Thứ sáu 23/01/2026 12:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trưng dụng khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản

Bài viết này bàn về vấn đề trưng dụng khu vực biển đã được giao với mục đích để nuôi trồng thủy sản và đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về trưng dụng.


1. Một vài khái niệm

1.1. Trưng dụng tài sản

Khoản 2 Điều 2 Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008 quy định: “Trưng dụng tài sản là việc Nhà nước sử dụng có thời hạn tài sản của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư thông qua quyết định hành chính trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia”. Trên thực tế, trưng dụng tài sản giống như việc thuê một tài sản nào đó trong một khoảng thời gian tương đối ngắn thông qua biện pháp cưỡng chế. Từ quy định của pháp luật, có thể hiểu: (i) Về đối tượng trưng dụng: Theo quy định của Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008 thì chỉ có tài sản mới là đối tượng trưng dụng. Tài sản được trưng dụng đang được tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư sử dụng. Tuy nhiên, kể từ thời điểm trưng dụng, tài sản được trưng dụng do Nhà nước sử dụng; (ii) Về thời gian trưng dụng: Nhà nước trưng dụng không phải là mãi mãi, mà là có thời hạn theo quy định, thường là trong thời gian ngắn; (iii) Về phương thức trưng dụng: Nhà nước muốn trưng dụng tài sản thì phải ban hành quyết định hành chính để thực hiện việc trưng dụng tài sản. Quyết định trưng dụng là mệnh lệnh hành chính, thể hiện sự cưỡng chế nhà nước trong trưng dụng, bắt buộc các chủ thể có liên quan phải tuân theo; (iv) Về phạm vi trưng dụng: Chỉ trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia thì Nhà nước mới có quyền trưng dụng tài sản của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư.

1.2. Trưng dụng khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản

Khoản 2 Điều 45 Luật Thủy sản năm 2017 về trưng dụng khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản quy định: “Nhà nước quyết định trưng dụng khu vực biển trong trường hợp cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng khẩn cấp; sự cố môi trường; phòng, chống thiên tai. Việc trưng dụng khu vực biển thực hiện theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản”. Theo quy định của Luật Thủy sản năm 2017 và pháp luật về giao khu vực biển, Nhà nước giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển, trong đó có mục đích để nuôi trồng thủy sản.

Như vậy, có thể hiểu, trưng dụng khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản là việc Nhà nước sử dụng có thời hạn khu vực biển (đã được giao với mục đích để nuôi trồng thủy sản) của tổ chức, cá nhân thông qua quyết định hành chính trong trường hợp thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng khẩn cấp; sự cố môi trường; phòng, chống thiên tai. Có thể thấy, phạm vi trưng dụng khu vực biển không chỉ vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia như trong quy định về trưng dụng tài sản (Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008) mà còn được mở rộng ra trong trường hợp tình trạng khẩn cấp, sự cố môi trường và phòng chống thiên tai.

2. Một số vấn đề pháp lý đặt ra

2.1. Khu vực biển có phải là tài sản không?

Theo quy định tại Điều 105 Bộ Luật Dân sự năm 2015 thì tài sản bao gồm: “1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. 2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”. Theo quy định tại Điều 107 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tài sản được chia ra làm hai loại là động sản và bất động sản. Bất động sản bao gồm: Đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; tài sản khác theo quy định của pháp luật. Những tài sản không phải là bất động sản thì là động sản.

Có thể thấy, theo các quy định trên thì khu vực biển không được liệt kê là tài sản và hiện nay, cũng chưa có văn bản pháp luật nào quy định khu vực biển là tài sản. Như vậy, khu vực biển không phải là tài sản.

Bên cạnh đó, Điều 23 Luật Trưng dụng, trưng mua tài sản năm 2008 cũng quy định tài sản thuộc đối tượng trưng dụng bao gồm: (i) Nhà, đất và tài sản khác gắn liền với đất; (ii) Máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc và phương tiện kỹ thuật khác. Quy định này cũng đã cho thấy, khu vực biển cũng không phải là đối tượng được trưng dụng theo quy định của Luật này.

Như vậy, theo các quy định của pháp luật hiện hành, khu vực biển chưa được coi là một loại tài sản.

2.2. Thẩm quyền trưng dụng khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản

Khoản 2 Điều 45 Luật Thủy sản năm 2017 quy định: “Việc trưng dụng khu vực biển thực hiện theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản”. Khoản 1 Điều 24 Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008 quy định về thẩm quyền quyết định trưng dụng tài sản như sau: “Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Công thương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quyết định trưng dụng tài sản quy định tại Điều 23 của Luật này”.

Như đã phân tích ở trên, khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản không phải là đối tượng trưng dụng. Do đó, những người có thẩm quyền quyết định trưng dụng tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008 không có thẩm quyền quyết định trưng dụng khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản.

Như vậy, mặc dù Luật Thủy sản năm 2017 đã quy định dẫn chiếu việc trưng dụng khu vực biển được thực hiện theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản, tuy nhiên, khi bàn về thẩm quyền quyết định trưng dụng khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản thì lại có khoảng trống, hay nói cách khác, pháp luật chưa có quy định về người có thẩm quyền quyết định trưng dụng khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản.

3. Đề xuất, kiến nghị

Thứ nhất, cần quy định bổ sung tài sản là khu vực biển vào Bộ luật Dân sự

Điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Theo quy định này, việc bổ sung khu vực biển là tài sản vào Bộ luật Dân sự là phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 và khu vực biển là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, thống nhất quản lý.

Bên cạnh đó, việc quy định khu vực biển là tài sản còn giải quyết được một số khó khăn, vướng mắc khi tổ chức, cá nhân được giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản thực hiện các quyền của mình theo quy định tại Điều 46 Luật Thủy sản năm 2017 về thế chấp, góp vốn giá trị quyền sử dụng khu vực biển, chuyển nhượng, cho thuê quyền sử dụng khu vực biển.

Thứ hai, cần quy định thống nhất về điều kiện trưng dụng

Điều 4 Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008 quy định: “Việc trưng mua, trưng dụng tài sản chỉ được thực hiện trong trường thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia”. Khoản 2 Điều 45 Luật Thủy sản năm 2017 quy định: “Nhà nước quyết định trưng dụng khu vực biển trong trường hợp cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng khẩn cấp; sự cố môi trường; phòng, chống thiên tai”. Khoản 3 Điều 32 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường”.

Các quy định trên có điều kiện trưng dụng không thống nhất. Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008 quy định về điều kiện trưng dụng hẹp hơn so với Hiến pháp năm 2013 và Luật Thủy sản năm 2017. Mặc dù được ban hành sau Hiến pháp năm 2013, nhưng Luật Thủy sản năm 2017 đã mở rộng điều kiện trưng dụng hơn so với Hiến pháp năm 2013. Cụ thể, Luật Thủy sản đã quy định thêm trong cả trường hợp sự cố môi trường cũng có thể thực hiện việc trưng dụng. Vì vậy, tác giả kiến nghị cần quy định thống nhất về điều kiện trưng dụng trong các văn bản luật trên, để tránh việc lạm dụng quyền trưng dụng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện pháp luật một cách tùy tiện, gây phiền hà, khó khăn cho tổ chức, cá nhân.

Thứ ba, cần bổ sung quy định về thẩm quyền quyết định trưng dụng khu vực biển

Như đã phân tích ở trên, những người có thẩm quyền quyết định trưng dụng tài sản lại bị giới hạn bởi danh mục các tài sản được liệt kê theo quy định, và trong danh mục đó không có khu vực biển. Vì vậy, đối với khu vực biển, hiện vẫn chưa có quy định người có thẩm quyền có quyết định trưng dụng. Điều này có nghĩa là, mặc dù có quy định về trưng dụng khu vực biển nhưng quy định này bị vô hiệu quá bởi không có người có thẩm quyền quyết định trưng dụng và chắc chắn không thể thực hiện được trên thực tế. Do đó, việc bổ sung quy định về thẩm quyền quyết định trưng dụng khu vực biển là cần thiết, giúp cho các quy định về trưng dụng khu vực biển được áp dụng trong thực tiễn.

Thứ tư, cần quy định trưng dụng khu vực biển đã được giao để sử dụng các mục đích khác

Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 khẳng định: “Dự báo trong thời gian tới, tình hình quốc tế tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt là sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, tranh chấp chủ quyền ranh giới biển và sự bất đồng giữa các nước tại Biển Đông. Ô nhiễm môi trường xuyên biên giới, biến đổi khí hậu, nước biển dâng đã trở thành vấn đề cấp bách toàn cầu”. Như vậy, có thể khẳng định rằng, vị trí, vai trò của biển nói chung và của khu vực biển nói riêng rất quan trọng đối với kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh. Có thể thấy, trong một số tình huống, việc trưng dụng khu vực biển đã được giao cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển là rất cần thiết trong quản lý nhà nước.

Hiện nay, tổ chức, cá nhân được giao khu vực biển sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như: Nuôi trồng thủy sản, du lịch, nhận chìm, thực hiện dự án điện gió và một số hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển khác. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành mới chỉ có quy định về trưng dụng khu vực biển của tổ chức, cá nhân sử dụng với mục đích nuôi trồng thủy sản, còn đối với các khu vực biển sử dụng vào các mục đích khác thì pháp luật chưa đặt ra vấn đề về trưng dụng. Hay nói cách khác, khu vực biển được giao cho tổ chức, cá nhân mà không sử dụng vào mục đích nuôi trồng thủy sản thì không nằm trong số đối tượng được pháp luật về trưng dụng điều chỉnh nên không trưng dụng được, kể cả trong một số tình huống bất thường và tình trạng khẩn cấp.

Vì vậy, để đảm bảo hiệu quả công tác quản lý nhà nước toàn diện về khu vực biển, tác giả kiến nghị cần quy định mở rộng việc trưng dụng không chỉ đối với khu vực biển đã giao để nuôi trồng thủy sản, mà còn cả đối với các khu vực biển sử dụng vì các mục đích khác. Bởi lẽ, một số tình huống nhất định cần phải trưng dụng khu vực biển để bảo đảm việc bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ và một số mục tiêu khác của Đảng và Nhà nước ta.

ThS. Nguyễn Đình Toàn
Vụ Chính sách và Pháp chế, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: