thực hiện các giao dịch dân sự và trong các quá trình tố tụng tư pháp. Hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại bên cạnh các cơ quan thi hành án của Nhà nước đã tạo điều kiện để người dân có thêm sự lựa chọn phù hợp với năng lực, điều kiện của cá nhân khi yêu cầu thi hành án dân sự.

2. Những khó khăn, vướng mắc

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại trong thời gian qua vẫn còn tồn tại những khó khăn, vướng mắc. Do chế định Thừa phát lại đang trong thời gian thí điểm nên mô hình tổ chức, hoạt động, phạm vi công việc và các cơ chế, điều kiện hoạt động chưa được quy định cụ thể. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền còn hạn chế nên một số cấp ủy, chính quyền, các ngành, cán bộ và nhân dân chưa hiểu và nhận thức đúng chủ trương của Đảng, Nhà nước về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của chế định Thừa phát lại, do vậy, còn nhiều hạn chế trong phối hợp, tổ chức thực hiện.

Ngoài ra, sự phối hợp của một số ngành liên quan chưa đồng bộ, chưa chỉ đạo tích cực các đơn vị cấp dưới thực hiện nghiêm túc việc bàn giao văn bản tống đạt, chậm hoặc không bàn giao, gây khó khăn cho các Văn phòng Thừa phát lại. Một số đơn vị không chỉ đạo các ban, ngành có liên quan phối hợp với các Văn phòng Thừa phát lại khi thực hiện.

Hơn nữa, đội ngũ Thừa phát lại và nhân viên Văn phòng Thừa phát lại còn mỏng, năng lực, trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng nghề nghiệp còn hạn chế; còn thiếu nguồn Thừa phát lại để thành lập thêm Văn phòng Thừa phát lại theo Kế hoạch đã đề ra.

Trong tổ chức thực hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn do kinh phí phục vụ triển khai chế định Thừa phát lại còn hạn chế, đặc biệt là nguồn kinh phí cho công tác truyền thông, phổ biến chế định Thừa phát lại. Chương trình bồi dưỡng, đào tạo Thừa phát lại và thư ký Thừa phát lại chưa thực sự hiệu quả, thời gian đào tạo ngắn nên kỹ năng và nghiệp vụ hoạt động của Thừa phát lại chưa cao.

Sau khi có Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về thực hiện chế định Thừa phát lại, chế định Thừa phát lại đã chính thức được thực hiện trên địa bàn cả nước; công tác quản lý nhà nước về Thừa Phát lại được chuyển giao từ Tổng cục Thi hành án dân sự sang Cục Bổ trợ tư pháp quản lý nên một số nội dung chưa có quy định cụ thể, nhất là nguồn kinh phí thực hiện việc tống đạt chưa được cấp dẫn đến khó khăn cho các Văn phòng Thừa Phát lại khi thực hiện công việc.

3. Một số nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới

Để thực hiện tốt Nghị quyết số 107/2015/QH13, Quyết định số 101/QĐ-TTg ngày 14/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13, vừa qua, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã ban hành Chỉ thị số 08/CT-UBND và Quyết định số 1148/QĐ-UBND ngày 21/3/2016 ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị Quyết số 107/2015/QH13 trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Trong đó, yêu cầu các sở, ban, ngành có liên quan, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã thực hiện có hiệu quả một số nội dung như:

Một là, tập trung tuyên truyền chế định Thừa phát lại cho cán bộ, công chức và người dân hiểu về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Thừa phát lại, vai trò, sự cần thiết của chế định Thừa phát lại.



Hai là, giao nhiệm vụ cụ thể cho các ngành, các cấp trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ tham mưu trực tiếp như:

- Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với các ngành chức năng tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác Thừa phát lại, tổ chức việc thanh tra, kiểm tra hoạt động Thừa phát lại;

- Cục Thi hành án dân sự tỉnh chỉ đạo các cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi thực hiện chế định Thừa phát lại chuyển giao các văn bản cho các Văn phòng Thừa phát lại thực hiện tống đạt, phối hợp hỗ trợ Văn phòng Thừa phát lại trong việc tổ chức thi hành án dân sự;

- Các ngành có liên quan như: Công an tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Nghệ An, cơ quan thuế, bảo hiểm xã hội, hải quan… phối hợp, hỗ trợ Thừa phát lại thực hiện các nhiệm vụ trong quyền hạn của mình theo quy định;

- Sở Thông tin và Truyền thông, Đài Phát Thanh - Truyền hình tỉnh và Báo Nghệ An phối hợp với Sở Tư pháp tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền về chế định Thừa phát lại;

- Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã tuyên truyền về Thừa phát lại trên trang thông tin điện tử của huyện, thành phố, thị xã; phối hợp với Sở Tư pháp và chỉ đạo các cơ quan, tổ chức tăng cường công tác tuyên truyền về Thừa phát lại; chỉ đạo Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn, các văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng và các cơ quan chuyên môn phối hợp, hỗ trợ cho Thừa phát lại thực hiện công việc về thi hành án dân sự theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan;

- Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh chỉ đạo các Tòa án nhân dân cấp huyện chuyển giao việc tống đạt văn bản cho Thừa phát lại thực hiện; thông tin cho Sở Tư pháp việc thực hiện các công việc về tống đạt văn bản, thi hành án dân sự, số lượng và chất lượng của vi bằng được sử dụng làm chứng cứ trong xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh và Tòa án nhân dân huyện, thành phố, thị xã; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh tăng cường công tác giám sát việc triển khai thực hiện các hoạt động của Thừa phát lại.

Trên cơ sở Chỉ thị, Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh, các ngành, các cấp sẽ có những giải pháp và sự phối hợp đồng bộ để tổ chức thực hiện có hiệu quả chế định Thừa phát lại trên địa bàn.

Nguyễn Quế Anh

Sở Tư pháp Nghệ An

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: