Thứ năm 15/10/2026 21:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trưng dụng khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản

Bài viết này bàn về vấn đề trưng dụng khu vực biển đã được giao với mục đích để nuôi trồng thủy sản và đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về trưng dụng.


1. Một vài khái niệm

1.1. Trưng dụng tài sản

Khoản 2 Điều 2 Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008 quy định: “Trưng dụng tài sản là việc Nhà nước sử dụng có thời hạn tài sản của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư thông qua quyết định hành chính trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia”. Trên thực tế, trưng dụng tài sản giống như việc thuê một tài sản nào đó trong một khoảng thời gian tương đối ngắn thông qua biện pháp cưỡng chế. Từ quy định của pháp luật, có thể hiểu: (i) Về đối tượng trưng dụng: Theo quy định của Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008 thì chỉ có tài sản mới là đối tượng trưng dụng. Tài sản được trưng dụng đang được tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư sử dụng. Tuy nhiên, kể từ thời điểm trưng dụng, tài sản được trưng dụng do Nhà nước sử dụng; (ii) Về thời gian trưng dụng: Nhà nước trưng dụng không phải là mãi mãi, mà là có thời hạn theo quy định, thường là trong thời gian ngắn; (iii) Về phương thức trưng dụng: Nhà nước muốn trưng dụng tài sản thì phải ban hành quyết định hành chính để thực hiện việc trưng dụng tài sản. Quyết định trưng dụng là mệnh lệnh hành chính, thể hiện sự cưỡng chế nhà nước trong trưng dụng, bắt buộc các chủ thể có liên quan phải tuân theo; (iv) Về phạm vi trưng dụng: Chỉ trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia thì Nhà nước mới có quyền trưng dụng tài sản của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư.

1.2. Trưng dụng khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản

Khoản 2 Điều 45 Luật Thủy sản năm 2017 về trưng dụng khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản quy định: “Nhà nước quyết định trưng dụng khu vực biển trong trường hợp cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng khẩn cấp; sự cố môi trường; phòng, chống thiên tai. Việc trưng dụng khu vực biển thực hiện theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản”. Theo quy định của Luật Thủy sản năm 2017 và pháp luật về giao khu vực biển, Nhà nước giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển, trong đó có mục đích để nuôi trồng thủy sản.

Như vậy, có thể hiểu, trưng dụng khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản là việc Nhà nước sử dụng có thời hạn khu vực biển (đã được giao với mục đích để nuôi trồng thủy sản) của tổ chức, cá nhân thông qua quyết định hành chính trong trường hợp thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng khẩn cấp; sự cố môi trường; phòng, chống thiên tai. Có thể thấy, phạm vi trưng dụng khu vực biển không chỉ vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia như trong quy định về trưng dụng tài sản (Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008) mà còn được mở rộng ra trong trường hợp tình trạng khẩn cấp, sự cố môi trường và phòng chống thiên tai.

2. Một số vấn đề pháp lý đặt ra

2.1. Khu vực biển có phải là tài sản không?

Theo quy định tại Điều 105 Bộ Luật Dân sự năm 2015 thì tài sản bao gồm: “1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. 2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”. Theo quy định tại Điều 107 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tài sản được chia ra làm hai loại là động sản và bất động sản. Bất động sản bao gồm: Đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; tài sản khác theo quy định của pháp luật. Những tài sản không phải là bất động sản thì là động sản.

Có thể thấy, theo các quy định trên thì khu vực biển không được liệt kê là tài sản và hiện nay, cũng chưa có văn bản pháp luật nào quy định khu vực biển là tài sản. Như vậy, khu vực biển không phải là tài sản.

Bên cạnh đó, Điều 23 Luật Trưng dụng, trưng mua tài sản năm 2008 cũng quy định tài sản thuộc đối tượng trưng dụng bao gồm: (i) Nhà, đất và tài sản khác gắn liền với đất; (ii) Máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc và phương tiện kỹ thuật khác. Quy định này cũng đã cho thấy, khu vực biển cũng không phải là đối tượng được trưng dụng theo quy định của Luật này.

Như vậy, theo các quy định của pháp luật hiện hành, khu vực biển chưa được coi là một loại tài sản.

2.2. Thẩm quyền trưng dụng khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản

Khoản 2 Điều 45 Luật Thủy sản năm 2017 quy định: “Việc trưng dụng khu vực biển thực hiện theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản”. Khoản 1 Điều 24 Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008 quy định về thẩm quyền quyết định trưng dụng tài sản như sau: “Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Công thương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quyết định trưng dụng tài sản quy định tại Điều 23 của Luật này”.

Như đã phân tích ở trên, khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản không phải là đối tượng trưng dụng. Do đó, những người có thẩm quyền quyết định trưng dụng tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008 không có thẩm quyền quyết định trưng dụng khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản.

Như vậy, mặc dù Luật Thủy sản năm 2017 đã quy định dẫn chiếu việc trưng dụng khu vực biển được thực hiện theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản, tuy nhiên, khi bàn về thẩm quyền quyết định trưng dụng khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản thì lại có khoảng trống, hay nói cách khác, pháp luật chưa có quy định về người có thẩm quyền quyết định trưng dụng khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản.

3. Đề xuất, kiến nghị

Thứ nhất, cần quy định bổ sung tài sản là khu vực biển vào Bộ luật Dân sự

Điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Theo quy định này, việc bổ sung khu vực biển là tài sản vào Bộ luật Dân sự là phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 và khu vực biển là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, thống nhất quản lý.

Bên cạnh đó, việc quy định khu vực biển là tài sản còn giải quyết được một số khó khăn, vướng mắc khi tổ chức, cá nhân được giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản thực hiện các quyền của mình theo quy định tại Điều 46 Luật Thủy sản năm 2017 về thế chấp, góp vốn giá trị quyền sử dụng khu vực biển, chuyển nhượng, cho thuê quyền sử dụng khu vực biển.

Thứ hai, cần quy định thống nhất về điều kiện trưng dụng

Điều 4 Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008 quy định: “Việc trưng mua, trưng dụng tài sản chỉ được thực hiện trong trường thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia”. Khoản 2 Điều 45 Luật Thủy sản năm 2017 quy định: “Nhà nước quyết định trưng dụng khu vực biển trong trường hợp cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng khẩn cấp; sự cố môi trường; phòng, chống thiên tai”. Khoản 3 Điều 32 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường”.

Các quy định trên có điều kiện trưng dụng không thống nhất. Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008 quy định về điều kiện trưng dụng hẹp hơn so với Hiến pháp năm 2013 và Luật Thủy sản năm 2017. Mặc dù được ban hành sau Hiến pháp năm 2013, nhưng Luật Thủy sản năm 2017 đã mở rộng điều kiện trưng dụng hơn so với Hiến pháp năm 2013. Cụ thể, Luật Thủy sản đã quy định thêm trong cả trường hợp sự cố môi trường cũng có thể thực hiện việc trưng dụng. Vì vậy, tác giả kiến nghị cần quy định thống nhất về điều kiện trưng dụng trong các văn bản luật trên, để tránh việc lạm dụng quyền trưng dụng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện pháp luật một cách tùy tiện, gây phiền hà, khó khăn cho tổ chức, cá nhân.

Thứ ba, cần bổ sung quy định về thẩm quyền quyết định trưng dụng khu vực biển

Như đã phân tích ở trên, những người có thẩm quyền quyết định trưng dụng tài sản lại bị giới hạn bởi danh mục các tài sản được liệt kê theo quy định, và trong danh mục đó không có khu vực biển. Vì vậy, đối với khu vực biển, hiện vẫn chưa có quy định người có thẩm quyền có quyết định trưng dụng. Điều này có nghĩa là, mặc dù có quy định về trưng dụng khu vực biển nhưng quy định này bị vô hiệu quá bởi không có người có thẩm quyền quyết định trưng dụng và chắc chắn không thể thực hiện được trên thực tế. Do đó, việc bổ sung quy định về thẩm quyền quyết định trưng dụng khu vực biển là cần thiết, giúp cho các quy định về trưng dụng khu vực biển được áp dụng trong thực tiễn.

Thứ tư, cần quy định trưng dụng khu vực biển đã được giao để sử dụng các mục đích khác

Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 khẳng định: “Dự báo trong thời gian tới, tình hình quốc tế tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt là sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, tranh chấp chủ quyền ranh giới biển và sự bất đồng giữa các nước tại Biển Đông. Ô nhiễm môi trường xuyên biên giới, biến đổi khí hậu, nước biển dâng đã trở thành vấn đề cấp bách toàn cầu”. Như vậy, có thể khẳng định rằng, vị trí, vai trò của biển nói chung và của khu vực biển nói riêng rất quan trọng đối với kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh. Có thể thấy, trong một số tình huống, việc trưng dụng khu vực biển đã được giao cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển là rất cần thiết trong quản lý nhà nước.

Hiện nay, tổ chức, cá nhân được giao khu vực biển sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như: Nuôi trồng thủy sản, du lịch, nhận chìm, thực hiện dự án điện gió và một số hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển khác. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành mới chỉ có quy định về trưng dụng khu vực biển của tổ chức, cá nhân sử dụng với mục đích nuôi trồng thủy sản, còn đối với các khu vực biển sử dụng vào các mục đích khác thì pháp luật chưa đặt ra vấn đề về trưng dụng. Hay nói cách khác, khu vực biển được giao cho tổ chức, cá nhân mà không sử dụng vào mục đích nuôi trồng thủy sản thì không nằm trong số đối tượng được pháp luật về trưng dụng điều chỉnh nên không trưng dụng được, kể cả trong một số tình huống bất thường và tình trạng khẩn cấp.

Vì vậy, để đảm bảo hiệu quả công tác quản lý nhà nước toàn diện về khu vực biển, tác giả kiến nghị cần quy định mở rộng việc trưng dụng không chỉ đối với khu vực biển đã giao để nuôi trồng thủy sản, mà còn cả đối với các khu vực biển sử dụng vì các mục đích khác. Bởi lẽ, một số tình huống nhất định cần phải trưng dụng khu vực biển để bảo đảm việc bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ và một số mục tiêu khác của Đảng và Nhà nước ta.

ThS. Nguyễn Đình Toàn
Vụ Chính sách và Pháp chế, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: