Thứ năm 25/06/2026 02:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trao đổi về vấn đề xử lý vật chứng, tài sản trong thi hành án dân sự

Hoạt động nghiệp vụ thi hành án dân sự là lĩnh vực tương đối rộng, liên quan đến hầu hết các ngành luật như: Luật dân sự, kinh tế, lao động, hành chính, hôn nhân và gia đình, đất đai và nhiều ngành luật khác.

Hoạt động nghiệp vụ thi hành án dân sự là lĩnh vực tương đối rộng, liên quan đến hầu hết các ngành luật như: Luật dân sự, kinh tế, lao động, hành chính, hôn nhân và gia đình, đất đai và nhiều ngành luật khác. Để thực hiện tốt công tác thi hành án dân sự, đòi hỏi chấp hành viên, công chức thi hành án dân sự, ngoài việc nắm chắc các quy định của Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn, còn phải có nhận thức sâu sắc đối với các ngành, lĩnh vực có liên quan; có kiến thức xã hội sâu rộng, kỹ năng và uy tín trong việc hòa giải, thuyết phục người được thi hành án, người phải thi hành án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án, có khả năng giao tiếp, ứng xử nhanh đối với các tình tiết phát sinh trong quá trình thực thi công vụ. Khó khăn, vướng mắc trong hoạt động thi hành án dân sự vẫn còn nhiều, một số vấn đề các chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự địa phương có thể tìm cách hạn chế hoặc khắc phục được, tuy nhiên những vướng mắc từ các quy định của pháp luật, muốn khắc phục thì phải đòi hỏi thời gian khá dài vì những vấn đề bất cập từ cơ chế, chính sách, không thể thực hiện ngắn hạn, mặt khác thẩm quyền thuộc về cơ quan ban hành, ngoài khả năng của chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự địa phương; có những vấn đề pháp luật còn quy định chung chung, chưa cụ thể, thậm chí có vấn đề pháp luật chưa quy định, do vậy ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình giải quyết án đối với các cơ quan thi hành án dân sự.

Dưới đây là một số vấn đề còn tranh cãi trong thực tiễn thi hành án dân sự.

1. Vấn đề xử lý vật chứng

Đối với việc xử lý vật chứng của vụ án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án tiến hành xử lý hầu như không có vướng mắc, khó khăn. Song đối với việc xử lý vật chứng của vụ án khi mà bị can chết ở giai đoạn truy tố thì Quyết định đình chỉ vụ án của cơ quan Viện kiểm sát vẫn còn có những ý kiến khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về xử lý vật chứng thì: “Việc xử lý vật chứng do cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Toà án hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử”.

Theo quy định tại Điều 1 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, cơ quan thi hành án dân sự chỉ “thi hành bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Toà án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại”.

Như vậy, nếu bị can chết trong giai đoạn truy tố, việc xử lý vật chứng thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát. Chức năng của cơ quan thi hành án dân sự là thực thi những phán quyết về mặt dân sự của các cơ quan tài phán. Việc chuyển giao quyết định xử lý vật chứng của Viện kiểm sát cho cơ quan thi hành án dân sự để xử lý là không đúng, cơ quan thi hành án dân sự không có căn cứ để ban hành Quyết định thi hành án đối với trường hợp này.

Quan điểm thứ 2 lại cho rằng:

Theo quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ban hành ngày 24/11/2014 thì chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân được quy định tại Điều 2, cụ thể như sau: “1. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; 2. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.

Viện kiểm sát không có chức năng, nhiệm vụ xử lý vật chứng của vụ án, chức năng này thuộc về cơ quan thi hành án dân sự, không phải ngẫu nhiên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vật chứng đã được chuyển sang cơ quan thi hành án dân sự để trông giữ, bảo quản. Mặt khác tại Điều 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định:

1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành đối với phần bản án, quyết định sau đây:

a) Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí;

b) Trả lại tiền, tài sản cho đương sự;

c) Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu huỷ vật chứng, tài sản;

d) Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước;

đ) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Nếu theo quan điểm 2, phải chăng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đang có sự xung đột pháp luật. Theo chức năng, nhiệm vụ của cơ quan thi hành án dân sự thì ngoài việc thực thi phần dân sự trong các bản án, quyết định của cơ quan tài phán, còn phải thực thi các quyết định của cơ quan Viện kiểm sát, thậm chí của cơ quan Công an?

2.Vấn đề xác định vật cùng loại, hay vật đặc định

Xin nêu một trường hợp: Bản án dân sự xét xử việc tranh chấp tài sản giữa A và B. Quyết định của Bản án tuyên A phải trả cho B “một con bò 24 tháng tuổi, màu đen, trên đầu có hình trái tim màu trắng, trị giá 10 triệu đồng”. Bản án có hiệu lực thi hành, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự thụ lý và ra quyết định thi hành án. Trong quá trình thi hành án, chấp hành viên tiến hành xác minh tài sản để tổ chức giao tài sản cho người được thi hành án, tài sản để thi hành án hiện không còn, theo người phải thi hành án cung cấp thông tin thì con bò phải giao cho người được thi hành án đã chết.

Quan điểm của chấp hành viên trực tiếp giải quyết việc thi hành án xác định con bò phải giao cho người được thi hành án là vật đặc định. Theo quy định tại Điều 179 Bộ Luật Dân sự năm 2005 thì: “Vật đặc định là vật phân biệt được với các vật khác bằng những đặc điểm riêng về ký hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí. Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đặc định thì phải giao đúng vật đó”.

Áp dụng điểm d, khoản 1 Điều 51 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự trả đơn yêu cầu thi hành án với lý do vật đặc định không còn. Người được thi hành án không đồng ý với quyết định trả đơn của thủ trưởng cơ quan thi hành án và cho rằng, con bò trả cho người được thi hành án là vật cùng loại vì: “Vật cùng loại là những vật có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng và xác định được bằng những đơn vị đo lường; Vật cùng loại có cùng chất lượng có thể thay thế cho nhau”.

Người phải thi hành án lập luận: Con bò là vật cùng loại vì có cùng hình dáng với những con bò khác, có thể thay thế được. Trong bản án cũng xác định con bò là 12 tháng tuổi, xác định về giá trị là 10 triệu đồng (đây chính là đơn vị đo lường). Do vậy, nếu con bò chết hoặc mất khi người phải thi hành án chưa tiến hành giao trả người được thi hành án, thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự trả đơn yêu cầu thi hành án là không có căn cứ pháp luật. Trong trường hợp này cơ quan thi hành án dân sự phải tiếp tục tổ chức thi hành án.

3. Vấn đề xử lý tài sản giao cho người được thi hành án do người thứ 3 đang quản lý, sử dụng

Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện X, xét xử việc yêu cầu ly hôn giữa anh A và chị B, trong đó có yêu cầu phân chia tài sản chung vợ, chồng.

Trước thời điểm kết hôn với anh A, chị B đã có ngôi nhà 2 tầng, xây dựng trên diện tích 50 m2 , tại thành phố Hà Nội. Năm 2000, anh A kết hôn với chị B; năm 2001, A và B cùng mua một ngôi nhà 3 tầng trên diện tích đất 100 m 2, tại phường N, thành phố Đ, trị giá 1.500.000.000 đồng, đứng tên chị B và một mảnh đất 100 m2 tại phường T, thành phố Đ trị giá 600 triệu đồng, đứng tên chủ sở hữu 2 vợ chồng. Theo chị B cung cấp thông tin trước Tòa, số tiền mua ngôi nhà tại phường N là do chị đã bán ngôi nhà 2 tầng, xây dựng trên diện tích 50 m2 tại thành phố Hà Nội, tài sản do chị tạo lập, có trước khi kết hôn với anh A. Tòa án đã tiến hành xác minh số tiền chị B bán nhà này (thông qua người mua nhà tại thành phố Hà Nội, số tiền chuyển vào tài khoản của người đã bán nhà cho chị B ở phường N là 1.200.000.000 đồng, khớp với thông tin chị B cung cấp trước Tòa, số tiền 300.000.000 đồng còn thiếu, chị B đã vay để trả đủ cho người bán nhà), nhà và đất hiện vẫn đứng tên chủ sở hữu là chị B. Anh A cho rằng tất cả số tài sản trên là tài sản chung vợ, chồng, ngoài ra, còn một số khoản nợ do 2 vợ chồng vay để kinh doanh, tổng giá trị 600 triệu đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm quyết định: Nhà, đất tại phường N, thành phố Đ là tài sản riêng của chị B, giao chị B quản lý sử dụng; 100 m2 đất tại phường T, thành phố Đ trị giá 600 triệu đồng là tài sản chung vợ chồng, tài sản do công sức của 2 vợ chồng cùng tạo lập, mỗi người được hưởng ½ giá trị. Tuy nhiên A và B còn nợ 600 triệu mỗi người có trách nhiệm trả nợ 300 triệu đồng, hiện tại A không có khả năng trả nợ, các khoản nợ đều đến hạn trả, do vậy, chị B đề nghị Tòa rằng chị B có trách nhiệm trả hết các khoản nợ cả 2 người đã vay và được quyền quản lý 100 m2 tại phường T. Yêu cầu của chị B được Tòa chấp thuận và quyết định giao chị B quản lý sử dụng 100 m2 đất tại phường T, chị B có trách nhiệm trả nợ 600 triệu đồng do A và B đã vay kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân.

Anh A không đồng ý với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, kháng cáo lên Tòa án tỉnh đề nghị xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Trong thời gian đó, chị B đã mang Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đến đề nghị công chứng viên, công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng mảnh đất 100 m2 tại phường T cho ông C, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mảnh đất này mang tên ông C.

Bản án phúc thẩm của Tòa án tỉnh cho rằng: Ngôi nhà 3 tầng trên diện tích 100 m2 tại phường N, tỉnh Đ được xác lập quyền sở hữu trong thời kỳ hôn nhân giữa anh A, chị B năm 2001, mặc dù mang tên chị B nhưng là tài sản chung vợ, chồng; mảnh đất 100 m2 tại phường T, thành phố Đ, 2 vợ chồng A và B mua trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung. Do vậy, Tòa quyết định khối tài sản bao gồm: Ngôi nhà 3 tầng xây dựng trên diện tích đất 100 m2 tại phường N và 100 m2 tại phường T, tỉnh Đ là tài sản chung vợ, chồng, mỗi người được hưởng ½ giá trị tài sản; các khoản nợ tổng cộng là 600 triệu, mỗi người có trách nhiệm phải trả 300 triệu đồng. Tuy nhiên khi phân chia tài sản ngôi nhà 3 tầng xây dựng trên diện tích 100 m2 tại phường N, Tòa cũng tính đến công sức đóng góp của người vợ, song chưa tính toán chi tiết đến mức đóng góp cụ thể của từng người là bao nhiêu, để tính toán mức hưởng theo kỷ phần. Mặt khác, mức được hưởng của từng người là khác nhau, Tòa phải chia khối tài sản cho từng người, sau đó trừ đi số nợ từng người phải chịu, nhưng ở đây, Tòa quyết định trừ số nợ của 2 vợ chồng sau đó mới đem chia số còn lại cho từng người (theo lập luận của người phải thi hành án . Theo phán quyết của Bản án phúc thẩm, chị B được giao quản lý sử dụng ngôi nhà 3 tầng, xây dựng trên diện tích 100 m2 đất tại phường N và phải trả toàn bộ số nợ 600 triệu đồng, anh A được toàn quyền quản lý, sử dụng mảnh đất 100 m2, tại phường N, mặc dù mảnh đất đã được chuyển nhượng cho ông C trước thời điểm xét xử bản án phúc thẩm.

Chị B không đồng ý với phán quyết của Tòa án, tiếp tục khiếu kiện, anh A cũng khởi kiện ra Tòa án hành chính yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông C, mà Ủy ban nhân dân cấp huyện đã cấp. Tòa hành chính đã hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông C, song hợp đồng công chứng chuyển quyền sử dụng đất giữa chị B và ông C vẫn chưa được yêu cầu tuyên hủy.

Trong quá trình tổ chức thi hành án, chấp hành viên xác định 100 m2 đất giao cho anh A theo quyết định của bản án phúc thẩm, đã bị chị B bán cho ông C trước thời điểm xét xử phúc thẩm và đã được ông C xây dựng ngôi nhà 2 tầng trên diện tích 100 m2 đó, hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông C đã bị Tòa hành chính cấp sơ thẩm tuyên hủy, nhưng hợp đồng công chứng vẫn đang có hiệu lực, do vậy, chấp hành viên không thể tổ chức cưỡng chế, tháo dỡ giao trả mặt bằng đất cho anh A. Các đương sự và người có quyền lợi liên quan liên tục khiếu kiện quyết định của Bản án và việc tổ chức thi hành án của chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự.

Vấn đề đặt ra trong quá trình xét xử có vi phạm tố tụng không, hay đây là tình tiết mới phát sinh; các cơ quan có thẩm quyền, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án cấp trên xem xét lại bản án theo trình tự thủ tục tái thẩm hay giám đốc thẩm; việc xử lý tài sản để giao cho người được thi hành án do người thứ 3 đang nắm giữ, trong trường hợp này như thế nào?

Để nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả của công tác thi hành án dân sự, giảm bớt những khó khăn, áp lực đối với các chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự, rất mong được sự chia sẻ cùng bạn đọc.

Trần Ngọc Bản

Cục Thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.

Theo dõi chúng tôi trên: