Thứ hai 27/07/2026 21:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tồn tại, vướng mắc trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 18/6/2009 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010. Luật quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án.

Không thể phủ nhận các quy định ngày càng hoàn thiện so với các văn bản pháp luật quy định trước, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ra đời góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước ta trong thời kỳ mới, thể hiện rõ trách nhiệm của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại; các quy định tương đối rõ ràng, cụ thể và đầy đủ, tạo sự ổn định xã hội, thúc đẩy phát triển của Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN. Tuy nhiên, sau gần 5 năm đi vào cuộc sống, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã bộc lộ những tồn tại, vướng mắc cần phải xem xét sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn. Dưới đây là những vấn đề hết sức cơ bản được tác giả nêu và phân tích một cách ngắn gọn nhất.

1. Một số tồn tại, vướng mắc cơ bản trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Một là, về phạm vi điều chỉnh

Tại Điều 1 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định về phạm vi điều chỉnh trong đó ghi rõ đối tượng được bồi thường là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án. Như vậy, có thể thấy việc quy định này của luật được ghi rõ đối tượng là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại. Tuy nhiên lại không quy định rõ đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài thì được điều chỉnh ra sao và việc bồi thường thực hiện như thế nào. Điều này đòi hỏi luật cần có sự quy định cụ thể, rõ ràng hơn. Hơn nữa, trên thực tế cuộc sống còn có nhiều trường hợp khác mà Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chưa đề cập tới trong đối tượng là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại;

Về Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước bao gồm: Lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng (tố tụng hình sự, dân sự, hành chính) và thi hành án (thi hành án hình sự, dân sự). Mặc dù, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã quy định rõ phạm vi thuộc trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nhưng thực tiễn còn nhiều trường hợp khác đặt ra không được bồi thường mặc dù cũng bị thiệt hại như: Việc giữa cơ quan Nhà nước ký hợp đồng với cá nhân, tổ chức mà gây thiệt hại; những trường hợp các công trình xây dựng hoặc biến cố khác của cơ quan Nhà nước mà gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức (các công trình đang xây dựng do sập bê tông vào người đi đường, chết đuối do rơi vào hố đang thi công ...). Có thể thấy đây là một vài trường hợp trong rất nhiều trường hợp ngoài phạm vi quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được ghi nhận trong Luật. Luật pháp luôn phản ánh và điều chỉnh các quan hệ xã hội và là công cụ quản lý của Nhà nước, do vậy sẽ lạc hậu hơn so với sự phát triển của xã hội, điều này đòi hỏi cần chỉnh sửa để ngày một hoàn thiện hơn trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phục vụ sự quản lý phát triển của Nhà nước.

Hai là, về căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường

Đây là vấn đề cực kỳ quan trọng và có thể coi là yếu tố mấu chốt trong việc yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại. Song để có được căn cứ yêu cầu bồi thường là cả vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp đối với người bị thiệt hại.

Điều 6 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định việc xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án phải có các căn cứ sau:

+ Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại các Điều 13, 28, 38 và 39 của Luật này;

+ Có thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra đối với người bị thiệt hại.

Việc xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự phải có các căn cứ sau:

+ Có bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc các trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 của Luật này;

+ Có thiệt hại thực tế do người tiến hành tố tụng hình sự gây ra đối với người bị thiệt hại.

Như vậy, căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước bắt buộc phải có hai điều kiện là có văn bản của cơ quan Nhà nước trong đó xác định rõ hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật hoặc bản án, quyết định trong tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại được bồi thường và điều kiện thứ hai là phải có thiệt hại thực tế xẩy ra. Đây là một quy định rất khó khăn trong thực tế thi hành Luật, đặc biệt đối với người bị thiệt hại, bởi trong mối quan hệ bồi thường này là quan hệ bất bình đẳng giữa một bên là Nhà nước và một bên là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại. Để có văn bản xác định hành vi sai trái của người thi hành công vụ là cả một vấn đề, thậm chí các cơ quan còn né tránh không ra văn bản hoặc có ban hành văn bản thì mang tính chất nội dung chung chung mà không ghi nhận sự sai trái đó. Điều 9 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định rằng người bị thiệt hại có nghĩa vụ chứng minh về thiệt hại thực tế đã xảy ra. Việc chứng minh có thiệt hại thực tế xảy ra cũng là một vấn đề khó khăn, bởi người bị thiệt hại là cá nhân, tổ chức nhưng không có công cụ gì trong tay mà chứng minh là có thiệt hại thực tế xảy ra. Để thuận lợi cho yêu cầu của người bị thiệt hại, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cần nghiên cứu và hoàn thiện quy định này, tạo điều kiện thuận lợi trong thủ tục yêu cầu bồi thường.

Ba là, về thủ tục giải quyết bồi thường

Điều 19, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mặc dù đã có những quy định cụ thể, giản tiện trong thủ tục giải quyết bồi thường nhằm đạt hiệu quả và nhanh gọn như cử người đại diện có thẩm quyền của cơ quan có trách nhiệm bồi thường trực tiếp thương lượng, giải quyết. Việc giải quyết bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường là thủ tục bắt buộc. Sau khi thụ lý đơn và xác minh yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường tổ chức thương lượng và việc thương lượng phải được lập thành biên bản, kết quả thương lượng là cơ sở để quyết định việc bồi thường. Ngoài mặt tích cực ra, thì yêu cầu bắt buộc này tồn tại một số hạn chế như: Kéo dài thời gian giải quyết; người bị thiệt hại nhiều khi đã mất lòng tin đối với cơ quan có trách nhiệm bồi thường, nhưng lại không có sự lựa chọn nào khác mà phải chờ thủ tục thương lượng xong mới được khởi kiện ra Tòa án; hạn chế quyền yêu cầu thuận lợi của người bị thiệt hại trong việc giải quyết yêu cầu bồi thường.

Thực tế trong hoạt động tố tụng, sau khi có Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, thì dường như hoạt động này có phần được chặt chẽ hơn trong khâu thủ tục giải quyết, song cũng hạn chế nhiều đối với những người tiến hành tố tụng khi thực thi và áp dụng pháp luật. Trong tố tụng hình sự thì người được miễn trách nhiệm hình sự không được bồi thường thiệt hại (Điều 27 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước) nhưng việc miễn trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 25 Bộ luật Hình sự cũng có nhiều nội dung chưa đồng thuận và để tránh phải bồi thường, thì đây có thể là kẽ hở để các cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng.

Tương tự trong tố tụng dân sự và hành chính nếu người tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có hành vi trái pháp luật gây ra, thì Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Điều này đồng nghĩa với việc nhiều vụ án hành chính, dân sự không được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ gây hậu quả khó lường và phức tạp khi giải quyết vụ án về sau bởi người tiến hành tố tụng muốn sự an toàn mà không sử dụng kịp thời biện pháp ngăn chặn.

2. Một số đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Thứ nhất, về phạm vi, đối tượng được bồi thường

Cần rà soát, nghiên cứu và bổ sung đối tượng, phạm vi được bồi thường. Như đặt vấn đề tại mục 1, thì cứ những cá nhân, tổ chức bị thiệt hại trong phạm vi quy định của Luật mới được bồi thường, vậy đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài thì sao? Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, cần có quy định rõ hơn, đồng thời hoàn thiện trong việc hợp tác quốc tế đối với hoạt động trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Ngoài phạm vi trong ba lĩnh vực là quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án thì cần mở rộng hơn, đặc biệt là những trường hợp thực tiễn xảy ra nhiều hoặc trường hợp cơ quan Nhà nước ký hợp đồng mà gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân hoặc ban hành văn bản pháp luật sai trái gây thiệt hại…

Thứ hai, căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường

Cũng như nêu ở Mục 1, căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường cần phải có đủ hai điều kiện là văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ và chứng minh có thiệt hại thực tế xảy ra. Việc yêu cầu ra văn bản của cơ quan Nhà nước đã khó, trong đó có nội dung thừa nhận sai trái lại càng khó khăn hơn, bên cạnh đó rất nhiều cơ quan trốn tránh trách nhiệm không ra văn bản hoặc loanh quanh, văn bản không đúng quy định nên không thể yêu cầu bồi thường. Việc chứng minh thiệt hại thực tế xảy ra cũng là một vấn đề rất khó, người yêu cầu bồi thường thiệt hại không có công cụ, phương tiện thậm chí không có điều kiện thì việc chứng minh là cự ký khó, thậm chí là không thể như vấn đề ô nhiễm môi trường là một ví dụ. Vấn đề này có thể khắc phục, sửa đổi, bổ sung bằng cách có thể dùng các văn bản hoặc tài liệu, chứng cứ khác để so sánh, chứng minh việc sai trái của người thi hành công vụ trong cơ quan có thẩm quyền gây thiệt hại mà không nhất thiết phải chờ văn bản nhận sai của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đó.

Bên cạnh đó trên thực tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự, hành chính và dân sự như phần đầu đã đề cập, các cơ quan tiến hành tố tụng có thể chọn một phương án rất an toàn để tránh việc bồi thường, lợi dụng sự chưa hoàn thiện của hệ thống luật pháp như miễn trách nhiệm hình sự hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời… Lĩnh vực này cần quy định một cách cụ thể, rõ ràng, hạn chế việc né tránh hoăc áp dụng pháp luật một cách không phù hợp sẽ ảnh hưởng tới quyền lợi của người dân.

Thứ ba, thủ tục giải quyết trách nhiệm bồi thường

Từ đối tượng, phạm vi đến căn cứ xác định bồi thường là cả một vấn đề, thậm chí người yêu cầu bồi thường mất rất nhiều thời gian, công sức để tiếp cận với đầy đủ thủ tục để yêu cầu bồi thường nhưng lại không được chọn một phương pháp tối ưu nhanh, gọn, đỡ tốn kém để được giải quyết mà bắt buộc phải thương lượng với cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Vốn đã là không bình đẳng trong quan hệ yêu cầu bồi thường lại có nhiều điểm bất lợi song cá nhân, tổ chức vẫn phải ngồi vào bàn thương lượng với cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Điều này có thể nghiên cứu sửa đổi để cá nhân, tổ chức yêu cầu bồi thường có thể chọn phương án tốt hơn để yêu cầu bồi thường.

Ngoài ra vấn đề về trách nhiệm hoàn trả cũng cần có sự nghiên cứu và sửa đổi, bổ sung phù hợp, rõ hơn để người thi hành công vụ đủ tự tin, yên tâm khi làm việc đồng thời có trách nhiệm cao hơn trong thực thi công vụ./.

ThS. Luật sư Lê Đăng Tùng

VP luật sư Trường Giang, Đoàn luật sư TP. Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: